1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trần Thị Lệ Quyên, là học viên cao học chuyên ngành Đo lường và
Đánh giá trong Giáo dục, khóa 2008, tại TP. Hồ Chí Minh. Tôi xin cam đoan:
- Công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện.
- Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố
ở các nghiên cứu khác hay trên bất kỳ phương tiện truyền thông nào.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong Luận văn tốt
nghiệp của mình.
Học viên
Trần Thị Lệ Quyên
2
LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Quý Thầy/Cô tại Viện
Đảm bảo chất lượng giáo dục - ĐHQG Hà Nội, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá
chất lượng đào tạo - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh và Quý Thầy/Cô đã tham gia giảng
dạy lớp Cao học khóa 2008 tại Tp. Hồ Chí Minh.
3. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 13
3.1. Ý nghĩa về mặt lý luận 13
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 14
4. Câu hỏi nghiên cứu/Giả thuyết nghiên cứu 14
4.1. Câu hỏi nghiên cứu 14
4.2. Giả thuyết nghiên cứu 14
5. Phương pháp nghiên cứu 15
5.1. Các phương pháp sử dụng và nghiên cứu 15
5.1.1. Phương pháp phân tích tài liệu, điểm lại thư tịch 15
5.1.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp 15
5.2. Đặc điểm của các phương pháp sử dụng và nghiên cứu 16
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 16
6.1. Khách thể nghiên cứu 16
6.2. Đối tượng nghiên cứu 16
7. Dữ liệu và mẫu nghiên cứu 17
7.1. Dữ liệu 17
7.2. Dữ liệu trong nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Mở Tp. HCM 17
7.2.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 17
7.2.2. Qui trình thu thập dữ liệu và xử lý số liệu 17
8. Giới hạn nghiên cứu 17
4Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19
1.1.Giới thiệu 19
1.2.Tổng quan các nghiên cứu về Quản trị đại học 19
1.3.Cơ sở lý luận, các phương pháp tiếp cận chính 26
1.4.Một số khái niệm sử dụng 28
1.4.1. Giới và giới tính; Vai trò giới; Bình đẳng giới và quan hệ giới 28
3.2. Phân tích thống kê mô tả 51
3.2.1. Tình trạng phiếu khảo sát và tỷ lệ phiếu hồi đáp 51
3.2.2. Thống kê mẫu nghiên cứu theo giới tính, chức danh và trình độ 52
3.2.2.1. Theo giới tính 52
3.2.2.2. Theo chức vụ 52
3.2.2.3. Theo trình độ 52
3.3. Vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động Quản trị đại học 53
3.3.1. Quản trị về hệ thống tổ chức 53
3.3.2. Quản trị về nguồn nhân lực 56
3.3.3. Quản trị hoạt động đào tạo 59
3.3.4. Quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ 60
3.4. Đánh giá chung về vai trò của phụ nữ và những khó khăn gặp phải trong các
hoạt động Quản trị đại học 63
3.4.1 Đánh giá chung về vai trò của phụ nữ trong các hoạt động Quản trị đại
học 63
3.4.2. Những thách thức, khó khăn của phụ nữ khi tham gia hoạt động Quản trị
đại học 65
3.5. Tóm tắt 69
KẾT LUẬN 71
1. Kết luận 71
2. Một số gợi ý, đề xuất 73
2.1. Đối với cấp cao, chính sách 73
2.2. Đối với các trường Đại học 74
2.3. Đối với chị em phụ nữ và gia đình 75
3. Hạn chế của nghiên cứu 76
6TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
9. QT : Quản trị
10. QTĐH : Quản trị đại học
11. TB : Trung bình
12. TT : Trung tâm
13. Tp. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
14. SV : Sinh viên
15. UBND : Ủy ban nhân dân 8DANH MỤC CÁC HỘP, BẢNG
Stt Tên Trang
1. Hộp 1. Quy định về quyền tự chủ các trường ĐH ở Việt Nam 44
2. Hộp 2. Chân dung nữ Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen 55
3. Bảng 3.1. Thống kê tình trạng phiếu khảo sát và tỷ lệ hồi đáp 51
10MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quản trị (QT) nói chung, quản trị đại học (QTĐH) nói riêng là thực hiện những
chức năng hoạch định, lãnh đạo, tổ chức, kiểm tra/giám sát ở cấp độ chung của tổ
chức sao cho trường đại học (ĐH) có thể vận hành một cách tự chủ.
Trong bối cảnh xã hội ngày một chuyển biến, phát triển không ngừng trong kỷ
nguyên kinh tế tri thức, với xu thế hội nhập và quốc tế hóa sâu sắc ở tất cả các lĩnh
vực. Trong bối cảnh đó, các vấn đề xã hội như phát triển con người, bình đẳng giới
hay các vấn đề về giáo dục (GD) như QTĐH cũng được tiếp cận và nghiên cứu ở
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Các vấn đề này được tiếp cận đa chiều và ngày
càng được quan tâm.
Điều này một phần thể hiện qua hệ thống các chính sách về QTĐH của nước ta
ngày một nhiều và hướng đến thực tiễn để thực thi những chỉ thị, nghị quyết, quyết
định của Thủ tướng chính phủ cũng như các bộ ban ngành liên quan. Trong đó có
chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo
(GD&ĐT), Bộ Nội vụ, cũng như các văn bản khác liên quan đến việc đổi mới
QTĐH, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường ĐH. Chỉ thị
296/CT-TTg, ngày 27 tháng 2 năm 2010, Thông tư Liên tịch Bộ Nội vụ và Bộ
GD&ĐT số 07/2009/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 15 tháng 4 năm 2009 đã tăng
thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường. Trong Chỉ thị 296, Thủ
tướng Chính phủ đã nêu rõ phải “coi đổi mới quản lý GDĐH, bao gồm quản lý nhà
nước về GDĐH, quản lý của các cơ sở GD là khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới
toàn diện GDĐH, từ đó đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao hiệu
quả một cách bền vững.” Chỉ thị thành lập Hội đồng Hiệu trưởng, văn bản về đảm
bảo cơ cấu nữ trong bộ máy lãnh đạo các trường và nghị định số 115/2010/NĐCP
ngày 24 tháng 12 năm 2010, quy định trách nhiệm về quản lý nhà nước [60].
Ngoài ra, việc thực hiện bình đẳng giới trong GD và đời sống ngày càng được
quan tâm mà cụ thể trong Luật bình đẳng giới [30] của Việt Nam cũng đã được
Quốc Hội thông qua và ban hành. Đây là một trong những cơ sở, tiêu chí để đánh
giá về việc thực hiện bình đẳng giới trong xã hội hiện nay nói chung và trong GD
nói riêng.
1
HĐQT để chỉ một cơ cấu của một nhóm người được bầu hoặc được bổ nhiệm để giám sát hoạt động của
một tổ chức hoặc một công ty. Thành viên HĐQT trong các trường đại học ở nước ngoài hoàn toàn không
(nhất thiết) phải là những cổ đông góp cổ phần vào trường đại học. Trong trường đại học ở nhiều nước,
quyền lực của nhà trường chủ yến nằm trong tay HĐQT, trong khi đó, đối với doanh nghiệp kinh doanh
quyền lực được chia sẻ giữa HĐQT và Đại hội Cổ đông [68].
12Trong cơ cấu QTĐH tại Việt Nam, đã và đang có không ít các cán bộ quản lý
cấp cao là nữ như: Thứ trưởng - Nguyễn Thị Nghĩa, Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo
dục - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hiệu trưởng Trường ĐH Luật - Mai Hồng Quỳ, Hiệu
trưởng Trường ĐH Hoa Sen - Bùi Trân Phượng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH
Bách Khoa - Phan Thị Tươi và nhiều Phó Hiệu trưởng là nữ ở các trường khác
nhau. Những người đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp GD và QTĐH nước ta.
Trên thực tế, hiện nay tại Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong GD thì
các vấn đề về phát triển con người, thực hiện bình đẳng giới song song với các hoạt
động QTĐH tại các trường đang được chú trọng và quan tâm, tìm hiểu. Đây là một
lĩnh vực mới và có nhiều khía cạnh khoa học có thể khai thác và đóng góp vào tri
thức chung trong lĩnh vực QTĐH ở nhiều góc nhìn như: Mô hình GD tự chủ,
HĐQT trường, vai trò SV trong nhà trường, vai trò giảng dạy của GV, vai trò của
các bộ phận trong nhà trường, sự đóng góp của nam giới, nữ giới và vai trò QT của
mỗi giới cụ thể như thế nào.
2. Phát hiện sự khác biệt trong quá trình tham gia các hoạt động QTĐH
và sự hài lòng trong môi trường làm việc giữa CBNVGV nam và nữ.
3. Tìm hiểu những thách thức, khó khăn và những mong muốn của
CBNVGV nữ trong quá trình tham gia các hoạt động QTĐH.
3. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Đóng góp một phần trong các vấn đề về phát triển giới và bình đẳng
giới nói riêng và các lý thuyết xã hội học về giới trong QTĐH nói
chung.
Kết quả của nghiên cứu cũng góp một phần làm cơ sở cho các nghiên
cứu tiếp theo trong lĩnh vực này và chúng ta có thể sử dụng các kết
quả vào việc dự báo xu hướng phân công lao động và việc bình đẳng
giới trong QTĐH ở tương lai.
143.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các nhà quản lý xác định được vai
trò quan trọng và sự đóng góp của phụ nữ trong QTĐH để từ đó có những chiến
lược, chính sách về nhân sự phù hợp, phát huy hết tiềm lực và đóng góp của các cá
nhân – nhất là lực lượng CBNVGV nữ trong quá trình QT và phát triển nhà trường.
Cụ thể:
Xác định được những nguyên nhân, tạo nên sự khác biệt và những
đặc điểm QTĐH của nữ giới so với nam giới.
giới tính trong công việc; Sự ủng hộ của gia đình, người thân trong công việc; Thực
tế nhìn nhận của xã hội về công bằng giới…
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Các phương pháp sử dụng và nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng. Đây là một dạng nghiên cứu phối hợp để tìm hiểu về vai trò
của phụ nữ trong QTĐH ở Việt Nam thông qua một số bằng chứng thực nghiệm từ
các trường ĐH, đặc biệt là từ Trường ĐH Mở Tp. HCM. Các phương pháp nghiên
cứu cụ thể:
5.1.1. Phương pháp phân tích tài liệu, điểm lại thư tịch
Phương pháp này cho tác giả có được cái nhìn tổng quát về vấn đề
nghiên cứu cũng như các chiều kích, khía cạnh có thể nghiên cứu và đào sâu trong
đề tài qua việc tìm hiểu các công trình đã nghiên cứu và có liên quan đến đề tài.
Cũng chính việc tham khảo thư tịch, tài liệu giúp tác giả đi đúng hướng và không
lặp lại lối mòn của các đề tài đã có. Từ đó có thêm thông tin cho nghiên cứu với
những vấn đề đang tìm hiểu và thực tế về QTĐH hiện nay.
5.1.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Trường hợp: Thực hiện nghiên cứu và khảo sát trường hợp tại Trường
Đại học Mở Tp. HCM.
Định lượng: Khảo sát 360/428 CBNVGV đang công tác tại Trường
ĐH Mở Tp. HCM.
Định tính: Phỏng vấn sâu 05 (năm) cán bộ, lãnh đạo nhà trường. 165.2. Đặc điểm của các phương pháp sử dụng và nghiên cứu
Kiểu thiết kế phối hợp nhằm phối hợp và sử dụng chặt chẽ các thông
tin có được, đồng thời phối kết hợp hai phương pháp để tạo được hiệu
7. Dữ liệu và mẫu nghiên cứu
7.1. Dữ liệu
Sử dụng dữ liệu thống kê của Bộ GD&ĐT, Cục thống kê.
7.2. Dữ liệu trong nghiên cứu trường hợp tại Trường ĐH Mở Tp. HCM
7.2.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu trường hợp được thực hiện tại Trường ĐH Mở Tp. HCM.
7.2.2. Qui trình thu thập dữ liệu và xử lý số liệu
Thực hiện phỏng vấn mẫu một số CBNVGV đang công tác tại trường
để làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi khảo sát định tính.
Xây dựng bảng hỏi Likert 5 mức độ để đánh giá các vấn đề cần đánh
giá.
Trước khi gởi bảng khảo sát rộng rãi đến CBNVGV, tác giả đã kiểm
tra mức độ hiểu về nội dung trong bảng hỏi. Việc kiểm tra này được thực
hiện bằng cách gởi trước bảng hỏi cho một số CBNVGV và xin ý kiến về
mức độ hiểu nội dung theo từng tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá trong bảng
khảo sát.
Sau khi hoàn tất việc hiệu chỉnh, tác giả gởi bảng hỏi đến các
CBNVGV trong trường. Sau một tuần, tác giả thu thập lại các bảng khảo
sát đã được trả lời.
Tác giả tiếp tục thực hiện phỏng vấn sâu một số ca để có thêm thông
tin và dữ kiện về đề tài.
Sử dụng chương trình SPSS 11.5 để nhập liệu, xử lý dữ liệu phục vụ
báo cáo theo yêu cầu của luận văn.
8. Giới hạn nghiên cứu
QTĐH là vấn đề rất rộng, trong nghiên cứu này tác giả phân tích các vấn đề về
QTĐH nói chung nhưng sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu trường hợp tại Trường ĐH
Mở Tp. HCM để làm minh chứng cho các nhận định của nghiên cứu.
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong QTĐH thông qua:
18
sinh những tri thức mới và cung cấp các dịch vụ GD cho xã hội.
Để thực hiện được nhiệm vụ và chức năng trên, GD Việt Nam ngoài việc
không ngừng mở rộng qui mô về số lượng các trường ĐH-CĐ, nâng cao chất lượng
đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực có chuyên môn và trình độ cao, Đồng thời
các cấp quản lý cũng áp dụng những mô hình quản lý từ việc học hỏi mô hình
QTĐH hiệu quả của các nước trên thế giới như việc thành lập các Hội đồng trường
(HĐT) để điều hành và QT các hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu một
cách minh bạch, rõ ràng.
Cho đến nay, cả nước với hơn 400 (bốn trăm) trường ĐH-CĐ thì chỉ mới hình
thành khoảng trên 20 (hai mươi) HĐT. HĐT tại các trường ĐH ở Việt Nam là do
Ban Giám hiệu đề nghị và ra quyết định thành lập, nhất là các trường ĐH công lập.
Các HĐT thường không đủ quyền lực để ra các quyết định mà chủ yếu việc thành
lập này là cơ cấu tổ chức và bộ máy QT cần có. Do vậy mô hình QTĐH của Việt
Nam chúng ta hiện nay đang tồn tại song song một HĐT hoặc HĐQT cùng Ban
20Giám hiệu. Và quyền quyết định cho các hoạt động QT của nhà trường chủ yếu do
Ban Giám hiệu thông qua. Do đó hầu hết các trường ĐH-CĐ ở Việt Nam chưa xây
dựng được cơ chế QT rõ ràng, chưa phân cấp cụ thể, chưa có cơ chế kiểm soát độc
lập giữa các bộ phận. Trên thực tế, phần lớn Hiệu trưởng của các trường ĐH-CĐ chỉ
giới hạn công việc quản lý, lãnh đạo của mình thông qua việc chấp hành và thực
hiện những chỉ thị, thông tư, quyết định của Bộ GD&ĐT ban hành, chỉ đạo. Điều
này tác động trực tiếp đến quá trình điều hành, quản lý và QT nói chung của nhà
trường [66].
Rõ ràng, QTĐH là một lĩnh vực còn khá mới đối với Việt Nam, chính vì vậy
mà các nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chưa nhiều và đa dạng như các nghiên cứu
trên thế giới. Một số nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về vấn đề này nhưng không nhiều
vì nó liên đới tới rất nhiều hệ thống, bộ phận, ban ngành khác nhau mà cơ chế làm
Gần đây nhất là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thanh (2010) về “So sánh
mô hình QTĐH Quốc gia với một số ĐH khác trên thế giới” đã giới thiệu về một số
mô hình QTĐH và xu hướng QTĐH trên thế giới cũng như các vấn đề QTĐH ở
Việt Nam; “Báo cáo chuyên đề Đổi mới QTĐH nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động của ĐHQG Hà Nội” (2011). Hay nghiên cứu đang thực hiện của tác
giả Hoàng Thị Xuân Hoa (2011) nghiên cứu về “Các mô hình QTĐH tiên tiến tại
Việt Nam”.
Bên cạnh đó, tìm hiểu về vai trò của phụ nữ trong GD có tác giả Lê Thị Quý –
Nguyễn Thị Tuyết Nga (2008) với đề tài “Phụ nữ nước ta trong việc tham gia lãnh
đạo và quản lý” [41] đã nêu lên một số đặc điểm của phụ nữ khi tham gia làm công
tác quản lý cũng như những thách thức mà phụ nữ gặp phải khi làm công tác quản
lý. Để từ đó, chúng ta có những giải pháp hỗ trợ và tăng cường vai trò quản lý và
lãnh đạo của phụ nữ trong các lĩnh vực hiện nay. Song bài viết này cũng chỉ đề cập
đến các đặc điểm chung và phổ quát, chưa đi sâu hay phân tích với đối tượng là nữ
giới làm công tác quản lý trong QTĐH hiện nay.
Nguyễn Thị Tuyết (2004) nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học ở các trường ĐH Việt Nam theo định hướng bình đẳng
giới”, cũng đã chỉ ra những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý của nữ giới và
vai trò giới trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong GD. Nghiên cứu này
22cũng đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về vai trò nữ giới trong công tác quản lý ở
một lĩnh vực nhất định là quản lý nghiên cứu khoa học trong trường ĐH. Nó cũng
đã giúp cho các nhà quản lý nhân sự và xây dụng chiến lược phát họa những điểm
có liên quan để định hướng và nâng cao vị thế quản lý của nữ giới trong công tác
quản lý.
Phạm Thị Ngọc Anh (2006) [1], “Vai trò giới và lượng hoá giá trị lao động
gia đình”; Nguyễn Bá Đạt (2009), “Định kiến về giới trong GD gia đình”,… cũng
diễn của QTĐH ở Anh; Glen A.Jones tiếp cận mạng lưới chính sách đối với cấu
trúc của QT ở Canada; V.Lynn Meek bàn về QT và điều hành ở ĐH Autralia trong
thương trường; Elaine El-Khawas bàn về các động lực bên trong xếp hạng (aligning
internal dynamics) trong quá trình QT ở các ĐH Mỹ; Alberto Amaral, Glen A.Jones
và Berit Karseth so sánh các khía cạnh quốc gia trong hoạt động QTĐH [46].
Ngoài ra còn có Dennis John Gayle và các cộng sự (2003) đã khảo sát các cách
tiếp cận đối với lãnh đạo hiệu quả và điều hành chiến lược trong ĐH thế kỷ 21. Sau
khi tổng kết môi trường GD trong lịch sử, các tác giả đã thảo luận những đòi hỏi
trong thế kỷ 21 đối với QT, gồm số lượng SV lớn hơn tiếp cận các cơ hội GD,
nguồn gốc then chốt của việc lập pháp, hệ thống và sự kỳ vọng của ủy viên QT đối
với việc giải trình trách nhiệm một cách cởi mở - những nhân tố làm thay đổi bộ
mặt GDĐH cũng như những nhận thức truyền thống về QT.
G.Micky Berezi (2008) thực hiện một nghiên cứu về vai trò của HĐQT trong
việc hình thành hoạt động QTĐH ở Vương Quốc Anh. Nghiên cứu nhằm mục tiêu
khảo sát động lực tham gia QT và các nhận thức của các ủy viên HĐQT về những
vai trò và nhiệm vụ của họ trong nỗ lực hình thành hệ thống QT và điều hành của
các thiết chế QT trong bối cảnh các cải cách GDĐH được đề xướng.
William L.Waugh (2000) bàn về xung đột giá trị và văn hóa như là một thách
thức đối với QTĐH. Tác giả cho rằng trong khi phát triển một phong cách quản lý
như các công ty (business-like) có thể làm tăng lên các chi phí cho tổ chức ĐH.
Nhưng thách thức là nó nhanh chóng xung đột với các giá trị mang tính trí tuệ
truyền thống của ĐH.
Simon Marginson, Mark Considine (2000) bàn một cách rộng rãi các vấn đề
từ chính sách đến QT, từ trường đào tạo tới công ty toàn cầu, các lĩnh vực và chiến
lược của quyền lực QT, vấn đề sự riêng biệt và kết hợp trong quyền lực thể chế, về
24kinh tế của sự sáng tạo và quyền lực nghiên cứu, việc sử dụng nhiều cách thức để
chung. Nghiên cứu còn đề cập đến vấn đề tài chính trong QTĐH và các nguồn quỹ
như nguồn quỹ hiến tặng của nhà trường.
Nhóm tác giả Alf Lizzio, Keithia Wilson (2009) đã khảo sát về các nhân tố ảnh
hưởng theo hướng thúc đẩy hay là cản trở hiệu quả hoạt động QTĐH của đại diện
SV với tư cách là thành viên của một tổ chức. Nghiên cứu chỉ ra rằng các ĐH cần
tuân theo cách tiếp cận mang tính tiên phong đối với sự phát triển và đồng thuận
của các lãnh tụ và người đại diện của SV. Nghiên cứu đã tìm hiểu sự mong muốn và
kỳ vọng của SV đối với người quản lý CB khoa, cũng như những thách thức với vai
trò, vị trí của người điều hành và CBNV khoa trong việc thu hút việc tham gia của
SV trong các hoạt động QT của nhà trường.
Tóm lại, trong khi các nghiên cứu về QTĐH ở nước ngoài rất phong phú và đa
dạng, thì các nghiên cứu trong nước về vấn đề này vẫn còn rất ít. Bên cạnh đó là
một số nghiên cứu về đặc điểm phụ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý khoa học là
cơ sở cho các nghiên cứu về vai trò nữ giới trong các hoạt động QTĐH. Với cơ chế
quản lý các trường ĐH hiện nay tập trung chủ yếu bởi Bộ GD&ĐT là cơ quan chủ
quản và các bộ ban ngành khác. Do đó các hoạt động về QTĐH chưa thực sự được
quan tâm và chưa có nhiều nhu cầu nghiên cứu tại các trường ĐH. Nhất là bàn về
QTĐH kết hợp với vai trò của phụ nữ trong QTĐH nói chung. Như vậy một vấn đề
còn bỏ ngỏ hiện nay mà các nhà nghiên cứu chưa tìm hiểu, đó là hiện trạng QTĐH
hiện nay. Trong đó vai trò của nữ giới đã có những đóng góp quan trọng như thế
nào trong QTĐH cũng chưa được biết đến.
Như vậy, khi tìm hiểu về vai trò của phụ nữ trong QTĐH không thể không tìm
hiểu đến các vấn đề về QTĐH nói chung và sự tham gia của nữ giới trong lĩnh vực
này. Tuy nhiên các nghiên cứu về sự tham gia của nữ giới trong GD cũng như vai
trò QT trong các trường ĐH hiện nay chưa có nhiều nguồn tài liệu cung cấp. Trên
thực tế vai trò của nữ giới trong công tác QTĐH vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được
ghi nhận, chưa phát huy đúng mức và cũng chưa được tạo điều kiện để phát triển
hay có những đóng góp chung nhất định vào sự phát triển GD toàn diện. Do vậy,