xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus) - Pdf 24

LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS.
Trần Thị Nắng Thu, người đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu Học viện Nông Nghiệp Việt
Nam cùng với các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản và các
bác, các cô chú ở Trại cá, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo
điều kiện tốt cho em làm đề tài.
Lời cám ơn chân thành nhất em gửi tới gia đình, bạn bè và tập thể lớp
BHTS-K55, những người đã động viên tinh thần và giúp đỡ em trong suốt quá
trình học tập và làm đề tài.
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thu Thương
1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ctv: Cộng tác viên.
CTTA: Công thức thức ăn.
NTTS: Nuôi trồng thuỷ sản.
ĐVTS: Động vật thuỷ sản.
NCNTTS: Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản.
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam.
3
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus) là loài đặc trưng phân bố của

có một nghiên cứu nào xác độ tiêu hóa của bột ngô trong thức ăn cho cá trắm
đen. Nghiên cứu mang tên “Xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm
thức ăn cho cá trắm đen (Mylopharyngondon piceus)” sẽ giúp giải quyết vấn
đề trên. Nghiên cứu này là một phần trong dự án nhằm giải quyết tính cấp thiết
về thức ăn chi phí thấp ở tỉnh Thái Nguyên, nơi đầu tiên ở Trung du và miền núi
phía Bắc triển khai mô hình “Ứng dụng Khoa học Công nghệ nuôi cá trắm đen
(Mylopharyngodon piceus) thương phẩm trong ao”. Kết quả sẽ làm cơ sở xác
định tỷ lệ phối trộn phù hợp của bột ngô trong thức ăn chi phí thấp cho cá trắm
đen.
5
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁ TRẮM ĐEN
2.1.1. Hệ thống phân loại
Giới (Regnum) : Animalia
Ngành (Phylum): Chordata
Lớp (Class): Actinopterygii
Bộ (Ordo): Cypriniformes
Họ (Familia): Cyprinidae
Chi (Genus): Mylopharyngodon
Loài (Species): M. piceus, Richardson,1846
Tên chính thức: Mylopharyngodon pineus (Richardson, 1846).
Hình 2.1: Cá trắm đen (Mylopharyngodon pineus)
2.1.2. Gía trị kinh tế, y học của cá trắm đen
Cá Trắm đen là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon, là loại
thức ăn bổ dưỡng được nhân dân Việt Nam cũng như ở Trung Quốc ưa chuộng.
Người Trung Quốc thường sử dụng cá Trắm đen như một loại thuốc quý (Nico
và ctv. 2005).
6
Thành phần thịt cá Trắm đen chứa 19,5% Protein, 5,2% Lipid, nhiều

bên. Mắt bé hơn so với đầu, khoảng cách 2 ổ mắt rộng. Mõm hơi nhọn, ngắn. Lỗ
mũi hơi lớn, nằm gần mắt hơn so với mõm. Miệng hướng về phía trước hình
móng ngựa. Xương hàm trên và xương hàm dưới bằng nhau. Răng hình cối
nghiền. Rãnh sau môi đứt quãng ở giữa. Màng mang rộng. Lược mang thưa
ngắn.
Vây lưng có khởi điểm ngang bằng với khởi điểm của vây bụng, gần gốc
vây đuôi hơn mút mõm, viền sau bằng hoặc hơi lồi. Các vây đều không có gai
cứng. Vây ngực chưa đạt tới vây bụng. Vây bụng chưa đạt tới vây hậu môn. Vây
đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ bằng nhau. Hậu môn nằm sát gốc vây hậu môn.
Đường bên nằm giữa thân và giữa cán đuôi. Thân cá có vẩy to, xếp chặt
chẽ. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ, chỉ dài bằng 1/4 chiều dài vây bụng. Bụng
tròn, phủ vẩy. Toàn thân có 37 đốt sống. Bóng hơi hai ngăn.
Thân cá và các vây có màu xám đen, lưng có màu đậm hơn bụng.
2.1.5. Đặc điểm sinh sản
Cá trắm đen thành thục sau 3 năm tuổi, cá đẻ trứng trôi nổi. Mùa vụ sinh
sản từ tháng 5 đến tháng 7 hằng năm nhưng đẻ rộ nhất vào tháng 6 và tháng 7.
Đến mùa sinh sản, cá trắm đen thường di cư lên vùng trung lưu của các con sông
tìm nơi có nước chảy mạnh đủ điều kiện đẻ trứng.
2.1.6. Đặc điểm môi trường sống
Cá trắm đen là loài sống ở hạ lưu các sông, các đầm hồ ven sông và đồng
ruộng. Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, rất ít lên mặt nước, sống nhiều ở nơi
nước tĩnh và dòng chảy yếu.
Ngưỡng nhiệt độ thích hợp của cá trắm đen từ 0,5-40
0
C, đôi khi thấy cá
sống ở nước lợ. pH từ 6-10 thích hợp nhất từ 7-8,5, chịu được hàm lượng ôxy
2mg/l.
8
2.1.7. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Trắm đen là loài phàm ăn, khi nhỏ ăn động vật phù du, ấu trùng muỗi,

2005
- - 40-50 Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001)
Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão
(2005)
- 200 70 Nico và ctv. 2005
15+ - - Crosier và Mollo (nguồn từ web)
Tuy nhiên do hạn chế về điều kiện môi trường sống và thức ăn nên cá
Trắm đen nuôi ở ao thường lớn chậm so với cá ở đầm hồ tự nhiên. Cá Trắm đen
thương phẩm cỡ 2,5 kg thường được nuôi từ 2 đến 3 năm (Thái Bá Hồ và Ngô
Trọng Lư, 2004).
2.2. NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÁ TRẮM ĐEN
2.2.1. Nhu cầu protein và axit amin
* Nhu cầu protein
Nhu cầu protein trong thức ăn của các loại cá nước ngọt thường dao động
trong khoảng từ 25-55%, trung bình khoảng 30%. Nhu cầu protein tối ưu của
một loài cá nhất định phụ thuộc vào nguyên liệu chế biến thức ăn, giai đoạn phát
triển của cơ thể và nhiều yếu tố bên ngoài khác (Vũ Duy Giảng, 2007).
Hàm lượng protein cần thiết trong giai đoạn cá trắm đen hương là 41%, cá
2 tuổi là 33% và cá trưởng thành là 28% (Yang Guohua và ctv, 1981).
Nhu cầu protein trong thức ăn của cá trắm đen trong giai đoạn cá hương là
40%, giai đoạn cá giống là 35%, giai đoạn cá thịt là 30% (Leng Xiang-Jun và
Wang Zun, 2003).
* Nhu cầu các axit amin thiết yếu
10
Cá trắm đen cũng giống như các loài cá khác, cần 10 loại axit amin thiết
yếu bao gồm: Lysine (Lys), Tryptophane (Trp), Methionine (Met), Isoleucine
(Iso), Leucine (Leu), Arginine (Arg), Histamine (His), Phenylanine (Phe),
Valine (Val), Threonine (Thr), nhu cầu về lượng axit amin trong thức ăn của cá
trắm đen được trình bày trong bảng 2 dưới đây.
Bảng 2.2. Nhu cầu của cá trắm đen với 10 axit amin trong thức ăn

3n-3
, C
20
H
5n-3
và C
22
H
6n-3
. Khi thiếu chất béo trong thức ăn (không có các tổ
chức mỡ) hoặc không có đủ các axit béo (có cho thêm 5% axit lauraldehyde), cá
11
có các biểu hiện: mắt lồi ra, vảy dựng đứng, thân màu đen, mang xung huyết và
tỷ lệ chết cao (Wang Zun và ctv, 1986).
2.2.3. Nhu cầu năng lượng
Hiện nay, những nghiên cứu liên quan đến nhu cầu về năng lượng của cá
trắm đen không nhiều.
Nghiên cứu sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 35-40% trên đối tượng cá
trắm đen giống đã xác định tỷ lệ năng lượng đạm C/P = 38,2KJ/g (Dai Xiang-
qing và ctv, 1988).
Sử dụng thức ăn tổng hợp tinh chế biến cho cá trắm đen giống đã tìm ra tỷ lệ
năng lượng đạm phù hợp nhất (DE/P) = 41,034 - 49,560KJ/g (Wang Zun, 1992).
2.2.4. Nhu cầu cacbonhydrat
Các hợp chất cacbonhydrat có thể được phân thành hai loại đường: loại
đường có thể tiêu hóa hay là hợp chất không chứa đạm (NFE) và một loại là
cellulose thô (CF). Đường dễ tiêu hóa trong thức ăn chủ yếu là tinh bột.
Hàm lượng đường trong thức ăn của cá trắm đen giống, cá trắm đen 1
tuổi nuôi qua đông và cá thịt lần lượt là 30%, 35%, 35% (Li Ai-jie, 1996).s
Cá trắm đen không có men phân giải các hợp chất cellulose, nhưng trong
thức ăn vẫn cần 1 lượng thích hợp cellulose (Leng Xiang – Jun và Wang Zun,

cá trắm đen phải sử dụng thức ăn công nghiệp nên thiếu hụt đi lượng khoáng tự
nhiên. Do đó, trong thức ăn hỗn hợp cho cá trắm đen phải bổ sung hai loại
khoáng đa lượng quan trọng nhất là canxi và photpho, có thể bổ sung bằng
Ca
3
(PO
4
)
2
. Các loại khoáng khác được bổ sung qua premix khoáng, tuy nhiên
hàm lượng và tỷ lệ các loại khoáng này có thích hợp cho cá trắm đen hay không
thì cần phải xem xét và nghiên cứu.
Bảng 2.4. Thành phần premix khoáng cho thức ăn cá trắm đen
Muối vô cơ
Lee Dan và ctv (2006)
(%)
Leng Xiang-Jun và Wang
Zun (2003) (%)
MgSO4 - 12,50
2H2O.CaHPO4 144,15 75,70
Citric axit - 5,10
(7H2O).ZnSO4 2,20 1,47
13
NaCl - 1,03
MnSO4.7H2O 0,92 1,13
CuSO4.5H2O 0,20 0,13
K2SO4 - 0,106
CoCl2 0,01 0,067
(NH4)6Mo7O24.4H2
O

ống tiêu hoá dài hơn nên đủ thời gian cho enzyme tiêu hoá carbohydrate và vi
khuẩn hoạt động, giúp cho sự tiêu hoá và hấp thu carbohydrate tốt hơn.
2.4.3.Giai đoạn phát triển
Trong quá trình phát triển hệ thống men tiêu hoá của tôm cá sẽ dần hoàn
thiện, nhu cầu về dinh dưỡng của các gíai đoạn cũng có sự thay đổi nên có ảnh
hưởng tới sự tiêu hoá thức ăn. Phần lớn các loài tôm cá ở giai đoạn trưởng thành
có khả năng tiêu hoá nguồn thức ăn thực vật tốt hơn giai đoạn nhỏ (Trần Thị
Thanh Hiền, 2009).
2.4.4.Trạng thái sinh lí của cá
Khi cá bị stress do đánh bắt hay nhiễm bệnh có độ tiêu hoá giảm rất
nhiều. Nhịn đói lâu ngày cũng ảnh hưởng đến sự tiết các enzyme tiêu hoá nên
ảnh hưởng tới độ tiêu hoá (Trần Thị Thanh Hiền, 2009).
2.4.5. Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, DO ,H
2
S… cũng ảnh hưởng tới
độ tiêu hoá của cá. Đặc biệt là nhiệt độ. Hoạt tính của các enzyme tiêu hoá ở cá
thay đổi rất lớn khi nhiệt độ môi trường thay đổi. Trong khoảng nhiệt độ thích
hợp, khi nhiệt độ tăng thì độ tiêu hoá cũng tăng.
Ngoài ra các chất độc hại có trong môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến
khả năng tiêu hóa thức ăn của động vật thủy sản.
2.4.6. Lượng thức ăn và tần số cho ăn
Lượng thức ăn và tần số cho ăn có ảnh hưởng lớn đến độ tiêu hoá thức ăn.
Khi khối lượng thức ăn càng lớn thì tốc độ tiêu hoá thức ăn càng chậm và thức
15
ăn cũng không được sử dụng triệt để vì khi đó men tiêu hoá khó ngấm đều vào
bên trong thức ăn.
Độ tiêu hoá thức ăn tăng khi số lần cho ăn tăng, vì cùng với một lượng
thức ăn trong ngày nếu chia làm nhiều lần, men tiêu hoá sẽ hoạt động tốt hơn,
thức ăn được tiêu hoá và hấp thu một cách triệt để.

Thức ăn ăn vào – thức ăn thải ra phân
Hệ số tiêu hóa = x 100%
Thức ăn ăn vào
Tuy nhiên, trong nguồn phân thải ra, ngoài lượng thức ăn không tiêu hóa
hoặc hấp thu, còn có những chất thải khác của cơ thể như xác của tế bào biểu
mô ruột bị tróc ra theo phân, vi khuẩn phân giải một phần bột đường, xơ thành
những chất CO
2
, CH
4
,… Xác tế bào biểu bì mô ruột làm tăng lượng protein
trong phân nên tỉ lệ tiêu hóa protein tìm được thường thấp hơn so với thực tế.
17
Còn CO
2
, CH
4
,… thải ra ngoài làm cho tỷ lệ tiêu hóa nhóm glucid tìm được cao
hơn so với thực tế.
* Phương pháp xác định khả năng tiêu hóa
Trong nghiên cứu xác định độ tiêu hóa của động vật, có hai phương pháp
để áp dụng: phương pháp in-vivo (thực hiện trên đối tượng hoặc cơ quan), quá
trình tiêu hóa tự nhiên trong ống tiêu hóa và phương pháp in-vitro (thực hiện
trong ống nghiệm), theo hình thức mô phỏng quá trình tiêu hóa bình thường của
đối tượng. Trong thủy sản người ta thường áp dụng phương pháp in-vivo để đo
độ tiêu hóa.
Động vật thủy sản sống trong nước nên thức ăn thừa và phân đều lẫn ở
trong môi trường nước. Do đó, để tách phần phân và phần thức ăn thừa nhằm
xác định độ tiêu hóa thức ăn của động vật thủy sản thì khi áp dụng phương pháp
in-vivo người ta thường dùng phương pháp đo độ tiêu hóa gián tiếp. Phương

2.5.3. Phương pháp thí nghiệm nuôi dưỡng đối tượng
Mỗi phương pháp đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn đều có các ưu điểm
và nhược điểm riêng của nó. Xác định giá trị của thức ăn bằng phương pháp
nuôi dưỡng sẽ khắc phục được phần lớn các nhược điểm nói ở các phương pháp
trên. Cách thức của phương pháp này là dùng thức ăn thí nghiệm cho đối tượng
cần nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đánh giá chất lượng thức ăn thông qua các chỉ
tiêu theo dõi đối tượng như sinh trưởng, hệ số thức ăn (FCR,FCE).
2.6. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘ TIÊU HÓA
Độ tiêu hoá của thức ăn chịu ảnh hưởng bởi phương pháp thu phân.
Phương pháp thu phân trực tiếp thường có độ tiêu hoá thức ăn cao hơn so với
phương pháp thu phân gián tiếp do phương pháp thu phân gián tiếp thường có
một lượng phân thất thoát không thể xác định được và ngược lại phương pháp
thu phân trực tiếp thì thường lẫn thức ăn chưa tiêu hoá hết và dịch cơ thể
(Spyridaskis, 1989).
Bảng 2.5. Độ tiêu hoá thức ăn của cá chẽm khi sử dụng các phương pháp
thu phân khác nhau.
Hệ số tiêu hoá
(ADC)
Phương pháp thu phân
Vuốt bụng
Giải
phẫu
Hút phân Siphon Lọc
Protein (%) 82,5 ± 1,4 84,4 ± 0,8 86,6 ± 0,3 90,6 ± 0,3 94,2 ± 0,1
lipid (%) 94,1 ± 0,8 95,0 ± 0,4 96,3 ± 0,4 97,3 ± 0,2 97,1 ± 0,3
(Nguồn: Spyridaskis, 1989)
Nghiên cứu độ tiêu hóa trên cá tra bằng hai phương pháp thu phân,
phương pháp thu phân lắng thích hợp hơn so với phương pháp mổ vì không phải
mổ quá nhiều cá. Tuy nhiên,số liệu thu được từ phương pháp thu phân lắng cao
hơn so với phương pháp mổ (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009).

Thức ăn 89,2 ± 0,9
b
94,8 ± 1,1
b
92,8 ± 0,6
b
Bột cá 87,7 ± 1,8
a
96,12 ± 1,6
b
93,6 ± 1,1
a
Bột đậu nành 81,9 ± 3,7
a
94,4 ± 3,9
b
88,0 ± 2,4
a
(Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009)
Nghiên cứu phương pháp thu phân trong hệ thống nuôi đối với một số loài
thủy sản. Đối với các loài thải phân dạng sợi như là cá rô phi, tôm sú thì áp
dụng bằng phương pháp thu phân siphon hoặc dùng vợt để vớt phân. Các loài cá
khác có thể áp dụng hai phương pháp thu là thu phân tự lắng và thu phân liên tục
(Guillaume và ctv, 2001). Trên thế giới, độ tiêu hoá nguyên liệu chủ yếu được
nghiên cứu trên cá hồi, cá nheo Mỹ và cá rô phi.
Bảng 2.7. Độ tiêu hoá của một số nguyên liệu trên cá nheo Mỹ
Nguyên liệu Protein
(%)
Lipid
(%)

Ở miền Bắc Việt Nam các loài cá nước ngọt cũng đang được nuôi và phát
triển quy mô rộng rãi nên nhu cầu hiểu biết về các nguyên liệu thường được
dùng trong sản xuất thức ăn công nghiệp ngày càng cao. Thí nghiệm đo độ tiêu
hóa một số nguyên liệu trên cá Trắm cỏ được thể hiện qua bảng 2.9 ( Nguyễn
Thị Thu Trang và ctv, 2010).
Bảng 2.9. Độ tiêu hoá (%) của cá trắm cỏ đối với các nguyên liệu
thử nghiệm
Nguyên liệu Vật chất khô Protein Khoáng
Bột ngô 88,96 ± 0,15
b
84,9 ± 0,12
b
92,66 ± 0,58
b
Bột sắn 81,89 ± 12,23
b
77,15 ± 10,22
a
14,33 ± 95,58
a
Cám gạo 80,33 ± 0,29
a
87,94 ± 0,17
b
97,4 ± 0,78
b
(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Trang và ctv, 2010)
21
Phần III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Bảng 3.1. Thành phần nguyên liệu (%) phối chế trong thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu Thức ăn đối chứng Thức ăn bột ngô
Bột cá 42,0 29,4
Dầu cá 10,0 7,0
Bột đỗ tương 28,0 19,6
Gluten mỳ 10,0 7,0
Bột sắn 5,0 3,5
Khoáng và vitamin 4,0 2,8
Bột ngô - 30,0
Cr
2
O
3
1,0 1,0
Tổng 100
100
Thức ăn sau khi sản xuất được phơi qua nắng một ngày sau đó được bảo
quản trong tủ đông (ở nhiệt độ 0
0
C) trong suốt quá trình thí nghiệm. Việc bảo
23
quản trong tủ lạnh nhằm tránh biến đổi chất lượng thức ăn và đảm bảo chất
lượng thức ăn đồng đều trong suốt quá trình.
3.3.4. Bố trí thí nghiệm
Cá trắm đen được nuôi trong các composit có lắp hệ thống thu phân cá
theo phương pháp lắng, với mật độ 10 con/bể. Cho ăn bằng các thức ăn đối
chứng và thức ăn thí nghiệm trong khoảng thời gian 1 tháng, mỗi công thức lặp
lại 3 lần, phân cá được thu hồi hàng ngày và bảo quản lạnh đông ở -20°C cho
đến khi mang đi phân tích và tính độ tiêu hóa.
3.3.5. Cách cho ăn và chăm sóc

Mẫu cần phân tích được cân và đưa vào các bình định mức 10ml.
Trọng lượng mẫu là:
+ 150 mg đối với thức ăn chứa 1% Cr
2
O
3
.
+ 100 mg đối với mẫu phân cá trong thí nghiệm đo độ tiêu hoá.
Với mỗi lần phân tích ta phải chuẩn bị một đường thẳng chuẩn. Đường
thẳng được thiết lập dựa trên số đo từ các mẫu Cr
2
O
3
nguyên chất. Cân Cr
2
O
3
nguyên chất để chuẩn bị các dung dịch đo có chứa Cr
2
O
3
nồng độ từ 1 – 5%.
Một mẫu trắng được chuẩn bị bằng cách cho tất cả các hoá chất giống như cho
vào các mẫu thông thường rồi đem đo màu, trong mẫu trắng có Cr
2
O
3
.
Thêm vào các bình định mức chứa mẫu đã cân chính xác khối lượng: 5ml
HNO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status