Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang trong thời kỳ phát triển theo xu hướng hội nhập với nền
kinh tế thế giới và khu vực. Theo xu hướng mở cửa hội nhập toàn cầu, nhiều
giống vật nuôi nói chung, chó mèo nói riêng đã được nhập vào nước ta làm
phong phú hơn sự đa dạng sinh học.
Con người nuôi chó, mèo với nhiều mục đích khác nhau, chó được
nuôi để giữ nhà, làm bạn trong nhà, làm cảnh, đi săn, đặc biệt là phục vụ cho
An Ninh Quốc Phòng. Mèo được nuôi để làm cảnh và bắt chuột. Có thể nói
chó, mèo là động vật nuôi trong nhà không thể thiếu của nhiều gia đình từ
nông thôn đến thành thị, cả trong nước và ngoài nước. Thực tế cho thấy
không chỉ người nước ngoài yêu chó, mèo mà rất nhiều người Việt Nam đã
coi chó, mèo như “đứa con cưng” của họ.
Ở nước ta, do khí hậu nhiệt đới gió mùa, luôn thay đổi bất thường làm
cho các loài động vật đặc biệt là chó nhập nội khó thích nghi, sức đề kháng
giảm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng… gây
bệnh trong đó có bệnh viêm ruột tiêu chảy. Đây là một trong những nguyên
nhân gây tổn thất cho ngành chăn nuôi chó.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo
sát tình hình dịch bệnh trên đàn chó, mèo mang đến khám và chữa bệnh
tại phòng khám Thú y 152 Nghi Tàm - Quận Tây Hồ - Hà Nội và thử
nghiệm điều trị bệnh viêm ruột ở chó”.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh ở đàn chó, mèo mang đến khám và chữa
bệnh tại phòng khám Vetclinic.
- Xác định thành phần số lượng của các vi khuẩn có trong phân chó bị
viêm ruột tiêu chảy.
1
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
- Chó Lào: Lông xẫm, màu hung hay ghi và có hai vệt trắng trên mắt
(còn gọi là chó Lào hay chó 4 mắt). Có tầm vóc lớn hơn, cao 60 - 65cm, nặng
18 - 25kg. Được nuôi nhiều ở các vùng trung du và miền núi.
3
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
- Chó mèo: Là giống chó của người H’Mông. Có tầm vóc lớn, cao 55
- 60cm, nặng 18 - 20kg. Chân to khoẻ, tai nhỏ nhưng vểnh, được nuôi nhiều ở
các vùng núi cao: Tây Bắc, Cao Bằng…
- Chó Phú Quốc: Là giống chó tinh khôn, dũng cảm, chó Phú Quốc
thường có bộ lông đen, đốm trắng, hay vàng, bụng thon, trên lưng lông mọc
có hình xoáy, hay lật theo kiểu rẽ “ngôi”, lông vàng xám có các đường kẻ
nhạt chạy dọc theo thân. Chó cao 60 - 65cm, nặng 20 - 25kg.
2.2.2 Các giống chó nhập nội thường gặp ở Việt Nam
2.2.2.1. Berger Đức (GermanShepherd)
Là giống chó có thân hình cường tráng, thon dài, trán hơi lồi, tai của
chó con dưới 6 tháng tuổi có thể hơi cụp xuống nhưng tai của chó con trên 6
tháng tuổi có kích cỡ to và hướng ra phía trước. Chó có chiều cao trung bình
55 - 59cm, nặng 35 - 45kg. Mắt giống nhân hạt hạnh đào, tròn đen và tinh
nhanh. Đuôi to, dài nhiều lông phủ xuống đến mắt cá chân. Vai và hai chân
trước săn chắc, bắp đùi dày. Bàn chân tròn, gan bàn chân đầy. Lông có màu
đen, đen vàng, xám tro, ngoài ra có màu nâu vàng hoặc xám bạc. Là giống
chó rất dũng cảm và biết vầng lời, tình cảm, điềm tĩnh, thân thiện với đồng
loại và trẻ em, biết đề phòng người lạ, thông minh, dễ huấn luyện. Trong
chiến tranh nó được dùng như chó cứu hộ dưới nước, trên núi và đám cháy.
Ngoài ra còn được dùng để trinh sát, đánh hơi, truy tìm dấu vết. Nó luôn thực
hiện công việc một cách nhiệt tình và khéo léo. Nó có nguồn gốc ở Đức
nhưng hiện nay được nuôi trên toàn thế giới.
2.2.2.2. Tây Ban Nha (giống Cavalier KingCharlesSpanniel)
Chó có thính giác và khứu giác rất nhạy cảm nên được huấn luyện làm
họa sỹ và thời kỳ đó Boxer chưa được ra đời. Nó được phát triển vào năm
1850 ở Munich trong sự lai tạp giữa giống Bullenleiseer Mastiff và Bulldog.
Sự hoàn hảo về hình thể và tính cách của Boxer được hoàn chỉnh vào năm
1896 khi Câu lạc bộ Boxer đầu tiên được ra đời.
5
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
Ngày nay, Boxer được dùng vào những công việc như trông nhà, bảo
vệ, dẫn đường cho người mù. Giống chó này không dữ tợn lắm, nó là người
bạn trung thành và gắn bó với con người nếu được nuôi dưỡng và huấn luyện
đúng, nhưng chúng cần nhiều thời gian vào những bài luyện tập. Boxer có tuổi
thọ không cao (thường dưới 15 tuổi), chúng dễ bị các bệnh về khớp vì thế cần
phải giữ khô khi chạy bộ dưới trời mưa. Răng của nó phải được vệ sinh sạch
sẽ.
2.2.2.5. English Bulldog
English Bulldog nguồn gốc từ giống Asiatic Matiff cổ xưa, nhưng nó
phát triển hoàn toàn ở Great Britain, tên Bulldog là tên từ xa xưa, không chỉ
trông giống như một con bò mà tính của giống này rất hung hăng, chúng
thường được cho đấu với những con bò đực trên vũ đài trước khi có luật cấm
nuôi và thuần dưỡng thành chó nuôi trong nhà, biết vâng lời và trung thành.
Trong lực lượng quân đội và cảnh sát English Bulldog được dùng làm bảo vệ.
Ở Mỹ người ta rất nhớ công lao của loài chó này trong chiến tranh và các
công việc khác. Ngày nay chúng được nuôi phổ biến trên thế giới.
Với ngoại hình nhỏ nhưng đầu rât hung dữ, trọng lượng con đực 24 -
25kg, con cái 22 - 23kg, cao khoảng 25 - 30cm. Vùng đầu có da săn chắc và
có nhiều nếp gấp, gò má nhô ra hai bên mắt. Mõm và mũi ngắn, mũi to đen
với lỗ mũi to, môi trên dầy, hàm dưới nhô ra phía trước, mắt đen và tròn. Tai
mỏng và nhấc nếp gấp về phía sau trông như một bông hoa hồng. Cổ có yếm
mềm, màu trắng, nâu đốm.
2.2.2.6. Dalmatian
lông dài và xù, lượn sóng, màu hạt dẻ, đôi khi có màu vàng xẫm hoặc trắng
sữa. Chó có hình dạng rất ngộ nghĩnh, đầu to, mõm rộng chia thuỳ, tai to có
lông dài phủ xuống hai bên đầu, mắt to đen hoặc nâu xẫm, bốn chân thấp lùn.
2.2.2.9. BichonFries
Giống này có nguồn gốc từ nước Pháp, được nuôi lâu đời ở Châu Âu
và Châu Á với mục đích làm cảnh. Ở nước ta, chó được du nhập và nuôi rộng
7
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
rãi ở các thành phố vào những năm 90 của thế kỷ trước để làm cảnh với tên
gọi là “Chó Nhật Xù”.
Với tầm vóc nhỏ: cao 30cm, dài 40cm, nặng 5kg. Bộ lông xù dài
thẳng hoặc hơi lượn sóng, trắng tuyền. Đặc biệt lông ở tai, cổ và đuôi thường
dài hơn nên trông chó rất quý phái.
2.2.2.10. Great Dane
Đức là cái nôi dầu tiên của giống chó này. Trước kia, người ta sử dụng
nó như một loại chó chiến đấu bởi các bộ lạc người Celtic và Gezmatic, thậm
chí nó còn nổi tiếng như một con chó săn, chó bảo vệ (4000 năm trước đây
người ta mô tả nó gần giống Matiff). Ngày nay, người ta thường dùng Great
Dane trong công tác bảo vệ. Nó có chiều cao từ 76 - 81cm, nặng 45 - 55kg.
Bộ lông thường màu trắng, có thể có vệt đốm, đôi khi có màu đen tuyền với
những đốm trắng ở cổ, cuối đuôi và chân.
Với ngoại hình đẹp, đáng yêu và trung thành. Great Dane là giống chó
phàm ăn, thích vận động, cơ thể phát triển chậm đến 20 tháng tuổi cơ thể mới
phát triển hoàn thiện. Giống chó này không hung giữ lắm nhưng tầm cỡ trung
bình của nó cũng đủ ngăn cản đối thủ, nó vụng về nhưng có thể làm người
bạn tốt và bảo vệ con người rất trung thành.
2.4. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ
2.4.1. Bệnh sài sốt chó (Bệnh Carre - Fibris Cataralis infection canum)
* Nguyên nhân
các nốt sài nổi lên ở bụng, ngực, háng và trong đùi. Triệu chứng thần kinh
cũng xảy ra phổ biến ở chó bệnh như run rẩy, đi lại siêu vẹo, lên cơn co giật,
rẫy rụa, mắt trợn ngược, chảy dãi dớt, hai hàm răng đánh lập cập liên tục.
2.4.2. Bệnh tiêu chảy do Parvovirus (Parvodogdesease)
Là một bệnh rất nguy hiểm, gây chết hàng loạt chó, ở chó trưởng
thành thông thường bệnh không gây tác hại, nhưng đó là nguồn dịch nguy
hiểm.
Bệnh gây ra do virus thuộc nhóm Pavovirus loại AND
* Triệu chứng
Giai đoạn đầu chó thể hiện các triệu chứng chung: ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn,
nằm lì một chỗ, nôn mửa. Nhiệt độ tăng dần có thể lên tới 41
o
C. Thông thường
9
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
cơn sốt kéo dài từ khi chó bắt đầu mệt tới lúc chó ỉa chảy nặng, thân nhiệt chỉ
giảm khi chó kiệt sức và lịm dần đi. Khi chó ỉa chảy nặng, phân có mùi thối
khắm đặc trưng, trong phân lúc đầu có màu xám hoặc vàng, về sau có máu
tươi hoặc đã phân hủy thành máu cá, niêm mạc đường ruột bong ra lẫn máu
trong phân (Lê Thanh Hải, Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc, 1998) [8].
* Chẩn đoán
Rất khó phân biệt giữa bệnh carre và bệnh parvo, bởi vì cả hai bệnh
đều xảy ra ở chó con và ỉa chảy ra máu. Nhưng cần chú ý một số khác biệt:
- Trong bệnh carre phân thường có màu cafe, còn ở bệnh parvo phân
thường màu hồng.
- Bệnh carre có dấu hiệu thần kinh và nốt sài ở da.
2.4.3. Bệnh giun đũa chó
* Nguyên nhân
Bệnh giun đũa do Taxocara Canis và Toxasaris Leonia là bệnh phổ
Bệnh tiến triển nhanh từ những ngày đầu con vật bị sốt, ủ rũ, niêm
mạc đỏ.
Chó ít ho nhưng đau đớn, thở khó, môi nhợt nhạt và tím, chó thở thể
bụng, thở nhanh và nông, sau vài ngày thì ho nhiều hơn.
Bệnh diễn biến bất thường, chó có thể chết ngay trong tuần đầu do
tràn đầy bọt khí trong đường hô hấp, có khi kéo dài trở thành mạn tính. Có
trường hợp bệnh nhẹ chỉ kéo dài mấy ngày và không có triệu chứng rõ rệt,
nếu kéo dài nhiều ngày có thể lan sang các thùy phổi khác sẽ gây sốt nhiều
lần.
* Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh viêm phổi không khó nhưng để xác định rõ nguyên
nhân cần phải xét nhiều yếu tố và phải qua xét nghiệm dịch tiết, dịch nhày.
Bệnh do virus thường có thân nhiệt cao 40 - 41
o
C. Bệnh do nấm thường ở thể
mạn tính và khi dùng kháng sinh không có hiệu quả. Bệnh viêm phế quản
11
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
phổi kèm theo chứng viêm phế quản, thân nhiệt không ổn định và bệnh kéo
dài. Trường hợp viêm phổi và màng phổi thường xuất hiện thủy thũng dưới
bụng và ngực, có thể phát hiện bằng chọc hút dịch.
2.4.5. Bệnh ghẻ trên da (Sarcoptes)
* Nguyên nhân
Do cái ghẻ Sarcoptes ký sinh trên nhiều loài gia súc và thú hoang dại,
hầu hết đều do các phân loài của loài Sarcoptes Seabiei gây ra. Bệnh thường
gặp nhiều ở nghé, chó, ngựa. Bệnh lây truyền bằng tiếp xúc hoặc do cọ sát
vào khi nuôi tập trung chật chội. Bệnh phát triển nhiều vào mùa đông và mùa
thu, còn mùa hạ ít hơn do có ánh sáng mặt trời làm ghẻ chết.
* Triệu chứng
Biểu hiện đặc trưng của bệnh là sốt da vàng, viêm thận, rối loạn tiêu
hoá, rối loạn thần kinh và có thể bị sẩy thai.
* Nguyên nhân
Bệnh lepto do xoắn khuẩn Leptopira gây nên. Tuy nhiên những loài
động vật khác nhau cảm nhiễm với bệnh khác nhau.
Trong tự nhiên các động vật gặm nhấm như chuột là nguồn tàng trữ,
mang xoắn khuẩn Leptospira suốt đời, chúng liên tục bài tiết nước tiểu có chứa
xoắn khuẩn ra ngoài môi trường làm ô nhiễm nguồn nước và thức ăn, từ chó
xoắn khuẩn sẽ xâm nhập vào niêm mạc đường tiêu hoá vào máu và gây bệnh
cho chó lành.
Chó có thể nhiễm xoắn khuẩn do ăn thịt sống và những vật bị bệnh
hay mang trùng, lúc này xoắn khuẩn sẽ xâm nhập vào niêm mạc đường tiêu
hoá, vào máu và gây bệnh.
Chó con có thể nhiễm bệnh xoắn khuẩn do ăn thịt sống của những vật
bị bệnh hay mang trùng, lúc này xoắn khuẩn tồn tại trong nước tiểu của chó
bệnh và có thể lây lan sang chó khỏe khi tiếp xúc hay ăn phải thức ăn, nước
uống có lẫn nước tiểu của chó bệnh.
13
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
* Triệu chứng
Chó bệnh thường xuất hiện ở 3 thể: Quá cấp, cấp tính và mạn tính.
- Thể quá cấp tính: thường ít gặp
+ Bệnh phát ra đột ngột: Chó sốt cao 40,5 - 41
0
C, bỏ ăn, mệt mỏi,
thích nằm, mắt lờ đờ, 2 chân sau yếu, có khi xung huyết kết mạc.
+ Sau đó nhiệt độ giảm xuống 37 - 38
0
C chó ủ rũ, khó thở, khát nước,
- Nd Iodine: Thành phần gồm PVP Iodine và Kalium Iodine, sát trùng
tiêu độc chuồng nuôi và môi trường xung quanh.
- Không cho chó lành tiếp xúc với chó đã bị bệnh lepto, vì nước tiểu
chó bệnh mang nhiều xoắn khuẩn, nguy cơ truyền bệnh dễ dàng.
- Cần diệt ve một cách triệt để vì đó là môi giới truyền bệnh.
2.4.9. Bệnh viêm gan truyền nhiễm
(Hepatitis congtagiosa - HCC)Rubarth disease
Bệnh viêm gan ở chó hay bệnh viêm não tủy truyền nhiễm. Ở chồn,
cáo còn gọi là bệnh Rubarth, bệnh truyền nhiễm do virus gây ra.
Biểu hiện đặc trưng của bệnh: Gan sưng, thiếu máu, bệnh lây lan
mạnh, gây nhiễm chủ yếu ở chó con.
* Nguyên nhân
Bệnh viêm gan truyền nhiễm ở chó do virus gây ra.
* Triệu chứng
- Bệnh xảy ra ở các giống chó, tuổi chó nhưng thường ở chó con, chồn
cáo nhỏ từ 8 tuần tuổi đến 1 năm. Chó mẹ nhiễm virus có thể truyền kháng thể
qua sữa cho chó con nên chó con có khả năng bảo vệ trước sự xâm nhập của
virus, tuy nhiên nếu do điều kiện chăm sóc, thời tiết và vệ sinh không tốt chó vẫn
có thể nhiễm và phát bệnh, vì vậy lúc này chó vừa mang trùng vừa có kháng thể.
Chó mang trùng có thể thải mầm bệnh ra ngoài qua dịch tiết nước tiểu, phân.
- Bệnh thường chỉ thấy ở chó con (1 - 3 tháng tuổi), chó mẫn cảm hơn
cả là chó Berger, thời gian nung bệnh từ 7 - 10 ngày, chó con hay chết đột
ngột do tính mẫn cảm với virus. Thoạt đầu virus vào máu sau đó đến các tế
bào gan tác động, chó sốt 40 - 40
0
C. Cơn sốt kéo dài liên miên, chó kém ăn
chậm lớn, buồn bã và lười vận động.
15
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
* Phòng bệnh bằng kháng huyết thanh
Kháng huyết thanh có tác dụng tốt ở giai đoạn đầu của bệnh, nhưng
nếu khi gan bị tổn thương, kháng huyết thanh cũng không có hiệu lực
Ở nơi sảy ra bệnh, mầm bệnh tồn tại hay nếu như chó quý cần tiêm
vacxin phòng bệnh lúc 4 - 5 tuần tuổi, sau đó tiêm lại vacxin lúc 7 - 9 tuần tuổi.
* Phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh môi trường
- Phòng bệnh bằng chăm sóc nuôi dưỡng là biện pháp hàng đầu và rất
quan trọng. Thường xuyên chăm sóc nuôi dưỡng chó chu đáo, cho ăn no, đủ chất.
- Vệ sinh tiêu độc chuồng và môi trường xung quanh bằng:
- Dung dịch sát trùng thành phần gồm Cloramin B và Bezalkonium
Chloride, cứ 100ml dung dịch sát trùng cho 50m
2
chuồng nuôi hay pha loãng 5
- 10 lần để tiêu độc dụng cụ.
- Nd Iodine: Thành phần gồm PVP Iodine và Kalium Iodine, sát trùng
tiêu độc chuồng nuôi và môi trường xung quanh.
Chó ốm phải cách ly triệt để, không tiếp xúc với chó lành.
- Chó chết vì bệnh viêm gan truyền nhiễm phải đốt xác để tránh ô
nhiễm môi trường.
2.5. BỆNH VIÊM RUỘT TIÊU CHẢY Ở CHÓ
Tiêu chảy là một thuật ngữ diễn tả một biểu hiện lâm sàng của hội
chứng bệnh lý đặc thù của bệnh đường tiêu hoá. Bệnh viêm ruột tiêu chảy phổ
biến ở các loài gia súc, các loài chó cảnh và chó nghiệp vụ. Bệnh có quanh
năm, nhưng thường xảy ra vào mùa hè, mùa thu khi thời tiết ấm nóng và ẩm
ướt. Theo dõi dịch bệnh của chó nghiệp vụ ở khu vực Hà Nội, thấy khoảng
80% số chó bị chết là do mắc bệnh viêm dạ dày, ruột cấp. Chó con dưới 6
tháng tuổi khi mắc bệnh sẽ bị chết với tỷ lệ rất cao (60 – 70%)
Fairbrother (1992) [29] đã nhận xét: Tiêu chảy là một bệnh gây thiệt
hại đáng kể cho ngành chăn nuôi trên thế giới.
18
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
2.5.1.1. Nguyên nhân do vi khuẩn
Trong lĩnh vực vi sinh vật, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy,
tuy nhiên bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy, tác nhân phổ biến nhất
vẫn là vi khuẩn, hoặc với vai trò kế phát, hoặc nguyên phát (Nguyễn Bá Hiên,
2001) [9]. Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [19] bình thường có thể
phát hiện Salmonella trong đường ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm… và
một số động vật khoẻ mạnh. Khi sức đề kháng của động vật bị giảm sút, vi
khuẩn xâm nhập vào nội tạng gây bệnh.
Trong đường ruột của động vật có rất nhiều vi khuẩn, chúng được gọi
là “vi khuẩn chí đường ruột”. Chúng tồn tại ở một trạng thái cân bằng với
nhau và với cơ thể vật chủ. Do một nguyên nhân nào đó dẫn đến trạng thái
cân bằng của khu hệ vi sinh vật bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sản
sinh lên quá nhiều, gây hiện tượng loạn khuẩn (Vũ Văn Ngữ và cs, 1979)
[13]. Loạn khuẩn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh ở đường tiêu hóa, đặc
biệt là gây tiêu chảy.
Bệnh viêm ruột tiêu chảy ở chó diễn ra theo hai quá trình, đầu tiên là
rối loạn tiêu hoá và sau đó là quá trình nhiễm trùng.
Giai đoạn đầu, thường do các yếu tố bất lợi như gặp lạnh đột ngột,
phẩm chất thức ăn kém, các stress có hại: Nóng, lạnh, ẩm… làm cơ năng tiêu
hoá ở đường ruột bị rối loạn, thức ăn không được tiêu hoá sẽ lên men, phân
giải các chất hữu cơ sinh ra chất độc như Indol, Scatol, H
2
S… Các sản phẩm
độc này làm cho PH trong đường ruột thay đổi gây trở ngại về tiêu hoá và hấp
thu trong đường ruột (Hồ Văn Nam, 1997) [12], Đào Trọng Đạt và cs (1997)
[6]. Những chất độc này tác động lên niêm mạc ruột gây xung huyết, tăng nhu
động ruột gây tiêu chảy (Vũ Triệu An, 1978) [1].
khuẩn xâm nhập, gây bệnh.
2.5.1.2. Nguyên nhân do điều kiên ngoại cảnh
Điều kiện khí hậu thay đổi đột ngột: quá nóng hoặc quá lạnh, mưa gió,
ẩm ướt… kết hợp với chuồng trại không hợp vệ sinh. Niconxki V.V(1986)
20
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
[18] cho biết: Khi gia súc bị lạnh, ẩm ướt kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn
dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh.
2.5.1.3. Do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Thức ăn chất lượng kém, ẩm mốc, ôi thiêu… là nguyên nhân gây ỉa
chảy ở gia súc (Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997) [12].
2.5.1.4. Nguyên nhân do ký sinh trùng
Các loài ký sinh trùng thường gặp ở chó: Sán dây gồm có Teania
lydatiggena; Dipiliium…
Giun đũa thường gồm Toxcara canis… giun móc Ancylostoma canium
có những móc nhọn bằng kitin cắm vào ruột non phần tá tràng, không tràng để
hút máu gây tổn thương, làm xuất huyết ruột tạo điều kiện cho các vi sinh vật
xâm nhập gây viêm ruột tiêu chảy (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996) [15].
Có thể do các đơn bào ký sinh như: Amip Entaoebahystotitica gây
bệnh lị, trùng roi Giardiaintastinalis.
2.5.1.5. Nguyên nhân do virus
Các loại virus như: Parvovirus, Carre Adenovirus, Coronavirus… là
những loài gây bệnh tiêu chảy nguy hiểm ở chó.
2.5.2. Cơ chế gây bệnh viêm ruột tiêu chảy do vi khuẩn
Các vi sinh vật gây bệnh không giống hệ vi khuẩn cư trú thường
xuyên trong đường ruột, thường do một nguyên nhân nào đó các vi khuẩn
phát triển nhanh chóng cả về số lượng và độc lực. Một số loại vi khuẩn có
khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô, ở đây chúng phát triển nhanh
về số lượng kích thích các tế bào gây viêm, dịch rỉ viêm tiết ra đi vào
loại men, độc tố gây viêm, phá hoại tổ chức ruột, kích thích làm tăng nhu
động ruột khiến cho chó ỉa chảy. Độc tố của vi khuẩn còn vào máu tác động
đến hệ thần kinh trung ương gây sốt.
Sau 24 - 36 giờ, vi khuẩn phát triển với số lượng lớn trong đường tiêu
hoá, chó sẽ có những triệu chứng lâm sàng điển hình của viêm ruột cấp như
nôn mửa, ỉa chảy dữ dội, phân lúc đầu táo, sau lỏng như nước, màu vàng hoặc
màu xanh xám, lẫn niêm mạc ruột lầy nhầy, mùi tanh khắm. Mỗi ngày chó có
thể đi ỉa từ 4 - 6 lần. Do nôn mửa và ỉa chảy liên tục nên chó bị mất nước và
chất điện giải rất nhanh. Thời kỳ cuối chó thường bị chảy máu ruột nên phân
22
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
thường có màu nâu thẫm như bã cafe hoặc màu đỏ tươi. Nếu không điều trị
kịp thời, chó bị mất nước, trụy tim mạch, kiệt sức, chết rất nhanh.
2.5.5.2. Viêm ruột mạn tính
Viêm ruột mạn tính gây ỉa phân lỏng có thể nhiều nước hoặc nhão, có
màng nhày bọc, hoặc phân lẫn máu. Chó ỉa chảy liên tục, cũng có khi là gián
đoạn bởi các thời kỳ phân bình thường hoặc phân táo. Hiện tượng này kéo
dài, trong thời gian ỉa chảy chó kém hoạt động.
Viêm ruột mạn tính dẫn tới tiêu chảy kéo dài gây suy nhược, rối loạn
chức năng của cơ thể. Sau đó là tình trạng suy dinh dưỡng, giảm chức năng
miễn dịch, dễ nhiễm độc phá huỷ khả năng tự hồi phục của cơ thể. 23
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Thị Phượng – Thú y 48A
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những chó, mèo mang đến khám
và điều trị tại phòng khám Vetclinic.
25
Nuôi cấy trên
nước thịt
Mẫu phân
Pha loãng (10
x
)
Môi trường thạch thường: Quan sát hình thái, màu sắc, kích thước, đếm
tổng số các loài khuẩn lạc
Môi trường
chuyên dụng
cho Gram (-)
Đếm số khuẩn
lạc
Giữ trên thạch máu
Tính chất sinh học
Nuôi cấy trên
nước thịt
Nuôi cấy trên
nước thịt
Phác đồ điều trị
Kiểm tra độ mẫn cảm với thuốc
Môi trường
chuyên dụng
cho Gram (+)