Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THU NGÂN SÁCH XÃ VÀ SỰ
CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
NGÂN SÁCH XÃ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ THU
NGÂN SÁCH XÃ
1.1.1. Ngân sách xã
NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo
lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức
năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng quỹ NSNN
là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước và
không mang tính hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Về hình thức hoạt động của NSNN là hoạt động thu và chi bằng tiền của
nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định.
Về bản chất NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với
các chủ thể kinh tế, xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua
việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước chuyển dịch một
bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó, thành thu nhập của Nhà nước
và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được hưởng thụ nhằm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ
hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân
sách.
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
1
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Hệ thống NSNN Việt Nam là một thể thống nhất giữa các cấp ngân sách
động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các
chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế - xã hội trên địa bàn xã. NSX là
ngân sách của chính quyền nhà nước cấp xã, do UBND xã xây dựng quản lý,
điều hành, được HĐND xã quyết định và giám sát thực hiện. Theo quy định
của nhà nước thì NSX có những đặc điểm chung cơ bản sau:
- Về mặt sở hữu: NSX là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước, do chính
quyền cấp cơ sở quản lý và điều hành. Xã vừa là một cấp ngân sách, vừa là
một đơn vị dự toán đặc biệt bên dưới không có đơn vị dự toán nào trực thuộc.
Ngân sách câp xã có quyền tự chủ nhất định về nguồn thu và nhiệm vụ chi
được quy định trong các văn bản pháp luật về tài chính, tuy nhiên tính độc lập
của NSX lại là tương đối do nguồn thu của xã có hạn và còn phải nhận trợ cấp
của ngân sách cấp trên và phụ thuộc vào ngân sách ngân sách cấp trên. Do
vậy NSX được coi là đơn vị dự toán cuối cùng và đó là một đặc trưng cơ bản
của NSX khác so với các cấp ngân sách khác.
- Về chủ thể: trong các hoạt động thu chi bằng tiền hình thành quỹ ngân
sách được các chủ thể công tiến hành, mà chủ thể công ở đây chính là chính
quyền Nhà nước cấp xã.
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
3
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
- Về mặt pháp luật: quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình thu chi
NSX là quan hệ lợi ích giữa hai bên, một bên là lợi ích chung của cộng đồng
cấp cơ sở đại diện là chính quyền xã với một bên là lợi ích chung của các chủ
thể kinh tế khác. Là một đơn vị hành chính cấp cơ sở đại diện là chính quyền
xã vừa chịu trách nhiệm trước dân trong địa giới hành chính của mình, vừa
chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên. Do vậy NSX không chỉ có mối
quan hệ với các chủ thể công trong địa giới hành chính xã mà còn quan hệ
nhất định với các chủ thể của chính quyền cấp trên, các quan hệ này luôn chịu
sự điều chỉnh bởi các luật công, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh,
quan quyền lực Nhà nước ở cấp xã. Chính vì vậy các chỉ tiêu thu luôn mang
tính pháp lý.
Ba là, thu NSX phản ánh quan hệ lợi ích giữa hai bên, một bên là lợi ích
chung của cộng đồng cấp cơ sở đại diện là chính quyền xã với một bên là lợi
ích chung của các chủ thể kinh tế khác.
Bốn là, hoạt động thu NSX luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự
vận động cảu các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập,
Năm là, thu NSX có các quan hệ thu rất đa dạng và biểu hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau. Nhưng các khoản thu này chỉ được thừa nhận khi được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
1.1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách xã
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu NSX, tiêu biểu là một số nhân tố
sau:
Thứ nhất là, thu nhập bình quân đầu người. Nhân tố này phản ánh tốc độ
tăng trưởng và phát triển kinh tế cuả một quốc gia cũng như của từng địa
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
5
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
phương. Nó phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nước đó,
địa phương đó. Thu nhập bình quân đầu người quyết định đến mức động viên
của NSNN nói chung và NSX nói riêng. Nếu không tính đến chỉ tiêu này thì
sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ
chức kinh tế và các tầng lớp dân cư.
Thứ hai là, mức độ trang trải các khoản chi phí của chính quyền cấp xã.
Trong điều kiện hiện nay, khi các nguồn tài trợ khác cho hoạt động của chính
quyền cấp xã không có hoặc không thể tăng lên thì việc tăng mức chi cho hoạt
động của chính quyền cấp xã sẽ dẫn đến tỷ suất thu NSX tăng lên nhưng việc
tăng thu chỉ đến một giới hạn nhất định. Do đó việc xác định một mức độ
trang trải các chi phí của chính quyền xã hợp lý và tiết kiệm là rất quan trọng.
vụ Quốc hội quyết định giao cho từng tỉnh đối với các khoản thu đó;
Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ
chi của NSĐP, HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là
HĐND cấp tỉnh) thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các
khoản thu giữa ngân sách các cấp ở địa phương.
+ Khi phân cấp nguồn thu cho xã phải căn cứ vào nhiệm vụ chi, khả
năng thu từ các nguồn NSNN trên địa bàn; phân cấp tối đa nguồn thu tại chỗ,
đảm bảo các xã có nguồn thu cân đối được nhiệm vụ chi thường xuyên, các
xã có nguồn thu khá có phần dành để đầu tư phát triển, hạn chế việc bổ sung
từ ngân sách cấp trên, tăng số xã tự cân đối được ngân sách, giảm dần số xã
phải nhận bổ sung cân đối ngân sách từ cấp trên.
Nguồn thu của NSX do HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp trong
phạm vi nguồn thu NSĐP được hưởng.
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
7
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
1.1.2.3.1. Các khoản thu NSX hưởng một trăm phần trăm (100%)
Là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về
nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư. Căn cứ quy
mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm
bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân
cấp nguồn thu, HĐND cấp tỉnh xem xét dành cho NSX hưởng 100% các
khoản thu dưới đây:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào NSX theo quy định
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo chế
độ quy định
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý
- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản
100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm). Số bổ sung cân đối
này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách và được giao ổn
định từ 3 đến 5 năm.
+ Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ
trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.
- Ngoài các khoản thu trên, chính quyền xã không được đặt ra các khoản
thu trái với quy định của pháp luật.
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THU NGÂN SÁCH XÃ
1.2.1. Nội dung quản lý thu Ngân sách xã
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
9
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
NSX cũng như NSNN được hiểu đơn giản là bảng dự toán thu chi bằng
tiền của Nhà nước. Bảng dự toán này thường lập trong một năm và hoạt động
của Ngân sách thường lặp đi lặp lại tạo thành một quá trình.
Quản lý thu NSX chính là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh quá
trình thu NSX thông qua các phương pháp hành chính, tổ chức kinh tế và hệ
thống pháp luật của Nhà nước
Quản lý NSX nói chung, quản lý thu NSX nói riêng nhất thiết phải trải
qua một quy trình gồm 3 khâu là: lập dự toán thu NSX; chấp hành dự toán thu
NSX và kế toán, quyết toán thu NSX.
1.2.1.1. Lập dự toán thu NSX
Hàng năm, căn cứ vào quyết định của Chính phủ, Thông tư hướng
dẫn của Bộ Tài chính và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, của
địa phương, UBND tỉnh hướng dẫn chính quyền xã lập dự toán NSX, thị trấn
năm sau theo mẫu trình HĐND xã quyết định.
Lập dự toán thu NSX là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến
toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách, đó là quá trình phân tích,
hoạch huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu, chi NSX thời kỳ ổn định
mới theo khả năng bố trí cân đối chung của NSĐP. Đối với các năm tiếp theo
của thời kỳ ổn định, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chỉ tổ chức làm việc
với UBND xã về dự toán ngân sách khi UBND xã có yêu cầu.
Quyết định dự toán NSX
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của
UBND huyện, UBND xã hoàn chỉnh dự toán NSX và phương án phân bổ
NSX trình HĐND xã quyết định. Sau khi dự toán NSX được HĐND xã quyết
định, UBND xã báo cáo UBND huyện, Phòng tài chính huyện, đồng thời
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
11
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
thông báo công khai dự toán NSX cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài
chính về NSNN.
Điều chỉnh dự toán NSX hàng năm (nếu có):
Trong các trường hợp có yêu cầu của UBND cấp trên để đảm bảo phù
hợp với định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ
chi.
UBND xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình HĐND xã quyết
định và báo cáo UBND huyện.
1.2.1.2. Chấp hành dự toán thu NSX
Chấp hành thu NSX là quá trình sử dụng tổng hòa các biện pháp về kinh
tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được ghi trong dự toán
thu trở thành hiện thực.
Mục tiêu của chấp hành dự toán thu ngân sách xã.
Một là, biến các chỉ tiêu thu ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả
năng, dự kiến thành hiện thực.
Hai là, thông qua chấp hành thu NSX sẽ tiến hành kiểm tra được mức độ
phù hợp và hiệu quả cuả các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh
dụng và quyết toán biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai.
- Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản
thu NSX, KBNN xác nhận rõ số tiền đã thu vào NSX của các đối tượng nộp
trực tiếp hoặc chuyển khoản vào KBNN; đối với đối tượng nộp qua cơ quan
thu thì cơ quan thu xác nhận để Cán bộ Tài chính xã làm căn cứ hoàn trả.
- Việc luân chuyển chứng từ thu được thực hiện như sau:
+ Đối với các khoản thu NSX được hưởng 100%, KBNN chuyển một
liên chứng từ thu cho Cán bộ Tài chính xã.
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
13
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
+ Đối với các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên, KBNN lập
Bảng kê các khoản thu ngân sách có phân chia cho xã, gửi Cán bộ Tài chính
xã.
- Đối với số thu bổ sung từ ngân sách huyện cho NSX, phòng tài chính
kế hoạch huyện căn cứ vào dự toán số bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán
thu chi hàng năm của các xã và khả năng cân đối của ngân sách huyện, thông
báo số bổ sung hàng năm cho xã.
Kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSX:
- HĐND xã giám sát việc thực hiện thu NSX.
- Các cơ quan tài chính cấp trên thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công
tác quản lý thu NSX.
1.2.1.3. Kế toán và quyết toán thu NSX
- Cán bộ Tài chính xã có trách nhiệm thực hiện công tác hạch toán kế
toán và quyết toán NSX theo Mục lục NSNN và chế độ kế toán NSX hiện
hành; thực hiện chế độ báo cáo kế toán và quyết toán theo quy định. KBNN
nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán thu, chi quỹ NSX theo quy định; định
kỳ hàng tháng, quý báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSX, tồn quỹ NSX
gửi UBND xã; và báo cáo đột xuất khác theo yêu cầu của UBND xã.
và thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết.
+ Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyết toán
ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện yêu
cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh.
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu Ngân sách
xã
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
15
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
1.2.2.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong sự
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong hệ thống chính trị ở nước ta.
HĐND xã là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương, chịu trách nhiệm giải
quyết các việc quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của địa phương.
Chính quyền cấp xã trực tiếp liên hệ với dân để giải quyết mối quan hệ giữa
Nhà nước với nhân dân.
Trong quá trình đổi mới kinh tế các thành phần kinh tế được phát triển
mạnh mẽ, nguồn thu, nhiệm vụ chi của chính quyền cấp xã không ngừng tăng.
Điều này đặt ra công tác quản lý thu NSX cũng phải được nâng cao, giúp cho
quá trình huy động các nguồn lực vào việc phát triển kinh tế một cách hợp lý
hiệu quả, thúc đẩy nhanh quá trình Công nghiêp hóa - Hiện đại hóa nông thôn
mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
1.2.2.2. Xuất phát từ thực trạng công tác quản lý thu Ngân sách xã ở
Việt Nam thời gian qua
Thời gian qua cùng với những thay đổi của đất nước, xây dựng nông
thôn mới, NSX đã có những chuyển biến tích cực tạo nguồn thu ngày càng lớn,
đáp ứng nhu cầu chi tiêu phong phú và đa dạng đặt ra cho chính quyền cấp xã.
Công tác lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán thu NSX có nhiều địa
phương thực hiện tốt theo đúng quy định của Nhà nước, tổ chức xây dựng và
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN
SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ- XÃ HỘI
VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ CỦA
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
2.1.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên kinh tế- xã hội
Đô Lương là một huyện núi thấp nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Nghệ
An. Trên địa bàn huyện có 32 xã và một thị trấn với tổng dân số là 34.256
người, số người trong độ tuổi lao động là 20.622 người chiếm 60,2 % tổng
dân số của huyện. Phần lớn dân sống nhờ nông nghiệp.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đô Lương là 123,82 km
2
trong đó
diện tích đất nông nghiệp là 86,67 km
2
chiếm 70%, bao gồm 71,37 km
2
đất
trồng lúa, chiếm 82,3% trong diện tích đất nông nghiệp.
Có thể nói đối với Việt Nam nói chung, Đô Lương nói riêng nông nghiệp
là ngành nghề sản xuất chủ yếu. Sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng giá trị sản xuất, chiếm khoảng 70% - 80%, các ngành nghề khác
chiếm khoảng 20%. Đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, hiện tại
vẫn còn khá nhiều hộ thuộc diện hộ nghèo, thu nhập dân cư còn thấp.Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội huyện Đô Lương đã có
nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ, Đô Lương sẽ là điểm đến của các nhà đầu
tư, hứa hẹn nhiều tiềm năng kinh tế được khai thác, đem lại bộ mặt phát triển
mới cho huyện. Trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ
sách trên địa bàn ở mức trung bình. Nhiệm vụ chi chủ yếu của huyện là chi
thường xuyên chiếm trên 70% tổng chi ngân sách huyện. Ngân sách huyện
đảm bảo kinh phí hoạt động cho 33 xã, thị trấn, 26 đơn vị là các phòng ban,
ngành, đoàn thể trực thuộc huyện, có 95 đơn vị các trường Trung học cơ sở,
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
19
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
tiểu học, mầm non. Ngoài ra còn các đơn vị lực lượng vũ trang là Sư 324,
Xưởng 41, Ban chỉ huy Quân sự huyện và công an huyện vẫn được ngân sách
địa phương hỗ trợ kinh phí theo dự toán. Chi sự nghiệp kinh tế chủ yếu của
huyện chủ yếu là chi xây dựng đường làng, ngõ xóm, chi bảo vệ đê điều…
chiếm khoảng 5% tổng chi ngân sách huyện.
2.1.2 Khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã
Để thực hiện quản lý NSX nói chung và quản lý thu NSX nói riêng thì
phải có bộ máy chỉ đạo từ trung ương đến địa phương. Riêng ở địa phương, từ
tỉnh đến xã đều có một bộ phận phụ trách công việc này.
Sở Tài chính có phòng ngân sách xã với chức năng giúp UBND tỉnh và
Giám đốc Sở quản lý thống nhất tài chính về lĩnh vực NSX trên địa bàn toàn
tỉnh như hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ về NSX
trên địa bàn; đề xuất các biện pháp quản lý NSX chỉ đạo các huyện thực hiện
tốt công tác NSX, xây dựng, bồi dưỡng phát triển nguồn thu ở xã…
Ở huyện, có phòng Tài chính- Kế hoạch huyện trực thuộc UBND huyện
và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tài chính Nghệ An.
Trong phòng Tài chính- Kế hoạch huyện có tổ quản lý NSX với nhiệm vụ
hướng dẫn nghiệp vụ cho kế toán xã, giúp lãnh đạo phòng trong công tác
quản lý, hướng dẫn , kiểm tra tình hình hoạt động tài chính của các xã.
Đến năm 2011 phòng Tài chính- Kế hoạch huyện Đô Lương có tổng số
cán bộ công chức 9 đồng chí được cơ cấu: 01 trưởng phòng, 02 phó phòng
(01 phó phòng phụ trách công tác kế hoạch,0 1 phó phòng phụ trách ngân
pháp khai thác nguồn thu, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu, phát huy thế
mạnh của từng xã để tăng thu, chú trọng quản lý giám sát chặt chẽ các khoản
thu,…để phù hợp với nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cấp cơ sở được giao.
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
21
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Dưới đây là toàn bộ thực trạng công tác quản lý thu ngân sách xã của
huyện Đô Lương trong ba khâu: lập, chấp hành và quyết toán thu ngân sách
xã trong những năm gần đây (2009- 2011). Để tìm hiểu thực trạng quản lý thu
ngân sách xã một cách cụ thể ta cần phải xem xét từng khâu trong quản lý
nguồn thu.
2.2.1. Tình hình lập dự toán thu ngân sách
Qua quá trình đi thực tế trên địa bàn huyện Đô Lương có thể thấy được
công tác lập dự toán thu Ngân sách hàng năm được thực hiện khá tốt theo quy
trình:
Hưỡng dẫn xây dựng dự toán
Bước 1: Cán Bộ Tài chính xã phối hợp với cơ quan Thuế hoặc đội thu
Thuế xã tính toán các khoản thu NSNN trên địa bàn trong phạm vi quản lý.
Lập dự toán thu Ngân sách trình UBND xã xem xét, gửi UBND huyện và
phòng Tài chính-kế hoạch sau đó báo cáo dự toán lên UBND tỉnh.
Bước 2: UBND huyện hướng dẫn và giao số kiểm tra dự toán ngân
sách cho các xã.
Bước 3: UBND xã tổ chức hội nghị triển khai xây dựng dự toán NSX
và giao số kiểm tra cho các đoàn thể, ban ngành.
Lập và tổng hợp dự toán ngân sách xã
Bước 4: Các ban ngành, đoàn thể, kế toán xã căn cứ vào khả năng các
nguồn thu, số kiểm tra do huyện giao và các căn cứ để lập dự toán để lập dự
toán NSX trình UBND xã xem xét cho ý kiến.
Bước 5: UBND xã trình Thường trực HĐND xã xem xét cho ý kiến về
đấu của các xã hiện nay là cố gắng có khả năng tự cân đối thu, chi NSNN trên
SV: Phạm Thị Hiền Lớp: CQ46/01.04
23
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
địa bàn, hạn chế trường hợp có số giao thu bổ sung rồi mà vẫn thiếu hụt do
thu thường xuyên( gồm khoản thu 100% tại xã và khoản thu phân chia theo tỷ
lệ % với ngân sách cấp trên) nhỏ hơn chi thường xuyên, phải cắt giảm chi
thường xuyên tương ứng với số thiếu hụt đó hoặc tăng dự toán thu thường
xuyên. Các xã đều cố gắng tự cân đói thu chi ngân sách và hạn chế xin bổ
sung từ ngân sách cấp trên, chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết và theo mục
đích nhất định đối với các vùng còn nghèo, khó khăn hay các vùng gặp nhiều
thiên tai, dịch bệnh
Tuy nhiên công tác lập dự toán thu ngân sách trên địa bàn huyện còn
gặp nhiều khó khăn do thực tế kinh tế huyện Đô Lương còn kém phát triển,
hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ, ý thức của các doanh nghiệp, hộ
kinh doanh còn yếu nên còn để xảy ra hiện tượng có kinh doanh nhưng không
đăng ký hoặc có đăng ký nhưng nghỉ kinh doanh không thông báo…Ngoài ra
vai trò của cán bộ phòng Tài chính- Kế hoạch trong công tác giám sát quá
trình lập dự toán còn khá mờ nhạt và sự hạn chế về trình độ, kinh nghiệm làm
việc của cán bộ kế toán xã. Vì vậy, còn một số xã trong huyện chưa chú trọng
công tác lập dự toán ngân sách xã mà chỉ làm theo hình thức lấy lệ, chỉ làm để
lấy hình thức nên chất lượng dự toán chưa cao. Một số xã chưa tính đúng hay
tính dư nguồn thu từ đó dẫn đến việc phải điều chỉnh dự toán nhiều lần, việc
lập dự toán chưa bao quát hết nguồn thu.
Tóm lại, tuy còn một số xã chưa làm tốt công tác lập dự toán ngân
sách xã nhưng nhìn chung phần lớn các xã đều nhận thức được việc quản lý
ngân sách xã phải được tổ chức quản lý bắt đầu từ khâu lập dự toán rồi tới
chấp hành và quyết toán ngân sách xã.
2.2.2. Tình hình chấp hành dự toán thu ngân sách
25