skkn phương pháp giảng dạy thể dục thể thao - Pdf 24

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TDTT
A- PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Năm học 2006 - 2007 tôi được phân công công tác giảng dạy thể dục bộ
môn thể dục tại trường THPT số 1 Than Uyên. Việc rèn luyện giảng dạy bộ môn
thể dục được cả xã hội quan tâm và đầu tư rất nhiều. Mang tính chất giáo dục rất
cao và phát triển toàn diện các tố chất thể lực là hết sức quan trọng đấy chính là
một trong những phương tiện giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường các cấp theo
thống kê của một chương trình trưng cầu dân ý vê bộ môn thể dục cấp THPT tại
một số các thành phố lớn dành cho cha mẹ học sinh thì cho thấy rằng môn thể
dục được đứng hàng đầu, về tầm quan trọng và thiết thực trong các môn học hiện
hành. Trong khi đó việc giảng dạy cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh
đối với việc GDTC là những môn phụ không được coi trọng.
Là giáo viên giảng dạy chuyên về TDTT, qua thời gian giảng dạy tôi thấy
học sinh chưa nhận thức được việc rèn luyện TDTT và các tố chất thể lực cũng
như sự tiếp thu nắm bắt các yếu lĩnh cơ bản của môn thể dục mặc dù còn rất
chậm mặc dù thể lực của học sinh cả nước nói chung là rất tốt, trong đó chỉ là
một yếu tố nhỏ trong việc học tập và rèn luyện TDTT. Học sinh ở đây đã có thể
lực rất tốt xong chúng chưa nhận thức được việc rèn luyện cụ thể như thế nào,
học sinh ở đây chưa được làm quen với những thuật ngữ và phương pháp luyện
tập nên việc giảng dạy cũng gặp không ít khó khăn. Do đó ngoài việc truyền thụ
đầy đủ nội dung và kiến thức cũng như các phương pháp giảng dạy trong sách
giáo viên để giảng dạy cho học sinh, tôi cũng đi sâu vào việc rèn luyện học sinh
bằng các phương pháp thường dùng trong việc giảng dạy TDTT. Vì GDTC là
một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó thể hiện ở việc giảng dạy các động
tác và giáo dục ( điều kiện sự phát triển) các tố chất thể lực cuả con người.
II- PHẠM VI ĐỀ TÀI:
Sáng kiến này được tôi nghiên cứu tại trường THPH số 1 Than Uyên tôi
luôn cố gắng cho học sinh hiểu và biết việc rèn luyện TDTT là rất quan trọng đặc
biệt là đối với lứa tuổi như các em học sinh THPT. Tôi cũng đã tham khảo một

C- QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU VÀ VẬN DỤNG
Để tiến hành nghiên cứu và vận dụng các phương pháp giảng dạy trước
tiên ta phải hiểu khái niệm chung về thể dục thể thao.
I. KHÁI NIỆM CHUNG:
GDTC là một quá trình sư phạm, do đó có các phương pháp dạy TDTT về
bản chất cũng chính là các phương pháp sư phạm nhưng mang những đặc điểm
của GDTC.
Trong quá trình giảng dạy TDTT, giáo viên thường sử dụng các phương
pháp giảng dạy khác nhau. Các phương pháp này được dựa trên cơ sở của các
nguyên tắc về phương pháp giảng dạy nói riêng và các phương pháp sư phạm và
giáo dục nói chung.
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp giảng dạy chung như: Phương
pháp sử dụng lời nói, trực quan trong giảng dạy TDTT còn áp dụng các phương
pháp mang tính đặc thù riêng.
Do tính chất riêng của phương pháp giảng dạy TDTT khi lựa chọn phương
pháp giáo viên cần dựa trên hệ thống các bài tập, kỹ thuật, chiến thuật, yêu cầu
thể lực và tình trạng thi đấu thể thao của học sinh. Khi thực hiện các bài tập kỹ
thuật hoặc giảng dạy các động tác thể dục thể thao, giáo viên có thể sử dụng các
phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp.
Ví dụ:
- Dùng lời nói để giải thích, hướng dẫn kỹ thuật động tác, có thể phối hợp
việc giải thích với làm mẫu trực tiếp kỹ thuật hoặc gián tiếp giới thiệu kỹ thuật
qua tranh ảnh, phim, hình vẽ kỹ thuật
Thục tế trong hoạt động TDTT cho thấy, muốn đạt được tới trình độ vận
động cao, cần phải áp dụng hệ thống các phương pháp tập luyện khác nhau. Yếu
tố chính để tạo thành các phương pháp khác nhau là lượng vận động và nghỉ hơi
khác nhau. Khái niệm lượng vận động là một độ lớn nhất định những tác động
3
của các động tác đối với cơ thể người tập, lượng vận động có liên quan trực tiếp
đến việc tiêu hao năng lượng cơ thể, tác động này dẫn đến xuất hiện mệt mỏi.

là:
1. Phương pháp giảng giải ( lời nói ) và làm mẫu ( trực quan ).
2. Phương pháp hoàn chỉnh và phân đoạn.
3. Phương pháp tập luyện và phương thức tập luyện.
4. Phương pháp sửa chữa động tác sai.
Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp giảng dạy khác,
nhưng cần chú ý việc sử dụng phương pháp phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục
thể chất, nhiệm vụ và nội dung chương trình cần đạt, mức độ và yêu cầu của giáo
dục: kỹ thuật, thể lực, chiến thuật hoặc trình độ thi đấu
Sự phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối, trong quá trình giảng dạy
TDTT việc sử dụng một phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp
nhằm giải quyết một nhiệm vụ giảng dạy cụ thể. Giáo viên cần nghiên cứu sáng
tạo trong phân loại và sử dụng các phương pháp trên. Các phương pháp giảng dạy
TDTT khi được sử dụng đúng lúc và hợp lý là yếu tố có tác động trực tiếp tới
việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và trình độ vận động của học sinh
nói riêng.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THỂ DỤC THỂ THAO:
1. Phương pháp giảng giải và làm mẫu:
Trong quá trình GDTC phương pháp giảng giải và làm mẫu là phương
pháp cơ bản, nhằm giáo dục và bồi dưỡng những tri thức hiểu biết, kỹ thuật
TDTT.
a) Phương pháp giảng giải ( Phương pháp dùng lời nói )
Là phương pháp thường được sử dụng trong quá trình giảng dạy TD cho
học sinh bậc TH. Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để giới thiệu kiến thức
mới, động tác mới và kỹ thuật TDTT, phân tích về các nội dung cơ bản, nhiệm vụ
5
bài học về phương hướng chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kỹ
thuật, để từng bước hoàn thành kỹ thuật, động tác và nâng cao hiểu biết và các
kiến thức có liên quan.
Một số yêu cầu cần chú ý khi áp dụng phương pháp giảng giải là:

tác, gây hứng thú, giúp học sinh nắm được các quy tắc, đánh giá được động tác
đúng, sai của bạn và của chính mình.
b) Phương pháp làm mẫu
Hoạt động GDTDTT là loại hình có nội dụng giáo dục chuyên biệt. Trong
quá trình giảng dạy TDTT yêu cầu giáo viên không chỉ có hệ thióng tri thức liên
quan đến truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn phải làm mẫu đúng, chính xác
động tác, kỹ thuật TDTT. Làm mẫu thường được thực hiện cùng lúc với việc
giảng giải kỹ thuật và các tri thức khác có liên quan. Lời giảng giải của giáo viên
cần ngắn, gọn, dễ hiểu làm mẫu động tác cần chính xác đúng, đẹp.
- Một số yêu cầu cần chú ý khi làm động tác mẫu:
- Động tác làm mẫu của giáo viên cần chính xác, đẹp hoàn chỉnh. Vì giáo
viên là mẫu động tác, kỹ thuật đúng sẽ giúp học sinh nắm được những yếu lĩnh
cơ bản đúng của kỹ thuật, động tác.
- Khi giảng dạy những động tác kỹ thuật mới, phức tạp giáo viên cần giảng
giải 2 - 3 lần. Làm mẫu lần 1 có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh, tốc độ
chuyển động bình thường đúng nhịp độ và yêu cầu. Học sinh qua quan sát hình
thành trong trí nhớ hình ảnh, có khái niệm sơ bộ của từng phần kỹ thuật hoặc
toàn bộ động tác, gây cảm giác đúng, chính xác hứng thú, thích tập luyện theo.
Làm mẫu lần 2, Giáo viên thực hiện động tác chậm, ở những điểm mấu chốt kỹ
thuật, giáo viên cần kết hợp với giảng giải và thực hiện động tác để học sinh nhớ
lại các điểm chính. Làm mẫu lần 3 giống như lần 1 cần hú ý thực hiện hoàn
7
chỉnh, chuẩn xác. Trong trường hợp giáo viên cần phải làm mẫu thêm một hai lần
nữa hoặc làm mẫu riêng từng phần của kỹ thuật là tuỳ thuộc vào độ khó của động
tác kỹ thuật và trình độ tiếp thu của học sinh.
- Khi hướng dẫn học sinh luyện tập các bài tập thể dục tay không, thể dục
đồng diễn, thể dục nhịp điệu, thể dục với vòng, gậy, cờ giáo viên cần áp dụng
nhiều hình thức làm mẫu khác nhau: làm mẫu theo kiểu “ soi gương ” hay thực
hiện động tác kỹ thuật đứng cùng chiều với học sinh. Khi giáo viên thực hiênj
động tác bước đầu tiên nên làm động tác có chuyển động chậm để học sinh dễ

vậy, giáo viênphải luôn quan sát giúp đỡ học sinh để các em tập được các động
tác hoàn chỉnh.
Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên cần
chú ý đến những ưu, nhược điểm sau:
* Về ưu điểm:
- Học sinh tạo được cảm giác đúng toàn bộ kỹ thuật, dễ dàng nắm được kỹ
thuật động tác, có thể thực hiện theo yêu cầu giáo viên.
* Về nhược điểm:
- Khi giảng dạy các động tác có kỹ thuật phức tạp, sử dụng phương pháp
này kém hiệu quả.
- Do đó, khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo
viên cần chú ý nhấn mạnh vào các điểm chủ yếu cần thiết của kỹ thuật, động tác,
có thể giảm bớt yêu cầu về biên độ, cự li, trọng lượng, độ cao Phối hợp với các
động tác bổ trợ khác trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật động tác phức tạp.
b) Phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn.
- Khi giảng dạy những động tác, bài tập khó và phức tạp, giáo viên cần sử
dụng phương pháp phân đoạn. Đây là phương pháp chia kỹ thuật động tác ra
9
thành các phần kỹ thuật động tác riêng lẻ, để hướng dẫn học sinh từng phần kỹ
thuật. Khi từng phần kỹ thuật học sinh đã thực hiện thuần thục, thì liên kết các
phần đó thành động tác hoàn chỉnh.
Ví dụ:
- Dạy học sinh động tác ném bóng cao su trúng đích tại chỗ. Cần hướng
dẫn học sinh đứng ở tư thế chuẩn bị, cầm bóng, cách vung tay, lấy đà, ra sức,
phối hợp với chuyển động toàn thân động tác kết thúc, giữ thăng bằng. Hướng
dẫn học sinh tập luyện từng phần kỹ thuật, thực hiện đúng các chi tiết kỹ thuật
động tác sau đó, hướng dẫn cách liên kết các chi tiết kỹ thuật thành động tác ném
bóng hoàn chỉnh.
Với yêu cầu: Xa, trúng đích, bảo đảm đúng kỹ thuật.
Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn giáo viên cần chú

được các kỹ thuật vận động. Nếu không được thường xuyên tập luyện lặp lại để
hình thành kỹ năng khi kỹ thuật, động tác - tuy học sinh đã nắm được, sau một
thời gian sẽ bị phá vỡ. Do đó, cần tập luyện lập lại kỹ thuật, động tác trong các
giờ học, buổi tập, giờ ngoại khoá và ở nhà.
- Việc áp dụng phương pháp luyện tập lặp lại thường góp phần hình thành
các thói quen vận động, các đường liên hệ tạm thời ở vỏ não, giúp học sinh thực
hiện đúng kỹ năng hoạt động trong cuộc sống: Đi, chạy, nhảy, ném, leo, trèo,
nắm bắt
b) Hình thức tập luyện biến đổi:
- Đây là hình thức tập luyện các kỹ thuật, động tác luôn có sự điều chỉnh,
thay đổi yêu cầu, mức độ, mục tiêu Và các điều kiện. Sử dụng phương pháp
thực hiện có biến đổi nhằm tạo cho học sinh khả năng làm quen, nhanh chóng
thích ứng, giải quyết các điểm mấu chốt, quan trọng của kỹ thuật. Khi hướng dẫn
tập luyện với các động tác phức tạp, giáo viên nên chia động tác thành các phần
chi tiết khác nhau ( theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp ).
11
Sau cùng giáo viên hướng dẫn để học sinh biết, phối hợp các phần riêng lẻ thành
động tác hoàn chỉnh ở trong các điều kiện không giống nhau tăng dần mức độ
khó khăn, phức tạp, song đảm bảo yêu cầu vừa sức với từng đối tượng.
- Khi học sinh đã nắm vững bài tập giáo viên có thể tăng khoảng cách, thay
đổi độ cao, thấp của dụng cụ, thay đổi điều kiện bổ trợ, nâng cao yêu cầu về chất
lượng kỹ thuật, qua đó dần dần nâng cao, củng cố và hoàn thiện những kỹ năng
vận động.
c) Hình thức trò chơi và thi đấu:
- Rèn luyện TDTT thông qua hình thức trò chơi vận động và thi đấu tạo
được không khí hưng phấn, phấn khởi, nhiệt tình tham gia luyện tập của học sinh.
Trong vui chơi vận động và thi đấu có hướng dẫn, điều khiển của giáo viên trong
các mục tiêu giáo dục được thực hiện, góp phần thúc đẩy hoàn thiện nhân cách và
sức khoẻ học sinh. Đây là hình thức phù hợp với lứa tuổi học sinh.
- Trong quá trình tổ chức trò chơi, giáo viên hướng dẫn học sinh tập, bắt

4- Phương pháp sửa chữa động tác sai:
- Khi tập luyện TDTT học sinh không tránh khỏi thực hiện động tác, kỹ
thuật có sai sót, nên việc áp dụng phương pháp sửa chữa động tác, kỹ thuật sai là
rất cần thiết, sẽ góp phần kịp thời giúp cho học sinh thực hiện đúng, chính xác kỹ
thuật, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật mới nhanh và phòng tránh chấn thương.
a) Một số nguyên nhân dẫn đến thực hiện sai kỹ thuật và động tác:
- Do học sinh chưa nắm được yêu cầu, kỹ thuật cách tiến hành tập luyện,
tập luyện thiếu dũng cảm, chưa tự tin, còn lo nắng, hồi hộp, sợ xệt
- Việc chuẩn bị thể lực, sức khoẻ, vốn kỹ năng vận động còn thấp xa so với
yêu cầu cần thực hiện động tác. Học sinh có khuyết tật, bẩm sinh hoặc cơ thể sau
thời gian ốm, mệt, bị chấn thương.
- Giáo viên sử dụng phương pháp và nội dung tập luyện chưa phù hợp với
đối tượng học sinh, dụng cụ sân bãi không đảm bảo quy cách phù hợp và an toàn,
13
do thời tiết khí hậu khắc nhiệt và một số ảnh hưởng ngoại cảm khác: Học sinh
thiếu tập chung học tập, tính tổ chức, tính kỷ luật còn thấp
b) Cách sửa chữa:
- Trước tiên, giáo viên cần nghiên cứu và quan sát kỹ lưỡng để sớm phát
hiện những nguyên nhân đưa tới những thiếu sót, cần điều chỉnh nội dung bài
học, vận dụng các phương pháp sửa chữa sai lầm cho kịp thời phù hợp với đối
tượng.
- Trên thực tế bài học trên lớp giáo viên không thể sửa chữa mọi sai sót
cho học sinh. Đối với học sinh ở các lớp đầu cấp, không nên đòi hỏi học sinh
thực hiện đúng động tác, kỹ thuật trong một thời gian ngắn. Chỉ nên yêu cầu thực
hiện đúng những phần cơ bản của động tác. Khi sửa chữa các động tác sai tránh
áp dụng biện pháp cứng nhắc, cần dựa trên khả năng trình độ vận động của từng
học sinh mà hướng dẫn, nhắc nhở các sai sót cơ bản giúp học sinh sửa chữa, tạo
điều kiện cho học sinh tự sửa cho mình. Trong sửa chữa các động tác sai cần gắn
liền với việc động viên rèn luyện cho học sinh tinh thần dũng cảm, tự tin, mạnh
dạn, làm quen với các điều kiện khó khăn trong tập luyện.

* Ý kiến đề xuất:
- Để tổ chức tốt một giờ học thể dục phù hợp với yêu cầu phát triển toàn
diện của học sinh cũng như kích thích tinh thần tự giác của học sinh. Tôi xin đề
xuất với Ban giám hiệu, các cấp lãnh đạo cho sửa sang sân bãi, trang bị thêm một
số thiết bị phục vụ cho giảng dạy một giờ trên lớp. Để giờ dạy, tập luyện vui chơi
của học sinh cũng như giáo viên đạt kết quả tốt hơn
Than Uyên, ngày 25 tháng 10 năm 2006/.
Người nghiên cứu
15
Vũ Đình Mai
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status