SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MỘT SỐ NỘI DUNG KHÓ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC 11
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Công nghệ thông tin là một ngành khoa học đang phát triển rất mạnh mẽ.
Sự bùng nổ thông tin trong thời đại ngày nay, tốc độ phát triển của công nghệ
thông tin khiến cho người thầy không thể dạy hết mọi điều cho học trò, mà dù có
kéo dài thời gian để dạy hết mọi điều thì rồi các kiến thức đó cũng nhanh chóng
trở nên lạc hậu,
Do đó người thầy cần phải tìm ra phương pháp dạy học tích cực hơn để
tăng hiệu quả dạy và học. Dạy học sinh cách chủ động, phương pháp học, cách
học những điều mà thực tế đòi hỏi thay vì chuyển tải một lượng kiến thức quá
nhiều đến mức học sinh không thể nhớ nổi hoặc có nhớ lúc học, còn lúc cần vận
dụng thì quên hết.
Môn Tin học là một môn học mới mẻ của học sinh THPT, học sinh chưa có
khái niệm về công nghệ thông tin, khái niệm thuật toán trong các ngôn ngữ lập
trình, vì vậy rất khó cho việc dạy và học.
Vậy cần phải có phương pháp dạy và học cho một môn học hoàn toàn mới.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT NGÔ SĨ LIÊN tôi thấy
rằng, để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, tiết học cần có cách thiết kế bài
giảng cho phù hợp với nội dung kiến thức; phương pháp, phương tiện dạy học phải
phù hợp với từng đối tượng học sinh. Để qua mỗi phần học, tiết học học sinh thích
thú với kiến thức mới, qua đó hiểu được kiến thức đã học trên lớp, đồng thời học
sinh thấy được tầm quan trọng của vấn đề và việc ứng dụng của kiến thức trước hết
để đáp ứng những yêu cầu của môn học, sau đó là việc ứng dụng của nó vào các
công việc thực tiễn trong đời sống xã hội (nếu có).
Trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay, việc lập được các chương trình
tự hoạt động cho máy tính, máy gia dụng là cần thiết. Và để làm được việc đó cần
có một quá trình nghiên cứu, học tập về ngôn ngữ lập trình lâu dài, qua đó nhà lập
trình có thể chọn một ngôn ngữ lập trình thích hợp. Tuy nhiên mọi thứ đều có điểm
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 1
nhiều lần. Nếu mỗi lần lặp lại, ta phải viết những đoạn lệnh như nhau thì chương
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 2
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
trình trở nên dài dòng, rối rắm và mất thời gian vô ích. Để giải quyết những
trường hợp như vậy, Pascal cho phép tạo ra các module, mỗi module mang một
đoạn chương trình gọi là chương trình con (subroutine hay subprogram). Mỗi
chương trình con sẽ mang một tên khác nhau. Một module chỉ cần viết một lần
và sau đó có thể truy xuất nó nhiều lần, bất kỳ nơi nào trong chương trình chính.
Khi cần thiết, ta chỉ việc gọi tên chương trình con đó ra để thi hành lệnh. Học sinh
hiểu được việc sử dụng chương trình con, chương trình có thể tiết kiệm được ô
nhớ. Đồng thời, có thể kiểm tra tính logic trong tiến trình lập trình cho máy tính
điện tử, có thể nhanh chóng loại bỏ những sai sót khi cần hiệu chỉnh hay cải tiến
chương trình. Đây là khái niệm cơ bản trong ý tưởng lập chương trình có cấu
trúc. Một quá trình tính cũng có thể có nhiều chương trình con lồng ghép vào
nhau.
1.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu này sẽ nêu các phương pháp để làm rõ một số vấn đề
sau:
• Kiểu dữ liệu mảng một chiều là cần thiết trong các chương trình có sử dụng
nhiều giá trị có kiểu dữ liệu giống nhau
• Tại sao kiểu xâu có thể xem như mảng một chiều và khi sử dụng thì giống kiểu
mảng một chiều ở những điểm nào
• Chương trình con được viết dưới hai dạng: thủ tục (procedure) và hàm
(function).
- So sánh cấu trúc của 2 kiểu chương trình con này thì tương tự với nhau, mặc
dù cách truy xuất của chúng có khác nhau và cách trao đổi thông tin trong mỗi
kiểu cũng có điểm khác nhau. Hàm (function) trả lại một giá trị kết quả vô
hướng thông qua tên hàm và hàm được sử dụng trong biểu thức.
- Liên hệ một số hàm và thủ tục chuẩn đã học:
+ Hàm chuẩn, như hàm sin(x) mà chúng ta đã biết trong chương trước
- Một số giáo viên chưa tìm ra được phương pháp phù hợp để có thể truyền
đạt kiến thức cũng như giúp học sinh tìm ra được những kiến thức mới qua các bài
học của môn tin học 11, dẫn đến học sinh tiếp thu một cách thụ động, không có
hứng thú với môn tin học vì cảm thấy khó.
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 4
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
- Giáo viên chưa biết cách đặt một vấn đề mang tính cởi mở để học sinh
tiếp cận với nội dung mới và chưa nhấn mạnh khi giải một bài toán lớn và phức tạp
thì cần phải chia nhỏ bài toán lớn đó ra thành các bài toán nhỏ hơn, mà dạy theo
cảm tính và trình độ của mình, chưa tìm hiểu rõ năng lực của các đối tượng học
sinh.
- Học sinh đa phần đã tiếp xúc với máy tính và môn Tin học nhưng chủ
yếu là để giải trí và một số kiến thức tin học căn bản. còn với môn lập trình thì tư
duy trừu tượng của các em còn hạn chế.
- Bài giảng của giáo viên đối với một số nội dung khó chưa có tính liên hệ
với thực tế, với nội dung môn Toán học, vì thế khó gây được hứng thú đối với học
sinh trong việc tìm hiểu một kiến thức mới.
- Việc sử dụng tư liệu, đồ dùng dạy học của giáo viên đôi khi chưa hợp lý
nên chưa đáp ứng nhu cầu của bài học. Cụ thể với những nội dung này, giáo viên
cần sử 1 máy vi tính để trình bày tiết dạy theo dạng trực quan và thực hành một số
ví dụ về viết chương trình hoàn chỉnh nhằm giúp học sinh thấy ngay kết quả thực
hành và cũng hình dung được cách sử dụng Chương trình để giải các bài toán. Từ
đó các em sẽ thấy được nội dung bài học, ý nghĩa của từng phần cũng như các sử
dụng dữ liệu hay câu lệnh cho việc viết chương trình nhất là đối với những bài toán
phức tạp khi được giải trên máy tính.
Như vậy khó khăn chung của một số nội dung này là: Giáo viên chưa tìm ra
được phương pháp phù hợp, chưa nghiên cứu tổng quát về hệ thống kiến thức cơ
bản, mối quan hệ giữa các kiến thức của bài này với bài khác, giữa các môn Tin
học với Toán học, với thực tế, chưa biết cách đặt tình huống cho các em tìm hiểu,
thảo luận Do đó học sinh không nắm rõ được các khái niệm cơ bản của kiểu mảng
của mỗi biến là gì?
- Khi thực hiện câu lệnh trong chương
trình thì sẽ gặp trở ngại gì? (Đối với học
sinh toàn trường thì sao?)
- Số lượng biến sử dụng ít, chỉ 1, 2 hoặc
3 biến.
- Bằng số lượng học sinh và biến có kiểu
thực
- Phải viết nhiều câu lệnh lặp lại
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 6
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
Các vấn đề mà giáo viên đặt ra Suy nghĩ và trả lời của học sinh
- Kiểu dữ liệu mà chúng ta đã học khi sử
dụng có còn phù hợp không?
- Em có nhận xét gì về kiểu dữ liệu của
các biến đó?
- Về số lượng biến thì thế nào?
….
- Không còn phù hợp
- Có cùng kiểu với nhau
- Nhiều nhưng là số hữu hạn
…
- Dựa trên phương pháp vấn đáp đó giáo viên có thể giới thiệu được việc cần
thiết của kiểu mảng một chiều
- HS có thể tự khái niệm được: “Mảng một chiều là dãy hữu hạn các phần
tử cùng kiểu”.
* Khai báo mảng một chiều:
Sách giáo khoa có khai báo cả hai cách. Trong đó cách trực tiếp giới thiệu
trước và gián tiếp giới thiệu sau. Tuy nhiên nếu giới thiệu với học sinh theo trình tự
này có thể làm cho học sinh bị thụ động trong cách khai báo vậy giáo viên có thể
)
- Kiểu phần tử là kiểu dữ liệu của từng phần tử trong mảng.
Ví dụ: Type DiemTrungBinh = array [1 50] of real;
Var DTB : DiemTrungBinh;
Đây chính là cách thứ nhất để khai báo mảng. Tiếp theo đó giáo viên cho
học sinh nhận xét về khai báo trên có đặc điểm giống như tính chất bắc cầu của các
biểu thức. và cho học sinh tự viết ra một cách khác.
HS sẽ nhận xét được . <Tên biến mảng> : <Tên kiểu mảng>;
Mà <Tên kiểu mảng > = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>;
Nên có thể thay thế câu lệnh trên bằng câu lệnh sau:
Var <Tên biến mảng> : array[Kiểu chỉ số] of <Kiểu phần tử>;
Đây chính là cách thứ 2 để khai báo:
Như vậy với phương pháp giảng dạy như trên học sinh đã không cần phải phụ
thuộc vào sách giáo khoa, mà chỉ cần nhớ kiến thức cũ và trải qua quá trình vấn đáp
và suy nghĩ theo sự dẫn dắt của giáo viên các em cũng có thể hiểu rõ được vai trò
của kiểu mảng một chiều, khái niệm được và khai báo được mảng một chiều một
cách hoàn toàn tự nhiên. Học sinh sẽ cảm thấy hứng thú và nhớ bài ngay trên lớp.
2.2. Kiểu xâu:
Bản chất của kiểu xâu là kiểu mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí tự.
Dựa vào điều này giáo viên cần gợi ý để học sinh nhận xét và thấy rõ được đặc
điểm của kiểu xâu. Có thể dựa vào các mô phỏng sau và cho học sinh nhận xét.
1 4 2 8 5 9 3
2.5 6.1 5.0 4.3 7.2
T I N H O C
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 8
Dãy A:
Dãy B:
Dãy C:
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
HS nhận xét: Dãy A là dãy gồm 7 số nguyên
b. Biến cục bộ (local variable): Còn được gọi là biến riêng, là biến được
khai báo ở đầu chương trình con, và nó chỉ được sử dụng bên trong thân chương
trình con hoặc bên trong thân chương trình con khác nằm bên trong nó (các
chương trình con lồng nhau). Biến cục bộ chỉ tồn tại khi chương trình con đang
hoạt động, nghĩa là biến cục bộ sẽ được cấp phát bộ nhớ khi chương trình con
được gọi để thi hành, và nó sẽ được giải phóng ngay sau khi chương trình con kết
thúc.
c. Tham số thực hay còn gọi là Tham trị (actual parameter) là một
tham số mà nó có thể là một biến toàn cục, một biểu thức hoặc một giá trị số
(cũng có thể biến cục bộ khi sử dụng chương trình con lồng nhau) mà ta dùng
chúng khi truyền giá trị cho các tham số hình thức tương ứng của chương trình
con.
d. Tham số hình thức hay còn gọi là Tham biến (formal parameter) là
các biến được khai báo ngay sau Tên chương trình con, nó dùng để nhận giá trị
của các tham số thực truyền đến. Tham số hình thức cũng là một biến cục bộ, ta
có thể xem nó như là các đối số của hàm toán học.
2.3.2. Lời gọi chương trình con
Để chương trình con được thi hành, ta phải có lời gọi đến chương trình con,
lời gọi chương trình con thông qua tên chương trình con và danh sách các tham số
tương ứng (nếu có). Các qui tắc của lời gọi chương trình con:
Trong thân chương trình chính hoặc thân chương trình con, ta chỉ có thể gọi
tới các chương trình con trực thuộc nó.
Trong chương trình con, ta có thể gọi các chương trình con ngang cấp đã được
thiết lập trước đó.
2.3.3. Thủ tục (Procedure):
Thủ tục là một đoạn cấu trúc chương trình được chứa bên trong chương
trình Pascal như là một chương trình con. Thủ tục được đặt tên và có thể chứa
danh sách tham số hình thức (formal parameters). Các tham số này phải được đặt
trong dấu ngoặc đơn ( ). Ta có thể truy xuất thủ tục bằng cách gọi tên của thủ
tục. Chương trình sẽ tự động truy xuất thủ tục đúng tên đã gọi và thực hiện các
Writeln ( ‘Nhap 3 so nguyen ‘ ) ;
Readln (a, b, c ) ;
maximum ;
Write ( ‘ Tiep tuc nhap 3 so moi khong (y/n) ? ‘ ) ; Readln (yn) ;
End ;
END.
Trong chương trình trên, thủ tục maximum được khai báo trước khi nó
được truy xuất, các biến a, b, c được gọi nhập vào ở chương trình chính và biến
max được định nghĩa bên trong thủ tục. Điều này cho ta thấy, không phải lúc nào
cũng cần thiết khai báo biến ngay đầu chương trình chính như vậy ở đây ta thấy
các biến a, b, c, yn là các biến toàn cục, biến max là biến cục bộ.
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 11
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
V í d
ụ2 : nhập vào một mảng 1 chiều gồm n phần tử là các số nguyên tính và đưa
ra màn hình tổng các số nguyên lớn hơn 0.
PROGRAM tong_mang;
Uses crt;
Var a:array[1 100] of integer; n:integer;
PROCEDURE nhap;
Var i:integer;
Begin
Write(‘nhap n=’);
readln(n);
For i:=1 to n do
Begin
Write(‘a[’,i,’]=’);
Readln(a[i]);
End;
parameters).
Một thủ tục có thể có 1 hoặc nhiều tham số hình thức. Khi các tham số
hình thức có cùng một kiểu thì ta viết chúng cách nhau bởi dấu phẩy (,). Trường
hợp các kiểu của chúng khác nhau hoặc giữa khai báo tham số truyền bằng tham
biến và truyền bằng tham trị (sẽ học ở phần sau ) thì ta phải viết cách nhau bằng
dấu chấm phẩy (;).
V í d
ụ : Tính giai thừa của một số
Program Tinh_Giai_thua ;
Var n : integer ; gt : real ;
Procedure giaithua (m : integer );
Var i : integer ;
Begin
gt := 1 ;
For i := 1 to m do gt := gt * i ;
End;
BEGIN
Write(‘Nhap so nguyen n (0 <= n < 33) = ‘ ) ;
Readln (n);
If n>=0 then
Begin
giaithua (n);
Writeln (‘Giai thua cua ‘, n, ‘ la : ‘, gt: 10 : 0) ;
End
Else Writeln( ‘ khong tinh duoc giai thua!‘ ) ;
Readln;
END.
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 13
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
ụ : FUNCTION TINH (x, y : integer ; z : real ) : real ;
Đây là một hàm số có tên là TINH với 3 tham số hình thức x, y, z. Kiểu
của x và y là kiểu số nguyên integer còn kiểu của z là kiểu số thực real. Hàm
TINH sẽ cho kết quả kiểu số thực real.
V í d
ụ : Bài toán tính giai thừa.
Program giaithua;
Var x : integer ;
Function gt(n : integer):integer ;
Var i, tichso : integer ;
Begin
tichso:= 1 ;
If n > 1 Then
For i := 2 to n do
tichso:= tichso * i ;
gt := tichso;
End ;
BEGIN
Write (‘ Nhap vao so nguyen duong x = ‘ );
Readln (x) ;
Writeln (‘ Voi x = ‘, x , ‘ thi giai thua se la : x ! = ‘, gt(x));
Readln;
END.
Khai báo kiểu dữ kiệu cho các tham số hình thức trong thủ tục và hàm, ta
cần phải chú ý điểm sau:
Nếu kiểu dữ liệu của các tham số hình thức là các kiểu dữ liệu có cấu trúc
(kiểu array, string, kiểu record, ) thì việc khai báo kiểu dữ liệu cho các tham số
hình thức nên được khai báo theo cách gián tiếp, tức là phải thông qua từ khóa
trị của tham số thực, nghĩa là giá trị của tham số thực sau khi thoát khỏi chương trình
con vẫn luôn bằng với giá trị của tham số thực trước khi truyền đến chương trình
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 16
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
con đó. Do vậy một tham trị không bao giờ là kết quả tính toán của chương trình
con.
Ví dụ1: Viết chương trình tính lập phương a
3
.
PROGRAM vidu_thamtri_1;
VAR num: integer; {num là biến toàn cục}
PROCEDURE LapPhuong(var a:integer);{a là một tham biến}
Begin
a:=a*a*a;
End;
BEGIN
write(‘Nhập số cần tính lập phương num = ‘);
readln(num);
LapPhuong(num); {tham số thực num được truyền cho tham biến a}
writeln(‘Lập phương của số vừa nhập = ‘, num);
readln;
END.
Ví dụ:
PROGRAM vidu_Thamtri_2;
VAR a, b : integer ; {biến toàn cục }
PROCEDURE thamso (x : integer ; VAR y : integer ) ;{ x: là tham số trị , còn y là
tham số biến}
BEGIN
x := x + 1 ;
y := y + 1 ;
If b = 0 Then
If c = 0 Then Writeln('Phuong trinh co vo so nghiem!')
Else Writeln('Phuong trinh vo nghiem!')
Else Writeln('Phuong trinh co mot nghiem: x = ',-c/b:0:1)
Else
Begin
d := b * b - 4 * a * c;
If d < 0 Then Writeln('Phuong trinh vo nghiem!')
Else
If d = 0 Then Writeln('Pt co nghiem kep: x1 = x2 = ',-b / (2 * a):0:1)
Else
Begin
Writeln('Phuong trinh co hai nghiem phan biet:');
Writeln('x1 = ',(-b + sqrt(d)) / (2 * a):0:1);
Writeln('x2 = ',(-b - sqrt(d)) / (2 * a):0:1);
End;
End;
Readln;
End.
Cách 2: theo phương pháp dùng chương trình con.
Mục tiêu là chia bài toán ban đầu thành những bài toán nhỏ độc lập. Chẳng hạn:
Ta sử dụng chương trình con thành hai bài toán :
T1: Giải phương trình bậc nhất
T2: Giải phương trình bậc hai
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 18
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
Program giai_pt_bac2;
Uses crt;
Var a, b, c: Real;
End.
Ở đây ta lại thấy trong bài toán trên việc giải phương trình bậc hai có ba trường
hợp xảy ra. Ta nên chia tiếp thành 5 bài toán nhỏ như sau và cách 2 có thế viết lại
như sau:
T1: Giải phương trình bậc nhất
T2: ∆ > 0
T3: ∆ = 0
T4: ∆ < 0
T5: Giải phương trình bậc hai
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 19
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
Var a, b, c, d: Real;
Procedure ptb1(m, n : Real);
Begin
If m = 0 Then
If n = 0 Then Writeln('Phuong trinh co vo so nghiem!')
Else Writeln('Phuong trinh vo nghiem!')
Else Writeln('Phuong trinh co mot nghiem: x = ',-n / m:0:1)
End;
Procedure denta_am;
Begin
Writeln('Phuong trinh vo nghiem!');
End;
Procedure denta_0(p, q: Real);
Begin
Writeln('Phuong trinh co nghiem kep: x1 = x2 = ',-q / (2 * p):0:1)
End;
Procedure denta_duong(i, j: Real);
Begin
Writeln('Phuong trinh co hai nghiem phan biet:');
Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu – Kém
11A1 (45) Thường xuyên 05(11.1%) 17(37.8%) 21(46.6%) 02(4.5%)
11A3 (45) không áp dụng 00 (0%) 04(8.9%) 19(42.2%) 22(48.9%)
11A4 (44) Có áp dụng 01(2.2%) 09(20.5%) 20(45.5%) 14(31.8%)
11A5 (45) Ít áp dụng 00 (0%) 05(11.1%) 21(46.7%) 19(42.2%)
Trong đó lớp 11A3, 11A4, 11A5 trình độ tương đương nhau, còn lớp 11A1 là
lớp chọn, có đầu vào tốt hơn.
Như vậy, với những suy nghĩ và cố gắng ban đầu, tôi đã biên soạn giáo án
và giảng dạy từ kinh nghiệm từ các năm, từ kinh nghiệp khi dự giờ của đồng
nghiệp cụ thể là những nội dung đã nêu trên tôi thấy đã có một kết quả khả
quan hơn điều đó được thể hiện ở tỉ lệ của các lớp được phân công giảng dạy
khi tôi áp dụng thử nghiệm với những mức độ khác nhau.
Bản thân tự nhận thấy rằng một khi giáo viên tập trung đầu tư công sức và
kiến thức vào bài dạy, học sinh sẽ tiếp thu bài một cách tích cực không thụ
động và hứng thú trong học tập hơn. Chính sự ham mê, tích cực học của học
sinh là động lực thúc đẩy giáo viên cần đổi mới tư duy, phương pháp dạy học
phù hợp với sách giáo khoa mới. Mỗi giờ học mà các em đạt kết quả cao đã thể
hiện được phần nào tâm huyết của người dạy.
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 21
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm áp dụng tại đơn vị bước đầu đã có những
hiệu quả, bên cạnh đó tôi thấy cần có thời gian nhiều hơn để thử nghiệm, vì vẫn còn
có một số học sinh vẫn chưa đạt yêu cầu tuy điểm kiểm tra xấp xỉ trung bình.
Môn Tin học là một môn học mới mẻ của học sinh THPT, học sinh chưa có
khái niệm về công nghệ thông tin, khái niệm thuật toán trong các ngôn ngữ lập
trình, vì vậy rất khó cho việc dạy và học. Cần phải có thời gian nhiều hơn cho lý
thuyết và thực hành, vì theo phân phối chương trình như hiện nay thời gian giảng
dạy còn ít, học sinh chưa nắm bắt được lý thuyết cũng như thực hành. Đội ngũ
NGƯỜI THỰC HIỆN
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 23
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
V - TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa tin học 11 Hồ Sĩ Đàm chủ biên
2. Sách giáo viên tin học 11 Hồ Sĩ Đàm chủ biên
3. Hướng dẫn việc thực hiện giảm tải môn tin học 11 của Bộ GD & ĐT
4. Một số sáng kiến kinh nghiệm và ý kiến của đồng nghiệp .
5. Cấu trúc dữ liệu và giải thuật của Đỗ Xuân Lôi
GV : Trịnh Văn Thịnh Trang 24
SKKN: Phương pháp giảng dạy một số nội dung khó trong chương trình tin học 11
VI. MỤC LỤC
Nội dung Trang
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2
1. Cơ sở lý luận 2
1.1. Mục đích chọn đề tài 2
1.2. Phạm vi nghiên cứu 3
1.3. Thực trạng về thuận lợi và khó khăn 4
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài 6
2.1. Kiểu mảng 6
2.2. Kiểu xâu 8
2.3. Chương trình con 9
2.3.1. Một số khái niệm về biến 9
2.3.2. Lời gọi chương trình con 10
2.3.3. Thủ tục 10
2.3.4. Hàm 14
2.3.5. Truyền tham số cho chương trình con 16
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 21
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 22