BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH LÁNG HẠ
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN PHÚ HƢNG
MÃ SINH VIÊN
: A16159
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO VAY ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô
Trường Đại Học Thăng Long, quý thầy cô khoa Tài Chính – Ngân Hàng đã dạy dỗ,
truyền thụ những kiến thức quý báu cho em trong suốt bốn năm học tập tại trường. Em
xin cảm ơn cô Trần Thị Thùy Linh đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Chi nhánh Láng Hạ, các anh chị trong phòng tín dụng nơi em trực tiếp thực
tập đã tận tình chỉ bảo, giải đáp thắc mắc trong công việc giúp em có thêm kiến thức
về chuyên ngành Ngân Hàng.
Với vốn kiến thức hạn hẹp và thời gian thực tập tại Chi nhánh có hạn nên em
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những đóng góp, phê bình
của thầy cô và anh chị trong Chi nhánh. Đó sẽ là hành trang giúp em hoàn thiện kiến
thức của mình sau này.
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1
1.1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM 2
1.1.1. Khái niệm về cho vay, khách hàng cá nhân, và cho vay khách hàng cá nhân . 2
1.1.2. Nguyên tắc cho vay KHCN của ngân hàng 2
1.1.3. Đặc điểm cho vay KHCN của NHTM 3
2.2.2. Thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá
nhân tại Chi nhánh Láng Hạ: 30
2.3. Đánh giá công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân tại Chi
nhánh Láng Hạ 38
2.3.1. Những kết quả đạt được 38
2.3.2. Những vướng mắc, hạn chế 40
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 43
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN
DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH LÁNG HẠ 45
3.1. Định hƣớng hoạt động và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng
cá nhân của Ngân hàng NNo & PTNT chi nhánh Láng Hạ 45
3.1.1. Phương hướng hoạt động của Agribank chi nhánh Láng Hạ năm 2014 45
3.1.2. Quan điểm chỉ đạo của Agribank chi nhánh Láng Hạ về chính sách tín dụng
và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân đến năm 2015 45
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay cá
nhân tại ngân hàng Agribank chi nhánh Láng Hạ 47
3.2.1. Hoàn thiện chính sách tín dụng 47
3.2.2. Xây dựng mô hình kiểm soát hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách
hàng cá nhân 48
3.2.3. Quy trình tín dụng phân rõ trách nhiệm từng khâu nghiệp vụ 48
3.2.4. Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 49
3.2.5. Các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách
hàng cá nhân 50
3.2.6. Đo lường rủi ro tín dụng để xác định tổn thất 52
3.2.7. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra nội bộ 53
3.2.8. Giải pháp phân tán rủi ro 53
TCTD
Tổ chức tín dụng
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Bảng 1.1: Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro 15
Bảng 2.1 Kết quả huy động vốn của NH NNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ 21
Bảng 2.2. Cơ cấu dư nợ cho vay của NHNNo&PTNT - CNLáng Hạ 23
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh 25
Bảng 2.4. Tỷ lệ nợ xấu qua từng năm của chi nhánh Láng Hạ 26
Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ cho vay khách hàng cá nhân 27
Bảng 2.6. Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân theo tài sản đảm bảo 28
Bảng 2.7. Cơ cấu dư nợ cho vay khách hàng theo thời gian 29
Bảng 2.8. Trích lập dự phòng rủi ro đối với khách hàng cá nhân 30
Bảng 2.9: Hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân 34
Bảng 2.10: Hệ thống xếp hạng khách hàng cá nhân 35
Bảng 2.11: Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân phân theo nhóm nợ 36
Bảng 2.12: Mức giảm tỷ lệ nợ xấu đối với khách hàng cá nhân 38
Sơ đồ 2.1: Quy trình cấp tín dụng và hạn chế rủi ro 31
Công thức 1.1: Tỷ lệ nợ xấu 14
Công thức 1.2 Tỷ lệ xóa nợ ròng 14
Công thức 1.3:Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro 14
Công thức 3.1: Tính xác suất bị rủi ro cách 1 52
Công thức 3.2: Tính xác suất bị rủi ro cách 2 52 LỜI MỞ ĐẦU
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay
khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh
Láng Hạ.
1
CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM
1.1.1. Khái niệm về cho vay, khách hàng cá nhân, và cho vay khách hàng cá nhân
Theo mục 2- Điều 3- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về qui chế cho vay của
Tổ chức tín dụng, cho vay là: “một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mụcđích và thời gian nhất định
với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Khách hàng cá nhân: là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng
cho những mụcđích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ sản xuất kinh doanh của cá nhân
hay hộ gia đìnhđó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân
thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vốn vay rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu
vay vốn của mỗi khách hàng cá nhân là không thường xuyên và chịuảnh hưởng của
môi trường kinh tế, văn hóa-xã hội.
Cho vay khách hàng cá nhân: là một hình thức cấp tín dụng tập trung vào nhóm
đối tượng khách hàng cá nhân. Các khoản tín dụng này nhằm mục đích phục vụ nhu
cầu chi tiêu của khách hàng cá nhân như mua sắm ô tô, xe máy, các vật dụng trong gia
đình. Ngoài ra còn phục vụ nhu cầu đầu tư kinh doanh của cá nhân khách hàng như
mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất. Các khoản tín dụng này đều hoạt
động theo nguyên tắc chung trong cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn.
1.1.2. Nguyên tắc cho vay KHCN của ngân hàng
KHCN thường nhỏ hơn các khoản vay của Doanh nghiệp. Tuy vậy, ở các NHTM số
lượng các khoản vay của KHCN thường lớn, đặc biệt các NHTM hoạt động theo định
hướng là ngân hàng bán lẻ thì số lượng này là rất lớn, do đó tổng quy mô các khoản
vay của KHCN thường chiếm tỷ đồng trọng lớn trong tổng dư nợ của Ngân hàng.
- Chi phí cho vay:
Do các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ, số lượng các khoản vay lại
thường rất lớn nên các Ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhân lực và vật lực)
trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt, và xử lý các khoản vay do đó
chi phí tính trên mỗi đồng vay của KHCN thường lớn hơn của DN.
- Lãi suất cho vay:
Lãi suất của các khoản vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay khác của
NHTM. Nguyên nhân là do chi phí cho vay KHCN lớn, các khoản cho vay KHCN có
mức rủi ro cao và KHCN thường kém nhạy cảm với lãi suất cho vay do KHCN thường
chỉ quan tâm đến số tiền được vay, thời hạn vay và số tiền phải trả theo định kỳ mà
không xem lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình vay vốn. Cả ba nguyên
nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn các khoản cho vay khác.
Chẳng hạn, ở những nước có hoạt động cho vay KHCN phát triển như Mỹ, lãi suất cho
vay KHCN có thể cao gấp 3-4 lần lãi suất cho vay DN, ở Việt Nam lãi suất cho vay
KHCN thông thường cao hơn 1,2-1,5 lần cho vay DN.
- Rủi ro tín dụng:
Các khoản vay của KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Sở dĩ
như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tùy theo
tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá
nhân và hộ gia đình thường có trình đọ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ kĩ
thuật và khoa học công nghệ lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn
chế. Do đó ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay bị thất nghiệp,
3
- Phân loại theo hạn mức
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn
bản chấp thuận việc khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản khách hàng phù
hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về việc thanh toán qua các tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân và khách hàng xác định và thỏa thuận
một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian xác định.
4
- Phân loại theo Tài sản đảm bảo
Các biện pháp đảm bảo an toàn cho vay là yếu tố quan trọng trong việc xét duyệt
cho vay của ngân hàng với khách hàng, hiện tại ngân hàng xem xét cho vay với khách
hàng dựa trên hai hình thức:
+ Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản
thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ 3. Tài sản đảm bảo có
thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hóa, máy móc thiết bị, bất động
sản…
+ Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp: Là cho vay không cần
tài sản đảm bảo mà ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của khách hàng. Ngân hàng lựa
chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này.
1.2. Rủi ro trong tín dụng cho vay KHCN của NHTM
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong tín dụng cho vay KHCN
Rủi ro tín dụng trong hoạt động rất đa dạng nó có thể là rủi ro khi ngân hàng bị ứ
đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng do sự chênh lệch về tỷ đồng trọng giữa vốn cho
vay và vốn đi vay theo tiêu thức thời gian, rủi ro tín dụng khi các vật bảo đảm tín dụng
không còn giá trị như khi đánh giá ban đầu trước khi cho vay hay rủi ro tín dụng khi
ngân hàng không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này chỉ xem
xét rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ
là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân
hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất
vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây
hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng.
Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những
biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
Hiểu một cách ngắn gọn thì rủi ro tín dụng cá nhân được hiểu là: Khoản lỗ tiềm
tàng vốn cóđược tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng cá nhân.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại
tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động.Rủi ro thất thoát tài sản khi
cấp tín dụng cá nhân có thể phát sinh khi một bên đối tác (cá nhân vay vốn) không
thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm
cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ
đến hạn.
Việc phân loại rủi ro tín dụng cá nhân hợp lý sẽ giúp nâng cao khả năng và hiệu
quả áp dụng những phương pháp phù hợp trong việc hạn chế rủi ro. Cơ sở khoa học
của việc phân loại rủi ro sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngân hàng có thể xác
đinh rõ ràng vị trí của từng loại rủi ro, nguyên nhân dẫn đếntrong hệ thống rủi ro.
Rủi ro tín dụng cá nhân dẫn đến nợ quá hạn do nhiều nguyên nhân và tuỳ vào
từng tiêu thức phân loại, mục đích nghiên cứu hoặc đứng dưới giác độ khác nhau,
người ta có thể phân loại theo những nhóm nguyên nhân khác nhau.
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
- Thứ nhất, các nguyên nhân khách quan
+ Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: Thiên
tai dịch hoạ, sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng … gây ra các biến động xấu
ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình.
Những nguyên nhân này có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến hoạt động của khách
6
lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không
được hoàn trả đầy đủ.
+ Rủi ro do nhân tố quốc tế: Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, tín dụng
trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, dễ bị ảnh hưởng bởi tình
hình kinh tế, chinh trị quốc tế, các chính sách tài chính của các quốc gia.
- Thứ hai, các nguyên nhân chủ quan
+ Nguyên nhân đến từ Ngân hàng
Rủi ro do ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng, phù hợp với thực
trạng nền kinh tế. Chính sách cho vay của một ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt
7
động tín dụng của ngân hàng đó. Chính sách cho vay thống nhất, đầy đủ và đúng đắn
sẽ giúp cán bộ tín dụng xác định đúng phương hướng khi thực hiện nhiệm vụ của
mình, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng
không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ làm cho hoạt động tín dụng lệch lạc, dẫn đến
việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra kẽ hở cho ngưới sử dụng vốn, dẫn đến
tín dụng – nợ quá hạn.
Rủi ro do tính toán không chính xác hiệu qủa đầu tư dự án xin vay, dẫn đến các
quyết định sai lầm trong cho vay. Cán bộ tín dụng chưa được đào tạo đầy đủ, không
am hiểu về lĩnh vực kinh doanh mà mình đang cho vay hoặc đôi khi, do chính cán bộ
tín dụng cố ý cho vay, măc dù biết dự án cho vay không hiệu quả, gây rủi ro cho ngân
hàng.
Rủi ro do ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người đi vay
hoặc do chủ quan tin tưởngvào khách hàng quen của mình mà coi nhẹ khâu kiểm tra
về tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ …
Rủi ro do thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời,
dẫn đến ngân hàng không có danh sách “ phân loại khách hàng ” để có sự phân tích, đánh
giá khách hàng cá nhân một cách khách quan, đúng đắn.
1.2.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
ảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể. Đầu tiên
là bản thân các ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế.
- Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng
+ Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho
nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi trả
tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi nhuận
không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại.
Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của các NHTM.
+ Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài
chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân
hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ
vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
- Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân
+ Đối với bản thân khách hàng cá nhân không có khả năng hoàn trả vốn (lãi)
cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và
thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín. Đây được hiểu
đơn giản là khách hàng này đã được liệt vào danh sách đen và cảnh báo với các ngân
hàng khác về nguy cơ không thu hồi được tiền nếu cho khách hàng này vay
+ Khách hàng cá nhân nhiều khả năng sẽ bị thu giữ tài sản thế chấp trong
trường hợp không thể thanh toán được khoản nợ gốc và lãi với ngân hàng.
- Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
+ Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút
và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế
ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế.
+ Ở mức độ thấ
ến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến
khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn
đổi khi mỗi cá nhân, các doanh nghiệp phải cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong
lĩnh vực hoạt động của họ nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế.
Các khoản tín dụng đối với cá nhân, thường không lớn, tuỳ thuộc vào mỗi ngân
hàng thì số lượng khách hàng cá nhân và quy mô đối với nó so với các khách hàng
khác cũng là khác phụ thuộc vào chớnh sách tín dụng và thị trường khách hàng mục
tiêu của ngừn hàng. Tuy nhiên nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan nên
khả năng kiểm soát thấp, rủi ro xảy ra là cao. Vì vậy, đặt ra vấn đề hạn chế rủi ro tín
dụng đối với cá nhân là cần thiết.
Hơn nữa, hoạt động của ngân hàng dựa trên uy tín và niềm tin. Khách hàng của
ngân hàng rất đông, chỉ cần một khách hàng gặp rủi ro sẽ gây tác động xấu tới hình
ảnh ngân hàng. Phản ứng dây truyền trong hoạt động của ngân hàng là rất lớn. Do đó,
để xây dựng được hình ảnh tốt về ngân hàng nên xây dựng chiến lược hạn chế rủi
10
rođối với từng đối tượng khách hàng, không phân biệt quy mô khách hàng lớn hay
nhỏ, khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp.
Cuối cùng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, là sự lớn mạnh của thị trường
khách hàng cá nhân. Thị trường này đang được coi là thị trường mục tiêu của không ít
các ngân hàng. Lượng khách hàng cá nhân ngày càng ra tăng ở các ngân hàng. Như
vậy, xây dựng một chiến lược để hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân là tất yếu đối với mỗi
ngân hàng.
1.3.3. Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân
Để thực hiện hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân một cách hiệu
qủa nên chia đối tượng khách hàng này thành hai nhóm khách hàng theo tiêu thức mục
đích sử dụng vốn vay. Theo tiêu thức này nhóm khách hàng cá nhân được chia thành
hai nhóm: cá nhân vay tiêu dùng và cá nhân vay sản xuất kinh doanh. Đối với mỗi mục
đích vay sẽ định hướng trước nguồn trả nợ và xác định nội dung hạn chế rủi ro tín
dụng riêng. Tuy nhiên, đối với khách hàng cá nhân vay vốn dù với mục đích tiêu dùng
khoản vay một cách chặt chẽ, tránh sự chủ quan, tuỳ tiện, duy ý trí. Do đó, giảm thiểu
nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chủ quan trong quá trình phân
tích, đánh giá cũng như kiểm tra, kiểm soát tín dụng. Về cơ bản, một quy trình tín
dụng được chia làm ba giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay.
a) Giai đoạn trƣớc khi cho vay
Đây là giai đoạn quan trọng nhất quyết định chất lượng của một khoản tín dụng.
Thông qua nội dung phân tích, cán bộ tín dụng sẽ đánh gớa được mức độ rủi ro của
khoản vay, để từ đó xem xét có thực hiện tài trợ cho khách hàng hay không.
-Kiểm tra về hồ sơ cho vay: Cần đánh giá chính xác về tính hợp pháp hợp lệ của
hồ sơ cho vay. Đặc biệt, cần lưu ý đến tính pháp lý và tính thực tiễn của những tài liệu
trong hồ sơ vay vốn như đơn xin vay, phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả
nợ … Đối với đơn xin vay, cần làm rõ mục đích và lý do của việc vay tiền. Phương án
sản xuất kinh doanh cần phải làm rõ những điều kiện cụ thể thực hiện phương án, dự
án, môi trường kinh doanh, khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đối với phương án hoàn trả,
phải xác minh chính xác nguồn thu nhập, mức lương …Trong giai đoạn này, cán bộ tín
dụng cần tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án vay vốn, sau đó tiến hành
phân tích gồm: đánh giá tổng thể về khách hàng và phương án trả nợ, biện pháp quản
lý, kiểm soát của ngân hàng về nguồn tiền trả nợ của khách hàng, khả năng bảo đảm
tiền vay và biện pháp quản lý kiểm soát của ngân hàng về tài sản đảm bảo tiền vay của
khách hàng.
b) Giai đoạn trong khi cho vay
Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết và vốn vay được giải ngân. Ngân hàng sẽ
tiến hàng kiểm soát khách hàng theo các nội dung như: sử dụng tiền vay đúng mục
đích, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ không ….Công việc này cho phép ngân
hàng thu thập thêm các thông tin về khách hàng. Tăng cường đối chiếu công nợ và
phân loại nợ. Việc đối chiếu dư nợ cho vay trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng
giúp ngân hàng phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai phạm trong công tác cho vay
của cán bộ tín dụng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, điều đó cho thấy
chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược lại, khi nhận thấy khoản vay đang
đứng trước nguy cơ rủi ro tín dụng, ngân hàng cần có các biện pháp xử lý kịp thời.
KHCN
- Mức giảm tỷ lệ nợ xấu
Để đánh giá đúng chất lượng của các tài sản Có của NHTM, các khoản cho
vay/cấp tín dụng (thường được gọi với tên thông dụng là các khoản nợ) và cam kết
ngoại bảng (bảo lãnh, chấp nhận thanh toán, cam kết cho vay không hủy ngang…)
được phân loại từ Nhóm 1 - 5 và được trích lập dự phòng rủi ro tương ứng.
Nợ xấu dùng để chỉ các khoản nợ phân loại vào các nhóm 3, 4 và 5.
Nợ xấu về bản chất là khái niệm dùng để chỉ các khoản nợ cho vay khách hàng
đang đối diện với rủi ro cao trong việc thu hồi nợ gốc và lãi vay do khách hàng gặp
khó khăn. Hệ thống quy định của Việt Nam hiện tại đánh giá rủi ro này chủ yếu dựa
trên số ngày quá hạn trong việc trả nợ vay. Tuy nhiên, giới chuyên môn cũng ghi nhận
nhiều trường hợp các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ (giãn nợ) hay ký hợp
đồng vay mới (đảo nợ) để không phải ghi nhận vào nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Trong
khi đó, khái niệm Tỷ lệ cấp tín dụng xấu được mở rộng hơn, là tỷ lệ giữa tổng nợ và
13
tỷ lệ xóa nợ ròng tăng lên, chứng tỏ Ngân hàng đã bớt đi những khoản nợ phải xóa,
giúp tăng uy tín cho Ngân hàng.
- Mức giảm tỉ lệ trích lập dự phòng rủi ro
Dư nợ xóa ròng
Dự phòng rủi ro =
x 100%
Tổng dư nợ
Công thức 0.3:Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro
14
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự
phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng (nợ) của ngân hàng.
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng là một khoản mục thuộc tài
sản và làm giảm giá trị của tài sản Có, nhằm phản ánh sự suy giảm của tài sản trước
những tổn thất có khả năng xảy ra. Trong khi đó, trong bảng kết quả kinh doanh, dự
phòng là một khoản chi phí phi tiền mặt (non cash), được ghi nhận làm giảm lợi
nhuận/vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
- Dự phòng rủi ro tín dụng gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
+ Dự phòng chung (General provision) được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất có thể xảy ra, nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể.
Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng
Nhà nước, dự phòng chung được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ
nhóm 1 đến nhóm 4, trừ Tiền gửi và cho vay liên ngân hàng.
+ Dự phòng cụ thể (Specific provision) được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể.
Công thức tính: Dự phòng cụ thể = Tỷ lệ trích lập x (Số dư khoản nợ - Giá trị
khấu trừ của tài sản đảm bảo)
Thứ nhất: Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng
Chất lượng cán bộ tín dụng bao gồm trình độ chuyên môn và đạo đức nghề
nghiệp là nhân tố đầu tiên trực tiếp ảnh hưởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng của
NHTM.
Khi cán bộ tín dụng có thái độ chủ quan, quá tín tưởng vào khách hàng quen của
mình mà coi nhẹ khâu kiểm tra đánh giá người vay, tính khả thi cuả phương án xin vay
…. sẽ dẫn đến việc cho vay vượt quá khả năng chi trả của khách hàng. Bên cạnh đó
nếu coi, nếu coi tài sản đảm bảo là điểm xuất phát, là điều kiện tiên quyết khi xét duyệt
một khoản tín dụng mà coi nhẹ công tác thẩm định thì có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ những
khoản vay có chất lượng tốt.Như vậy, phải kể đến rủi ro đạo đức của một bộ phận cán
bộ liên quan đến cho vay vốn, cố ý làm trái quy định về tín dụng, thiếu tinh thần trách
nhiệm … là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác hạn chế rủi ro của ngân hàng.
Về phía ngân hàng, việc thẩm định dự án, phương án kinh doanh chưa toàn diện,
trình độ cán bộ thẩm định chưa đáp ứng được yêu cầu, quản lý việc phát tiền vay cho
khách hàng, sử dụng vốn vay và theo dõi tình hình hoạt động của khách hàng thiết chặt
chẽ; thiếu khả năng hạn chế rủi ro. Việc đánh giá sai trong khi xem xét các yếu tố pháp lý
hoặc không phát hiện được các sai sót trong hồ sơ chứng từ cho vay để phát sinh rủi ro
tín
dụng cũng có thể là do cán bộ tín dụng có những vấn đề về đạo đức nghề nghiệp, cho vay
vì mưu lợi cá nhân.
Thứ hai: các công cụ quản lý rủi ro của ngân hàng
Quy trình tín dụng Quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn
chế sai sót khi cho vay và giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Quy trình tín
dụng sẽ quy định rõ ràng từng khâu trong công việc và trách nhiệm cụ thể của cán bộ
có liờn quan. Nếu quy trình tín dụng hợp lý, ngân hàng sẽ có một quy trình cho vay
khoa hoc, điều này tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng dễ dàng quản lý được khoản vay.
Ngược lại, nếu một quy trình tín dụng quá phức tạp sẽ gây khó khăn cho cả ngân hàng
và khách hàng. Quy trình tín dụng là một công cụ của công tác hạn chế rủi ro tín dụng
thông tin phục vụ cho việc thẩm định tín dụng, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của
khách hàng… Qua đó, ngân hàng có thể xem xét được khả năng rủi ro và thực hiện các
biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Tóm lại, mọi hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều tiềm ẩn rủi ro. Với đặc
trưng hoạt động của mình, ngân hàng cũng chứa đựng nguy cơ rủi ro cao, đặc biệt là
rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng thường xuyên xảy ra và khi xảy ra nó không chỉ ảnh
hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng mà còn làm giảm uy tín của ngân hàng
trên thị trường. Tín dụng cá nhân ngày càng phát triển ở các ngân hàng, cùng với sự
gia tăng đó là hàng loạt các yếu tố mới phát sinh, trong đó có những yếu tố mang lại
nguy cơ rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, các NHTM cần phải thực hiện công tác hạn chế
rủi ro tín dụng cá nhân, trên cơ sở phân tích các nguyên nhân và đưa ra các biện pháp
phù hợp.
Kết luận chƣơng 1:
Trong chương 1 đã đi sâu giới thiệu lý luận về rủi ro tín dụng trong cho vay
khách hàng cá nhân tại NHTM, các hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng mà các NHTM
đang áp dụng cho khách hàng cá nhân, từ đó làm nền tảng cho phân tích thực trạng hạn
chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn chi nhánh Láng Hạ.
17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH LÁNG HẠ
2.1. Tổng quan về NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thônCN Láng Hạ
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
chi nhánh Láng Hạ.
Với mục đích mở rộng mạng lưới kinh doanh của hệ thống NHNo & PTNT Việt
18
khác trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ; phát hành chứng chỉ
tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn…
- Cho vay: thực hiện cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh dịch vụ, đời sống cho tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Cho vay
trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh…
- Kinh doanh ngoại hối: huy động vốn và cho vay, mua bán ngoại tệ thanh toán
quốc tế, bảo lãnh, tái bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ
khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của chính phủ, Ngân hàng nhà
nước và của NH NN&PTNT Việt Nam.
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quĩ gồm: cung ứng các phương tiện
thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các dịch vụ
thu chi và phát tiền mặt cho khách hàng, các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của
Ngân hàng nhà nước và của NHNo & PTNT Việt Nam.
- Kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác, tư vấn tài chính, tín dụng cho khách
hàng
- Cân đối, điều hoà vốn kinh doanh đối với các chi nhánh cấp 2 phụ thuộc trên
địa bàn Hà Nội.
- Bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
dự thầu theo qui định…
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc NHNo &
PTNT Việt Nam.
2.1.4. Bộ máy điều hành của NH Nông nghiệp& PTNT Chi nhánh Láng Hạ
d) Ban giám đốc
- Giám đốc
Là người trực tiếp lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động của chi nhánh theo đúng
quy định của nhà nước, của ngân hàng nhà nước, của ngân hàng Nông Nghiệp và Phát
chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát theo đề cương, chương trình công tác kiểm tra,kiểm
soát của Ngân hàng và kế hoạch của chi nhánh nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động
kinh doanh ngay tại trụ sở chi nhánh và các phòng giao dịch trực thuộc.
i) Phòng kinh doanh ngoại hối
- Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ (mua, bán, chuyển đổi),
thanh toán quốc tế theo quy định.
- Thực hiện công tác thanh toán quốc tế, các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh ngoại
tệ có liên quan đến thanh toán quốc tế, các dịch vụ kiều hối và chuyển tiền, mở tài
khoản khách hàng nước ngoài, quản lý thông tin liên quan đến công tác của phòng.
j) Phòng dịch vụ và marketing
Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giao dịch với khách hàng, tiếp thị, giới thiệu sản
phẩm dịch vụ ngân hàng, tiếp nhận ý kiến phản hồi từ khách hàng về dịch vụ, đề xuất
hướng cải tiến để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng.
k) Phòng điện toán
Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động của chi
nhánh.
l) Các phòng giao dịch
Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng: cho vay, huy động vốn, thanh toán, bảo
lãnh, chuyển tiền…. theo đúng quy định của nhà nước và NH NN&PTNT Việt Nam.
Sự ra đời của chi nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ là bước mở đầu cho sự phát
triển của NHNN&PTNT Việt Nam trên địa bàn thành thị, thể hiện hướng đi đúng
20
trong hướng phát triển tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của hệ thống
NHNNo&PTNT Việt Nam. Thời gian đầu mới thành lập tháng 4 năm 1997 chi nhánh
đã gặp rất nhiều khó khăn. Đó là số cán bộ công nhân viên ban đầu chỉ có 13 CBCNV,
nguồn vốn ban đầu chỉ có hơn 10 tỉ đồng, nhận bàn giao từ Ngân hàng phục vụ người
nghèo, tài liệu phục vụ cho hoạt động kinh doanh còn thiếu rất nhiều, sự ảnh hưởng
trọng
trọng
trọng
tiền
tiền
%
tiền
tiền
tiền
% +/-
(%)
(%)
(%)
+/-
+/-
+/-
Tổng nguồn
406,2
100 518,4
100