vai trò của phụ nữ islam đối với gia đình và kinh tế xã hội ở indonesia - Pdf 24

Vai trò của người phụ nữ Islam trong gia đình và
xã hội Indonesia
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
bài Niên luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình của quý thầy cô giáo Khoa Lịch Sử và
sự giúp đỡ từ giáo viên hướng dẫn Mai Thúy
Bảo Hạnh.
Trước hết, tôi xin gửi lời trân trọng cám ơn
đến quý thầy cô giáo Khoa Lịch Sử, Trường Đại
học Khoa học Thừa Thiên Huế đã tận tình
giảng dạy và truyền đạt những kiến thức cho
tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, cho tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến cô giáo Mai Thúy Bảo Hạnh
người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện bài báo cáo tốt
nghiệp này.
Trong thời gian thực hiện mặc dù đã có
nhiều cố gắng nhưng kiến thức và năng lực
bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh
khỏi những sai sót. Kính mong quý thầy cô
xem xét và đóng góp ý kiến để bài báo cáo tốt
nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi đến quý thầy cô giáo
Khoa Lịch Sử lời chúc sức khỏe và thành công.
Một lần nữa, xin chân thành cám ơn!
Trần Thị Quê Báo cáo tốt nghiệp
1
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Quê
MỤC LỤC

3.2.1 Cấu trúc của một gia đình Islam 22
3.2.2 Đối với chồng 23
3.2.3 Đối với con cái 24
3.3 Vai trò của phụ nữ Islam trong xã hội Indonesia 24
3.4 Những quy định và cấm đoán của Islam, và ảnh hưởng đến phụ nữ trong xã hội 25
KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 33
Vai trò của người phụ nữ Islam trong gia đình và
xã hội Indonesia
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cộng hòa Indonesia nằm ở phía Đông Nam châu Á, là nước nhiều
quần đảo nhất thế giới, có khoảng 3.700 hòn đảo, nối châu Á với châu Đại
Dương, giữa Malaysia và Ústralia. Diện tích 1.919.443km vuông. Dân số
khoảng 225 triệu người, khoảng 70% dân số tập trung ở đảo Java.
Indonesia có khoảng 150 dân tộc, chiếm đa số là người Java, Suda,
Madula, người Hoa…
Ngôn ngữ chính là tiếng Medalu, ngoài ra còn sử dụng khoảng 200
ngôn ngữ khác, 90% dân số theo đạo Hồi, còn lại theo Thiên Chúa giáo,
Phật giáo. Thủ đô là Jakarta nằm tên đảo Java với khoảng 14 triệu người,
68,8% dân cư sống ở nông thôn. Nông nghiệp giàu khoáng sản khí đốt, dầu
mỏ là nền kinh tế trụ cột của Indonesia. Tổng sản phẩm quốc dân đạt
153.255 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 681
USD. Đồng Rupi là đơn vị tiền tệ của Indonesia.
Hồi giáo là tôn giáo độc thần phát triển thứ ba và cuối cùng. Nó xuất
hiện ở Cận Đông, bắt nguồn từ chính mảnh đất được nuôi dưỡng bằng
chính những tư tưởng, căn cứ tren truyền thống văn hóa như Thiên Chúa
giáo và Do Thái giáo. Hệ thống tôn giáo này cùng với độc thần giáo
nghiêm ngặt và hoàn tất nhất, được đưa tới tốt đỉnh, đã hình thành trên cơ

xã hội, chính trị văn hóa ở phương Đông. Tuy nhiên việc nghiên cứu hay
phân tích những ảnh hưởng của một tôn giáo đối với một xã hội cũng như
sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nó đến với một giai tầng trong xã hội sẽ rõ ràng
hơn, nếu được khai thác ở một góc cạnh cụ thể.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay với mong muốn hiểu rõ hơn
về Islam, cũng như ảnh hưởng của tôn giáo này đối với phụ nữ Indonesia,
và vai trò của người phụ nữ Islam trong xã hội, gia đình Indonesia, tôi đã
được hướng dẫn đề tài : “Vai trò của phụ nữ Islam đối với gia đình và kinh
tế xã hội ở Indonesia” để làm báo cáo tốt nghiệp cử nhân ngành Đông
phương học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong qúa trình nghiên cứu và thực hiền đề tài báo cáo tôi đã có
nhưng tham khảo nhất định trong một số sách báo, tạp chí, và trang web.
Tuy nhiên những tài liệu mà tôi đã được tham khảo chủ yếu chỉ đề cập đén
phụ nữ Islam trong xã hội Hồi giáo Arâp, những cấm đoạn hay những đạo
luật nghiêm khắc của đạo Hồi đối với người phụ nữ Islam, nội dung kinh
Qu’ran.v.v Mà không đề cập nhiều đến vai trò và vị trí của người phụ nữ
Islam trong xã hội gia đình của bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài báo cáo đã có sự trình bày khái quát nhất vế đất nước con người
Indonesia, văn hóa truyền thống cũng như nền kinh tế về đát nước này. Bên
cạnh đó cũng trình bày cơ bản sự ra đời của đạo Hồi, phụ nữ đạo Hồi trong
thế giới những người Arâp, sự du nhập cũng như sự phát triển của Hồi giáo
ở quốc gia này. Thông qua đó phân tích rõ ràng hơn vai trò của người phụ
nữ Islam trong xã hội và gia đình tại Indonesia, và những điều luật hà khắc
tác động như thế nào đến đời sống hàng ngày của người phụ nữ Islam.
Vai trò quan trọng ở đây không chỉ có sự cuồng tín mà cả thuyết
định mệnh, tức niềm tin rằng số phận của mỗi người đều do Thánh Ala
định trước, rằng không thể chạy trốn khỏi nó, và do vậy không có gì mà
phải sợ.

dụng kết hợp các phương pháp thống kê, biên niên, đối chiếu so sánh làm
sáng tỏ nội dung trình bày để rút ra các kết luận chính xác.
* Nguồn tài liệu nghiên cứu: Đề tài khóa luận này là một đề tài mới,
nguồn tài liệu vẫn đang còn sự hạn chế. Để thực hiện đề tài này, tác giả sử
dụng những nguồn tư liệu từ :
- Những công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ như : Đỗ
Minh Hợp, Lương Ninh
- Các ấn phấm do Nxb HàNội
- Báo và tạp chí
- Tài liệu truy cập trên mạng Internet ( tiếng Việt và tiếng Anh)
- Các văn bản, tài liệu, hình ảnh có liên quan đến vai trò của người
phụ nữ Islam ở Indonesia.
6. Đóng góp của đề tài
Bài báo cáo đã nghiên cứu cụ thể hơn về đạo Hồi, những điểm tích cực
và tiêu cực của tôn giáo này đối với người phụ nữ Islam. Đồng thời làm rõ
hơn vai trò của người phụ nữ trong xã hội Hồi giáo, mà trong lịch sử hạn chế
về tài liệVới khả năng tiếp cận nguồn tài liệu còn hạn chế, không có điều kiện
tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu trong và ngoài nước, mà chủ yếu sử dụng các
bài tiếng việt, bước đầu làm quen với nghiên cứu nên không tránh được
những thiếu sót và không giải quyết thảo đáng những vấn đề đặt ra của đề tài,
toàn bộ bài nghiên cứu ở đây tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Tìm hiểu đất nước con người Indonesia trên tất cả các mặt như: vị trí
địa lí, dân cư, ngôn ngữ, xã hội, tôn giáo.v.v Đạo Hồi ở Indonesia qua sự ra
đời du nhập và phát triển tại quốc gia này. Vai trò của người phụ nữ Islam
trong gia đình và xã hội của Indonesia. Những quy định và cấm đoán của đạo
Hồi và hạn chế của đạo luật này đối với người phụ nữ.
7. Bố cục của đề tài
Nội dung chủ yếu ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo.
gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái quát đất nước Indonesia

nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền. Mật độ dân số trung
bình là 134 người/km
2
(347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới,dù
Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới, có mật độ dân số khoảng
940 người /km
2
(2.435 trên dặm vuông). Nằm ở độ cao 4.884 mét
(16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất Indonesia, và hồ Toba
tại Sumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145/km
2
(442 dặm vuông). Các
con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các sông Mahakam
và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng nối giữa
các khu định cư trên đảo.
1.2 Con người
Dân số quốc gia theo cuộc tổng điều tra năm 2000 là 206 triệu người,
và Văn phòng Thống kê Trung ương Indonesia và Thống kê Indonesia ước
tính dân số năm 2006 là 222 triệu người. Với 130 triệu người, Java là đảo
đông dân nhất thế giới hiện nay. Dù có một chương trình kế hoạch hóa gia
đình khá hiệu quả được thực thi từ thập niên 1960, dân số nước này được
cho sẽ tăng lên khoảng 315 triệu người năm 2035, dựa trên mức ước tính tỷ
lệ tăng hàng năm hiện nay là 1,25%.
Đa số người Indonesia là hậu duệ của những người nói tiếng
Austronesia có nguồn gốc từ Đài Loan. Các nhóm chính khác gồm người
Melanesia, sống ở phía đông Indonesia.

Có khoảng 300 sắc tộc bản địa
khác nhau tại Indonesia, và 742 ngôn ngữ cùng thổ ngữ. Nhóm đông nhất
là người Java, chiếm 42% dân số, và có ưu thế văn hóa cũng như chính trị.

Trong gần 30 năm “trật tự mới” (1966-1997), Indonesia đã đạt được nhiều tiến
bộ to lớn về kinh tế, GDP trung bình hàng năm luôn ở mức trên 7,2%
Tuy nhiên khó khăn bắt đầu xuất hiện từ năm 1996 lo ngại Indonesia
sẽ tan rã tương tự như kịch bản từng xảy ra với vùng Balkan. Thế nhưng
khi đã rơi xuống tận cùng như vậy, năm 1998 cũng là điểm khởi đầu giúp
Indonesia hồi sinh.
Năm 1998, Indonesia là nước phải chịu ảnh hưởng nghiêm trọng
nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực với mức tăng trưởng
GDP âm 18%. Năm 1999, kinh tế từng bước được phục hồi, tốc độ tăng
trưởng đạt 0,48%.
Từ năm 2000-2008, kinh tế Indonesia tiếp tục hồi phục. Năm 2007,
tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,4%; năm 2008 đạt 6,1%.
Cuối năm 2008, đầu năm 2009, kinh tế Indonesia gặp khó khăn do
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới. Do đó, tốc độ
tăng trưởng GDP năm 2009 chỉ đạt 4,5%, tỷ lệ thất nghiệp 7,7% và tỷ lệ
lạm phát là 4,8%.
Sáu tháng đầu năm 2010, GDP của Indonesia tăng 5,9%, dự kiến cả
năm 2010 đạt 6,2%. Dự trữ ngoại tệ đến hết tháng 8-2010 đạt mức cao kỷ
lục 81,3 tỷ USD.
1.3.1 Công nghiệp
Tổng giá trị các sản phẩm công nghiệp chiếm 47% GDP.
Sản phẩm công nghiệp chính: dầu mỏ và khí tự nhiên, hàng dệt,
hàng thêu, giày dép, bít tất, sản phẩm mỏ, ximăng, phân bón, gỗ dán, cao
su, thực phẩm, du lịch.
1.3.2 Nông nghiệp
Tổng giá trị các sản phẩm nông nghiệp chiếm 15,3% GDP.
Sản phẩm nông nghiệp chính: gạo, sắn, lạc, cô ca, càphê, dầu cọ (là
quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới), cùi dừa khô, gia cầm, thịt bò,
thịt lợn, trứng.
1.3.3 Dịch vụ

Indonesia:
« Cho đến năm 1997 Indonesia từng được coi là một trong những
con cọp của châu Á, tức là một nền kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển,
một nền kinh tế đang trỗi dậy với nhiều hứa hẹn. Trong khoảng 3 thập
niên, từ đầu những năm 1970 kinh tế Indonesia đã tăng trưởng mạnh, thu
hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Indonesia đã đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hóa đất nước, đẩy mạnh ngành du lịch và khai thác lâm nghiệp. Đà
tăng trưởng đó có được phần lớn nhờ chính sách của tổng thống Suharto
liên tục cầm quyền từ năm 1966 đến 1998. Song song với phát triển kinh tế,
Indonesia cũng đã mở rộng hệ thống giáo dục đến mọi tầng lớp xã hội. Tuy
nhiên, nạn tham nhũng dưới thời Suharto đã tràn lan, chủ yếu do khai thác
căc nguồn tài nguyên thiên nhiên, và các dự án xây dựng … Bất bình đẳng
xã hội cũng đã rõ nét dưới thời đại Suharto.
60 % dân số Indonesia sống tại Java và Java cũng là lá phổi tài
chính, kinh tế của cả nước. Thế nhưng phần còn lại của Indonesia thì như
đã bị bỏ quên. Khủng hoảng tài chính những năm 97-98 đẩy kinh tế
Indonesia xuống vực thẳm : nhiều ngân hàng và doanh nghiệp phải đóng
cửa. Nạn thất nghiệp gia tăng. Người dân lâm vào cảnh bần cùng, không
còn kiên nhẫn khi thấy các tàng lớp lãnh đạo tham ô, những kẻ « ăn trên
ngồi trước » bình yên vô sự.
Bằng những biện pháp cấp bách, cho đến cuối năm 1999, nền kinh tế
Indonesia có những dấu hiệu phục hồi.Năm 2000 một số chỉ tiêu kinh tế đã
đạt bằng trước mức khủng hoảng. Tỉ lệ nợ chính phủ trong tổng nợ GDP
liên tục giảm trong nhiều năm, mức đọ lạm phát giảm dần dần và được
kiềm chế. Số người thất nghiệp giảm xuống còn 8,5 triệu người. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế đạt 5% năm 2001, 3,7% năm 2002, và 4,5% năm 2003.
Nhìn chung so với các nước sáng lập ASEAN, nền kinh tế Indonesia
mới đạt mức phát triển trung bình, được xếp vị trí thứ 5 sau Singapore,
Brunei, Thailand và Malaisia. Bên cạnh đó Indonesia còn đối mặt với nhiều
thách thức lớn về an ninh chính trị và hàng loạt những vấn đề xã hội khác.

Gabriel.
2.1.1 Luật lệ căn bản của Hồi giáo
Một lần trong đời họ phải hành hương vè thánh địa Mecca, nhưng
với điều kiện họ không vây nượn hay xin phí tổn. Trước khi họ đi họ phải
lo cho gia đình, vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ
vắng mặt để hành hương.
Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo
nghi thức, không được ăn thịt lợn, vì cho rằng nó là con vật bẩn thỉu.
- Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
- Nghiêm cấm cờ bạc.
- Nghiêm cấm gian dâm trai gái quan hệ trước khi cưới hỏi.
- Nghiêm cấm ăn thịt những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp.
Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt halal, tức là thịt được giết mổ theo
nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên trong trường hợp tuyệt đối không có gì
ăn họ được phép ăn mọi thứ để duy trì sự sống.
Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và
biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch mặt trăng, trong
tháng này khi còn ánh sáng mặt trời họ không được ăn và uống, đến đêm
thì mới ăn, cũng trong tháng này con người phải tha thứ và sám hối, vợ
chồng không được phép gần nhau vào ban ngày, phụ nữ có thai không cần
thực hiện tháng nhịn chay này.
Hồi giáo nghiêm cấm kị thị chủng tộc và tôn giáo, và tín đồ Hồi giáo
không được phép chỉ trích hay phán xét người khác.
2.1.2 Năm điều căn bản của đạo Hồi
Thứ nhất, Tuyên đọc câu Sahadah: la ila ha il lallah có nghĩ là “
Allah là đấng duy nhất để phụng thờ”.
Thứ hai, Cầu nguyện một ngày 5 lần, thứ 6 hàng tuần phải làm lễ tại
thánh đường 1 lần vào buổi trưa. Trước khi làm lễ tín đò phải rửa mặt rửa
tay chân quỳ xuống hướng về Kabab để cầu nguyện.
Thứ ba, Bố thí.

Sau khi Hồi giáo ra đời, vào khoảng thời gian từ năm 622 đến năm
630, cùng với việc xây dựng lực lượng, tôn giáo này phải trải qua thời kỳ
đấu tranh quyết liệt, kết hợp những cuộc "thánh chiến" với những hoạt
động chính trị và ngoại giao, Mohammad và những người Hồi giáo đã
chinh phục được thành Mecca và truyền bá Hồi giáo đến vùng này. Cho
đến thế kỷ XI, Hồi giáo trở thành một tôn giáo quốc tế, thống soái các quốc
gia dân tộc từ Địa Trung Hải đến Vịnh Ba Tư. Vào khoảng ba thế kỷ sau
(từ thế kỷ XIV đến XVI), Hồi giáo truyền bá xuống vùng Đông Nam Á,
trong đó có Việt Nam.
Hiện nay, Hồi giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất thế giới (trên 1,3
tỷ tín đồ), có mặt ở hơn 100 quốc gia trên tất cả các châu lục. Quốc gia có
đông người Hồi giáo nhất hiện nay không phải là nước ở khu vực Trung
Đông như nhiều người vẫn tưởng, mà là Indonesia nước ở khu vực Đông
Nam Á với trên 180 triệu tín đồ chiếm 87% dân số của đất nước này.
2.3 Sự du nhập và phát triển của đạo Hồi ở Indonesia
Các quốc gia Đông Nam Á hải đảo có nhiều hương liệu, khoáng sản
và đặc biệt có nhiều thương cảng thuận lợi cho việc buôn bán. Do đó
thương gia các nước (trong đó cơ bản là người Ấn Độ), đến đây buôn bán
và truyền đạo ngày một nhiều.“Các thương cảng và các trung tâm buôn
bán đã được mở mang và phát triển dọc theo bờ biển Đông Nam Á. Đó
cũng là môi trường hết sức thuận lợi cho những thương nhân Hồi Giáo đến
đây buôn bán và truyền đạo”. Đáng chú ý là đạo Hồi xâm nhập Đông Nam
Á bằng con đường thương mại “hòa bình” (thông qua những thương nhân
Ảrập buôn bán trên tuyến Trung Đông - Ấn Độ - Đông Nam Á), hoàn toàn
không có yếu tố bạo lực và chinh phạt như đạo Hồi tại Trung Đông.
Chính sự du nhập và phát triển bằng con đường "hoà bình", lại từ
nguồn Hồi giáo Ấn Độ đã dung hoà với văn hoá Ấn Độ nên Hồi giáo ở khu
vực Đông Nam Á thường bị pha trộn với tín ngưỡng, phong tục tập quán
địa phương. Điều này khác hẳn với những nơi Hồi giáo bành trướng bằng
những cuộc chiến tranh chinh phục. Hồi giáo khu vực Đông Nam Á nói

khỏi danh sách các nước khoan dung về tôn giáo, và rằng phe theo đường lối
cứng rắn đang dần ở thế thượng phong. Đó là những gì Irshad Manji, một nhà
cải cách Hồi giáo và nữ quyền, tin như vậy.
Cũng thâm nhập một cách hòa bình và chủ yếu qua các thương nhân
như Phật giáo và Ấn Độ giáo trước kia, nhưng Hồi giáo đã lam tỏa và bén
rễ vào Indonesia nhanh và sâu hơn nhiều so với các tôn giáo khác của Ấn
Độ thời xưa. Chỉ sau một thời gian rất ngắn, hầu như cả vùng quần đảo lớn
nhất hành tinh này đã cải giáo theo Đạo Hồi. Hiện nay, mặc dù không được
chính thức coi là quốc giáo, nhưng cứ mười người dân Indonesia thì có tới
chín người theo Đạo Hồi.
Theo thời gian, cùng với những nghi thức giản đơn, với tính dễ dung
hòa với các tín ngưỡng bản địa, Hồi giáo đã rất nhanh chóng trở thành một
sức mạnh liên kết các dân tộc khác nhau ở quần đảo Indonesia vào một
cộng đồng chung. Sau này, Đạo Hồi còn trở thành một lực lượng chính trị
mạnh trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập và trong
công cuộc xây dựng đất nước.
Tư tưởng Hồi giáo còn ảnh hưởng rất mạnh đến các lĩnh vực xã hội,
giáo dục, văn hóa, nghệ thuật của Indonesia.
Những con thuyền buôn không chỉ đem Đạo Hồi đến khắp nơi ở
Indonesia mà còn góp phần làm cho các dân tộc khác nhau ở vùng quần
đảo này tiếp xúc với nhau nhiều hơn, đến với nhau thường xuyên hơn. Việc
di dân đối với lịch sử Indonesia đã có từ thời cổ, nhưng với sự phát triển
của Hồi giáo, quá trình di dân được diễn ra mạnh hơn, rộng hơn và dễ dàng
hơn ở mọi nơi trong vùng quần đảo. Người Ache đã tới sống và định cư ở
Malacca và những nơi khác ở bán đảo Mã Lai; người Giava, người Bugi,
người Bantam cũng đi đến nhiều nơi khác và không ít người đã ở hẳn tại
nơi mình đến. Nhờ sự bành trướng của Đạo Hồi, tiếng Mã Lai dần dần lan
tỏa ra khắp vùng quần đảo để rồi sau này sẽ trở thành tiếng nói chung, ngôn
ngữ chung cho hầu hết các dân tộc Indonesia.
Chính Hồi giáo cùng với những yếu tố văn hóa xã hội đi theo, đã trở

kinh Koran nên cũng là Thánh Luật bất khả xâm phạm. Do đó, những điều
gì dù bất công và vô lý đã được kinh Koran và thánh luật Sharia áp đặt lên
số phận phụ nữ cũng đều trở thành bất di bất dịch trong các nước Hồi Giáo.
Thí dụ:
Kinh Koran đã qui định chế độ y phục của phụ nữ hết sức khắt khe
như sau: "Phụ nữ phải mặc che kín hoàn toàn, không được để lộ một phần
nào của thân thể trước mặt bất cứ một người đàn ông nào, bao gồm cả mặt
và tay"
Kinh Koran minh thị xác nhận uy quyền của đàn ông đối với đàn bà:
"Đàn ông có quyền đối với đàn bà vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao quí hơn
đàn bà và vì đàn ông phải bỏ tài sản của mình ra để nuôi họ. Đàn bà tốt
phải biết vâng lời đàn ông vì đàn ông săn sóc cả phần tinh thần của đàn
bà. Đối với những phụ nữ không biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ,
không cho nằm chung giường và có quyền đánh đập".
Kinh Koran coi thiên đàng là "Khu vườn của lạc thú nhục dục muôn
đời", còn ở trên thế gian nầy thì đàn bà là "cánh đồng lạc thú" mà mọi
nguời đàn ông đều có quyền chủ động bước vào nếu muốn:
Đàn bà bị xã hội Hồi Giáo coi là một thứ công cụ để đẻ con và để
thỏa mãn dục tính của đàn ông. Kinh Koran còn qui định: khi cha mẹ chia
gia tài thì con gái chỉ được hưởng một phần nửa phần của con trai mà thôi.
Khi các nhân chứng ra trước tòa làm chứng thì lời chứng của đàn bà chỉ có
giá trị bằng một nửa lời khai của đàn ông. Khi nạn nhân là phụ nữ bị giết
thì thân nhân chỉ được lãnh một nửa số tiền bồi thường.
Đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đàn bà chỉ được lấy một
chồng, do đó đàn ông không có tội ngoại tình. Trái lại, đàn bà ngoại tình sẽ
bị đem ra nơi công cộng để mọi người ném đá đến chết.
Trải qua 14 thế kỷ, kinh Koran đã gieo biết bao tai họa cho các phụ
nữ Hồi giáo nhưng vì các tín đồ ngoan đạo đều coi Koran là "Chân lý Tối
Hậu của Thiên Chúa" (The Final Truth of Allah) nên không ai dám coi đó
là những điều vô lý hoặc bất công. Các tín đồ nam cũng như nữ không còn

Trích đoạn Những quy định và cấm đoán của Islam, và ảnh hưởng đến phụ nữ trong xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status