Xã Hội Học Gia Đình
Bài Tiểu Luận Cuối Kỳ
Giảng viên: Lê Thái Thị Băng Tâm
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
MSV: 1030619
Lớp: K55 – xã hội học
Đề tài: Vai trò của phụ nữ trong và ngoài gia đình hiện nay.
1
Mục lục:
1. Đặt vấn đề:
Gia đình là tế bào của xã hội và người phụ nữ được coi là hạt nhân
của tế bào đó. Xã hội ngày càng phát triển và vai trò của người phụ nữ ngày
càng quan trọng.
Với xã hội hiện nay thì vai trò của người phụ nữ càng được khẳng
định. Nhưng dường như vai trò ấy vẫn bị bó hẹp trong gia đình. “ Vấn đề gia
đình và lao động phụ nữ” là một trong những vấn đề cấp thiết trong lĩnh
vựng gia đình hiện nay. Lao động của phụ nữ ở bên ngoài gia đình đã và
đang là vấn đề nóng hổi, gây những bàn cãi làm tốn nhiều giấy mực của giới
báo chí, giới nghiên cứu… hiện nay. Có những quan điểm khác nhau giữa các
nước tư bản chủ nghĩa và các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa.
2
Ở các nước tư bản chủ nghĩa vấn đề này chưa được giải quyết một
cách triệt để về mặt quan niệm. Lấy Thụy điển làm ví dụ điển hình, và ở nước
này áp dụng một sơ đồ đi liền với đời người phụ nữ với lao động của họ: thứ
nhất là thời kỳ chưa có con, người phụ nữ làm việc ngoài gia đình; thứ hai là
thời kỳ có con, họ tách khỏi công việc lao động xã hội và chỉ làm công việc gia
đình; và thứ ba là thời kỳ con cái đã lớn, họ lại quay lại với công việc lao
động xã hội.
Ở các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa phụ nữ được khuyến khích
tham gia lao động xã hội, nhưng lại nảy sinh mâu thuẫn giữa vai trò của phụ
nữ trong công việc xã hội và trong gia đình. Và vấn đề này cũng gây nhiều
phái), ít được đề bạt vào các vị trí lãnh đạo cấp cao ở các cơ quan, ngay cả
trong chính sách của nhà nước về tuổi hưu: phụ nữ phải nghỉ hưu sớm hơn
nam giới 5 năm,…
Vì những vấn đề nêu trên đây mà tôi chọn : “ Vai trò của phụ nữ trong và
ngoài gia đình hiện nay.” là vấn đề để phân tích và nghiên cứu trong bài viết
của mình.
2. Nội dung:
2.3 .Vai trò của phụ nữ trong và ngoài gia đình ở thời kỳ trước mới đổi và
mấy năm sau đổi mới :
Vai trò của người phụ nữ từ những năm đầu dựng nước rồi xây dựng
đất nước và trong thời kỳ đất nước đã và đang trên con đường đổi mới hiện
nay luôn rất quan trọng.
Ở thời kỳ xây dựng, bảo vệ tổ quốc và những năm đầu sau đổi mới,
phụ nữ luôn khẳng định được tầm vai trò không thể thiếu của mình trong
cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, bờ cõi Việt Nam ; chăm lo cho cuộc sống gia
đình khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986 và cho đến những
năm cuối của thế kỉ XX , người phụ nữ đã có những giao lưu tiếp xúc với
những công việc ngoài xã hội nhưng không nhiều mà vai trò của họ hầu như
chỉ bó hẹp trong gia đình: như Hội Phụ nữ Việt Nam những năm 1992- 1997
đã đưa ra những chương trình trọng tâm và vai trò của phụ nữ trong thời kì
này :Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong đời sống gia đình: phụ nữ trong cuộc
sống gia đình ( nội tướng); phụ nữ và vấn đề kế hoạch hóa gia đình : phụ nữ có
thể tạo sự hòa hợp về nhận thức với người chồng và gia đình chồng trong việc
sinh con trai hay con gái, nhận thức về quy mô gia đình… ngoài ra khẳng định
vai trò của phụ nữ ở các hoạt động khác : Vai trò của phụ nữ trong việc phát
huy mặt tích cực, đẩy lùi tiêu cực trong đời sống xã hội: xóa đói giảm nghèo;
phòng chống tệ nạn xã hội; xây dựng văn hóa mới ; công tác đào tạo cán bộ,
nâng cao kiến thức năng lực, việc làm thêm…
Như vậy có thể nói vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn trên chủ yếu
hướng về gia đình, người phụ nữ đặt lên hàng đầu chức năng và trách nhiệm
chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn
lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp. Trong số hơn 300 nghìn doanh nghiệp
hoạt động theo luật doanh nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữ đứng đầu hoặc
nắm giữ cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp của một số
ngành: dệt, may mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống… chiếm hơn 50%, ở các
ngành giao thông – vận tải, xây dựng , khai khoáng… có 20% người quản lý
doanh nghiệp là nữ. Trong số 900 nghìn hộ kinh doanh có 27% là do phụ nữ
điều hành.
Trong lĩnh vực quản lý, lãnh đạo: trong những năm gần đây tỷ lệ phụ nữ
trong các cấp lãnh đạo có xu hướng tăng lên cả về số lượng và vi trí công việc:
theo số liệu của Quốc hội, tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan dân cử, cơ quan chính
quyền ở các cấp cao hơn so với nhiệm kỳ trước (1999 – 2004). Trong giai đoạn
2004-2011, tỷ lệ nữ tham gia hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt 23,8%, cấp
5
quận/huyện đạt 23,2% và cấp xã đạt 20,1%; theo Bộ nội vụ thì số lượng nữ
được bổ nhiệm, đè bạt các vị trí lãnh đạo, quản lý vào khối cơ quan Bộ, ngành
bộ có 436 người chiếm 23,49%; khối cơ quan chính phủ có 64 người chiếm
24,81%; khối cơ quan các Vụ, Cục thuộc Bộ và tương đương có 249 người
chiếm 22,55%. Và theo số liệu đã chỉ ra ở phần đặt vấn đề thì số lượng Đại
biểu nữ ở các kỳ Quốc hội và ứng viên tham gia Quốc hội cũng không phải là
con số nhỏ.
Sự gia tăng số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước và giữ các vị trí
lãnh đạo ngày càng chứng tỏ khả năng và năng lực của họ.
Với khả năng và năng lực đó chứng tỏ trình độ và học vấn của họ ngày
càng được nâng cao : theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ ở
bậc đại học, cao đẳng, tỷ lệ nam nữ ngày càng cân bằng, năm 2008 tỷ lệ nữ
đạt 53,9% và ngày càng có nhiều nữ thủ khoa ở địa bàn Hà Nội, sau đại học
tỷ lệ có thấp hơn: Thạc sĩ: 17%, Tiến sĩ hơn 30%, Phó Giáo sư gần 12% và
Giáo sư hơn 5% và trong những năm gần đây con số này còn tăng lên một
cách nhanh chóng, tính riêng năm 2010 tỷ lệ nữ được bổ nhiệm Giáo sư, Phó
đình của mình sau những giờ làm việc mệt mỏi. (theo baomoi.com)
Tuy nhiên họ chỉ là những cá nhân, những cây cỏ 4 lá trong rừng cây 3 lá mà
những người vợ của họ may mắn tìm thấy.
Thực tế thì người đàn ông tham gia đảm nhận chia sẻ và quyêt định
công việc sinh hoạt gia đình không nhiều: tỷ lệ người phụ nữ đưa ra quyết
định trong việc gia đình chiếm tỷ lệ rất cao, mang tính áp đảo: ăn uống hằng
ngày phụ nữ quyết đinh chiếm tỷ lệ 83,4% trong khi đó nam giới là 0,5%;
việc học hành của con phụ nữ chiếm 45.9% còn nam giới là 2,0%; việc chăm
sóc sức khỏe phụ nữ là 57,9% còn nam giói là 45,9%; đối với việc mua sắm
đồ dung đắt tiền thì hai người bằng nhau và bằng 12,6%; với công việc làm
ăn của gia đình thì tương đối không chênh lệch nhiều( trong phân tích của
Vũ Tuấn Huy về cơ cấu gia đình …năm 1998)… Những năm gần đây tuy có
nhiều sự thay đổi, sự chênh lệch về số liệu có giảm xuống, nhưng việc gia
đình vẫn quy trách nhiệm cho người phụ nữ…
Có thể thấy vai trò của người phụ nữ đối với ra đình khó có thế xem
nhẹ, người phụ nữ không thể toàn tâm cho công việc của mình bên ngoài xã
hội. Trong các lĩnh vực tham gia hoạt đông kinh tế, lãnh đạo quản lý, giáo
dục… phụ nữ không có cơ hội ngang bằng với nam giới.
Theo WEF, trong năm 2012 bất bình đẳng giới giữa phụ nữ và đàn ông trong
các hoạt động kinh tế là 60% và trong chính trị là 20%.
Báo cáo về bất bình đẳng giới Toàn cầu 2012 đã tiến hành đánh giá
tốc độ thu hẹp khỏng cách về bình đẳng tại 135 quốc gia trên toàn cầu gồm
bốn tiêu chí: cơ hội – sự tham gia vào kinh tế, trình độ giáo dục , sức khỏe –
đời sống và quyền lực chính trị.
7
Kết quả cho thấy khoảng cách về yếu tố sức khỏe giữa hai giới đã
được rút ngắn tới 96%, và 93% về trình độ giáo dục.
Song nhìn chung phụ nữ vẫn phải đối mặt với khoảng cách lớn trong
công việc, tiền lương và vị trí lãnh đạo so với cánh mày râu.
Tốc độ thu hẹp khoảng cách giới trên toàn cầu diễn ra khá chậm. Hơn
người đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ”, và một con đường song
hành khác đó là sự thành công của chính người phụ nữ.
2.3. Một số lý thuyết áp dụng giải thích vấn đề:
2.3.1 Lý thuyết tương tác biểu trưng:
Áp dụng lý thuyết tương tác biểu trưng vào giải thích vấn đề vai trò
của người phu nữ hướng ra ngoài gia đình là xã hội., ta thấy:
Thuyết tương tác vận dụng quan niệm hành vi và cho rằng xã hội
được tạo thành từ thuyết tương tác của vô số cá nhân, mọi hành vi của con
người có vô số ý nghĩa khác nhau, lý thuyết tương tác biểu trưng là một lý
thuyết quan trọng của xã hội học về tương tác xã hội, vì tương tác cá nhân
dẫn đến xem nhẹ những tương tác ở cấp độ vĩ mô lý thuyết này cũng chưa
phân tích về những rắc rối khó khăn trong tương tác khi các cá nhân xuất
phát từ hai nền văn hóa có những hệ thống biểu tượng tương đối khác nhau.
Với vấn đề người phụ nữ không đơn thuần giữ vai trò trong khuôn khổ
gia đình mà hướng ra ngoài xã hội. Lý thuyết tương tác biểu trưng đã phản
ánh quan niệm khác nhau về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã
hội .
Trong xã hội Phong Kiến, gia đình Việt Nam truyền thống, vai trò của
người phụ nữ không được đề cao ngoài xã hội, dường như họ bị gắn cái thiên
chức làm vợ, làm mẹ, chăm sóc cho gia đình … Những tư tưởng nho giáo đã
ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người. Người phụ từng trải qua hang
nghìn năm đảm đang (đảm nhiệm, trách nhiệm) và chịu đựng, hy sinh
nhưng họ không được đề cao. Người phụ nữ truyền thống trong gia đình xưa
phải có đủ “tam tòng, tứ đức”. Họ nghiếm nhiên trở thành biểu trưng gắn liền
với ngôi nhà, con cái, không có quyền đưa ra ý kiến hay quyết định gì trong
gia đình cũng như ngoài xã hội. Nơi người đàn bà hạnh phúc chỉ chọn gói
trong một mái ấm gia đình : bố mẹ, chồng và con cái. Hoặc có hơn thì cũng
chỉ là ngoài ngưỡng của rụt rè, theo bước chân chồng làm quen với xã hội,
giao tiếp với bạn bè thân thuộc. Quanh quẩn chỉ là bếp núc, ruộng vườn, con
cái.
để đạt được nó.
Định đề giá trị suy giảm( nhàm chán): càng thường xuyên nhân được
một phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu
đối với chủ thể hành động.
Định đề mong đợi : nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì
người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức,
không hài lòng.
Qua các định đề trên chúng ta có thể thấy rằng con người là một động
vật duy lý , trước khi thực hiện một hành động nào đó cũng quan tâm nhiều
10
nhất đến vấn đề lợi ích và phần thưởng, và thường xuyên tìm cách cân đối
vấn đề này làm sao khi thực hiện hành động này có thể đem lại cho họ một
phần thưởng và giá trị cao nhất. và họ luôn thường trực suy nghĩ xem phần
thưởng đạt được có tương ứng với chi phí và sự đầu tư của họ hay không. Sự
xem xét, tính toán này không chỉ được căn cứ vào khả năng của chủ thể mà
còn căn cứ vào những giá trị, chuẩn mực, phong tục truyền thống.
Việc người phụ nữ không chon một vai trò nào tách biệt mà khẳng
định vai trò của mình cả ở trong và ngoài gia đình. Bản thân việc thể hiện cả
hai vai trò này người thực hiện hay ở đây chính là người phụ nữ cũng sẽ
luôn có sự tính toán đến giá trị và phần thưởng mình thu nhận được từ hành
vi đó. Bản thân người phụ nữ việc người phụ nữa đảm nhiệm cả hai vai trò
trong và ngoài gia đình đã có sự cân nhắc tính toán ngay từ đầu, bàn thân
nhận được những gì đó là sự tin tưởng của chính gia đình, sự yêu thương
tôn trọng của gia đình khi thực hiện được cái cho là nghĩa vụ vốn có của
người phụ nữ từ trước đến nay và họ cũng làm được những việc mình mong
muốn ưa thích, thể hiện được khả năng của mình trong công việc và vị trí
ngoài xã hội mà họ lựa chọn, ở khía cạnh này họ có đường cả về kinh tế, sự
hãnh diện và cả tham vọng của bản thân. Như vậy họ nhận được giá trị và
phần thưởng…
Người phụ nữ hiện đại này nay không thể tách rời với thực tế gia đình
độ xã hội chủ nghĩa thì phụ nữ được khuyến khích tham gia lao động, nhưng
lại xuất hiện mâu thuẫn giữa vai trò nghề nghiệp xã hội của phụ nữ và vai trì
chức năng của phụ nữ trong gia đình. Trong dư luận xã hội nảy sinh ba quan
điểm : Thứ nhất chủ trương thu hút phụ nữ tham gia tích cực nhất vào đời
sống để thực hiện sự bất bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ về địa vị xã
hội; thứ hai muốn hạn chế lao động xã hội của phụ nữ và đặt lên hàng đầu
chức năng nhiệm vụ của người vợ, người mẹ trong trông nom gia đình và
giáo dục con cái; và quan điểm ba trung hòa vai trò của người phụ nữ trong
gia đình và ngoài gia đình.
Xu thế phát triển của phụ nữ hiện nay đang theo quan điểm thứ ba, và
trong những năm tới, giai đoạn tới, người phụ nữ trong xã hội hiện đại sẽ
tung hòa giữa vai trò trong và ngoài gia đình. Họ sẽ vừa chăm lo công việc
gia đình và đảm đương các công việc ngoài xã hội tốt hơn…
3. Kết luận:
Phụ nữ ngày càng thể hiện được vai trò của mình trong đời sống xã hội.
Và điều tuyệt vời nhất là người phụ nữ đó vừa thành công trong sự nghiệp và
vừa hoàn thành tốt vai trò của mình trong gia đình. Mỗi người phụ nữ đều phải
đương đầu thử thách riêng, sự độc lập cá nhân, họ vẫn phải tìm một điểm tựa
để dựa vào để vươn lên đó chính là gia đình. Phía sau thành công của một
người đàn ông là một người phụ nữ và phía sau thành công của người phụ nữ
có lẽ là gia đình, là tình yêu dành cho gia đình của người phụ nữ và là tình yêu
dành cho người phụ nữ của gia đình.
12
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Mai Huy Bích (2009), Xã hội học Gia đình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
2. Lê Thái Thị Băng Tâm (2012), Xã hội học Gia đình, Hà Nội.
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng(2008), Xã Hội Học, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
4. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh(2011), Phương pháp nghiên cứu Xã hội