Vai trò của đạo tin lành đối với quá trình hiện đại hóa xã hội Hàn Quốc - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 LÊ VĂN TUYÊN VAI TRÒ CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA XÃ HỘI HÀN QUỐC Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số : 60 22 03 09 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Hƣng

Hà Nội - 2014


khai nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình và người thân đã luôn ở bên, chu
cấp tài chính, cổ vũ và động viên tác giả vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt
luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Cấu trúc dân số tôn giáo của Hàn Quốc theo giới năm 2005
Bảng 1.2: Phân bố tôn giáo theo độ tuổi năm 2005
Bảng 1.3: Cấu trúc phân bố tôn giáo Hàn Quốc theo khu vực năm
2005
Bảng 2.1: Các trường học đầu tiên ở Hàn Quốc do các nhà truyền giáo
thành lập những năm 1886 – 1890
Bảng 2.2: Số lượng các trường học do các nhà truyền giáo mở ra từ
năm 1894 đến 1904
Bảng 2.3: Số lượng các trường học của đạo Tin Lành năm 2008
Bảng 2.4: Tình hình thành lập bệnh viện truyền giáo (bao gồm cả
phòng khám) của các giáo phái Tin Lành tính đến năm 1913
Bảng 2.5: Số lượng các bệnh nhân được chữa trị bởi các bệnh viện
truyền giáo Tin Lành, năm 1892
Bảng 3.1: Tỉ lệ đồng nhất tôn giáo của các cặp vợ chồng

phải đẩy mạnh giao lưu hợp tác với các quốc gia, dân tộc khác. Thực tế lịch sử
cho thấy giao lưu văn hoá luôn là một trong những yếu tố để mỗi dân tộc tự
hoàn thiện mình. Việt Nam và Hàn Quốc đã từng có mối bang giao trong lịch
sử, hai nước được xem là những nước “đồng văn” (tương đồng về văn hoá),
đều nằm ở phía Đông của châu Á, đều có phần đầu của đất nước tiếp giáp với
Trung Quốc, còn một phần thông ra biển. Cả hai dân tộc đều trải qua hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước, đều anh hùng và bất khuất trong đấu tranh
giữ nền độc lập, nhưng mỗi nước có một con đường phát triển khác nhau. Và
quan hệ Việt – Hàn đương đại đang mở ra cơ hội to lớn cho cả hai dân tộc.
Những kiến thức, những hiểu biết về dân tộc, lịch sử, văn hoá, và tôn giáo,
sẽ giúp cho mối quan hệ giữa hai bên được thuận lợi và bền chặt hơn.
Mặt khác, trong những thập niên vừa qua tại Việt Nam, đạo Tin Lành
có những bước phát triển rất đáng lưu ý, đặc biệt tại các vùng cao, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số như Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Phải làm
gì để ứng phó với thực trạng trên hiện nay rõ ràng là những vấn đề thực tiễn
đang đặt ra và cần có lời giải đáp. Để đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đó, cần có
những nghiên cứu không chỉ từ thực tiễn đời sống của đạo Tin Lành trong
nước mà phải kết hợp với việc nghiên cứu nước ngoài, nhất là vai trò của đạo
Tin Lành ở các quốc gia trong khu vực cận kề để có cái nhìn toàn diện. Do đó,
nghiên cứu vai trò của đạo Tin Lành đối với hiện đại hoá xã hội Hàn Quốc 3
mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc góp phần tăng cường hiểu biết thực trạng đạo
Tin Lành ở Hàn Quốc đồng thời rút ra những kết luận và bài học nhằm phát
huy tính tích cực của tôn giáo này vào quá trình phát triển xã hội và hạn chế
những tác động tiêu cực của nó trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực
hiện nay.
Hơn nữa, cộng đồng Tin Lành Hàn Quốc cũng như vai trò của nó đối
với sự biến đổi chính trị, xã hội, kinh tế của quốc gia này đã và đang nhận

Tác giả Lý Xuân Chung trong bài viết “Vai trò của đạo Tin Lành ở Hàn
Quốc và nguyên nhân suy giảm tốc độ phát triển những năm gần đây” (Tạp
chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 9, 2009) đã chỉ ra đạo Tin Lành có bốn vai trò
đối với xã hội Hàn Quốc như sau: Thứ nhất, đạo Tin Lành hoà chung với
dòng chảy của tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc cao của dân tộc Hàn, cổ
xuý tinh thần dân tộc, đặc biệt là trong thời kỳ đấu tranh chống phát xít Nhật
trước năm 1945; thứ hai, đạo Tin Lành đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp
giáo dục ở Hàn Quốc; thứ ba, đạo Tin Lành có ảnh hưởng mạnh và sâu sắc tới
sự biến đổi của xã hội Hàn Quốc; thứ tư, Đạo Tin Lành có vai trò lớn trong
vấn đề tiếp biến văn hoá ở Hàn Quốc – tạo nên những nét tươi mới. Đồng thời
tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm tốc độ phát triển
của đạo Tin Lành những năm gần đây.
Sang Gyoo Lee nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với xã hội
Hàn Quốc trong bài viết “Đạo Tin Lành có ảnh hưởng đến Hàn Quốc như thế 5
nào?” (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1, 2012). Theo tác giả, ảnh hưởng của
đạo Tin Lành đối với xã hội Hàn Quốc được thể hiện trên nhiều phương diện
như: thúc đẩy hiện đại hoá xã hội Hàn Quốc thông qua giáo dục hiện đại và y
tế; đả phá mê tín dị đoan, giáo dục cho phụ nữ và đề cao nữ quyền; có nhiều
đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc ở Triều Tiên,… Tóm lại, đạo Tin
Lành chính là con đường hiện đại của Hàn Quốc. Đây thực sự là những gợi ý
hết sức quí báu cho luận văn.
Luận văn thạc sĩ “Tin Lành Việt Nam với hiện đại hoá (trong cái nhìn
so sánh với Tin Lành Hàn Quốc)” (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam
học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011), dưới góc độ tôn giáo học so sánh, tác
giả Trần Thị Tuyết đã tiến hành so sánh đạo Tin Lành với quá trình hiện đại
hoá ở cả hai nước Việt Nam và Hàn Quốc trên các khía cạnh kinh tế và giáo
dục. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở mức độ so sánh chứ chưa thực sự

- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của đạo Tin Lành Hàn
Quốc nói chung và một số giáo phái trong cộng đồng Tin Lành Hàn Quốc nói
riêng.
- Phân tích tác động của đạo Tin Lành Hàn Quốc trên một số lĩnh vực
kinh tế, giáo dục, y tế và văn hoá xã hội.
- Rút ra một số hạn chế và kinh nghiệm lịch sử về vai trò của đạo Tin
Lành đối với hiện đại hoá Hàn Quốc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đạo Tin Lành và vai trò của nó
đối với quá trình hiện đại hoá của Hàn Quốc. Hiện đại hoá, hay chính xác hơn, 7
được hiểu như quá trình của tính hiện đại (Modernity). Hiện đại hoá ở đây
được xác định trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh kinh tế - văn
hoá, giáo dục.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung trên các lĩnh vực kinh tế -
văn hoá chứ không bàn đến những vấn đề liên quan đến chính trị.
5. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý thuyết
Tôn giáo học là một ngành nghiên cứu sử dụng rất nhiều lý thuyết,
trong luận văn này tác giả sử dụng những lý thuyết sau:
- Lý thuyết cấu trúc chức năng: Thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh
tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ
phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể
đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững. Tác giả sử dụng
lý thuyết này để thấy được đạo Tin Lành với tư cách là một bộ phận trong
chỉnh thể xã hội Hàn Quốc nên nó cũng có chức năng nhất định đối với việc
duy trì trật tự ổn định của xã hội Hàn Quốc.
- Lý thuyết hiện đại hoá: Lý thuyết này được sử dụng để giải thích quá

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, 9
tiết: 9
Chương 1: Lịch sử truyền bá và thực trạng đạo Tin Lành ở Hàn Quốc
hiện nay.
Chương 2: Tác động của đạo Tin Lành tới các lĩnh vực kinh tế, giáo
dục, y học và văn hoá – xã hội Hàn Quốc.
Chương 3: Đạo Tin Lành với hiện đại hoá và kinh nghiệm cho Việt
Nam.

10
NỘI DUNG

trọng trong thần học, nghi lễ và tổ chức. Hiện nay, rất khó để có một con số
chính xác nhưng ước tính có khoảng 33.000 hệ phái hiện diện trên 238 quốc
gia và mỗi năm lại có thêm hàng trăm giáo phái khác mới ra đời. Có khoảng
800 triệu tín đồ đạo Tin Lành trong số 2,2 tỉ tín đồ Ki tô giáo trên toàn thế
giới, bao gồm 170 triệu tại Bắc Mỹ, 160 triệu tại châu Phi, 120 triệu tại châu
Âu, 70 triệu tại châu Mỹ La tinh, 60 triệu tại châu Á, và 10 triệu tại châu Đại
Dương [64]. Riêng tại châu Á, trong những thập niên cuối thế kỉ 20 trờ lại
đây, đạo Tin Lành tại nhiều quốc gia có sự phát triển rất nhanh, đặc biệt là ở
Hàn Quốc và Trung Quốc.
1.1. Qúa trình du nhập và phát triển đạo Tin Lành ở Hàn Quốc
Thuật ngữ đạo Tin Lành ở Hàn Quốc được gọi Ke – Sin – Kyo (Cách
tân giáo) hoặc Ky – doc – Kyo (Tin Lành giáo), là những từ ngữ gốc Hán và
được sử dụng một cách thống nhất từ khi du nhập tới tận ngày nay. Thời điểm
đạo Tin Lành du nhập và Hàn Quốc được xác định vào khoảng năm 1884, do
một nhà truyền giáo đồng thời là bác sĩ người Mỹ tên là Horace N.Allen
truyền vào. Trong khoảng thời gian 130 năm tính đến nay, quá trình truyền bá
có nhiều thăng trầm và mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng do hoàn cảnh kinh tế
- xã hội qui định. Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu hoàn cảnh xã hội trước khi
Tin Lành truyền vào.
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1884
Nhà nước phong kiến Choson (1392 – 1910) thời mạt kỳ đã bộc lộ sự
khủng hoảng về mọi mặt, xã hội rối ren, lòng dân bất ổn. Do bị áp bức nặng 12
nề về kinh tế, khủng hoảng về tinh thần nên người nông dân Choson đã tin
theo giáo lý của một tôn giáo xuất hiện trên bán đảo, là Thiên đạo giáo và họ
tập hợp thành một lực lượng, khởi nghĩa chống lại triều đình. Đứng trước tình
hình đó, chính quyền Choson coi Thiên đạo là tôn giáo làm đảo lộn trật tự xã
hội và lừa phỉnh nhân dân nên đã bắt người đứng đầu là Chuê Che U, xử tử

việc phân định rạch ròi giáo sĩ Công giáo hay Tin Lành chưa được rõ ràng,
triều đình Choson thường gọi chung là giáo sĩ phương Tây, về tư tưởng gọi
chung là tư tưởng phương Tây. Việc đạo Kitô xâm nhập vào dân chúng đã bị
tầng lớp Yangban bảo thủ phản đối quyết liệt và triều đình Choson ra lệnh
thẳng tay đàn áp, một số giáo sĩ bị bắt, trong đó, giáo sĩ người Pháp bị xử tử
hình cùng nhiều tín đồ khác.
Sau sự kiện trên, Pháp mượn cớ đem các chiến thuyền chiếm đảo Kang
Hoa và tàu chiến Mỹ tiến thẳng vào sông TeTông, đến sát Bình Nhưỡng.
Triều đình Choson đã chống trả quyết liệt và cuối cùng tàu chiến phương Tây
phải rút lui. Trước nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây như vậy,
chính quyền Choson đã thi hành chính sách bế quan toả cảng, cấm thông
thương với phương Tây, cấm truyền bá đạo Kitô. Ngoài lệnh cấm được ban ra
“xích hoà bi”
2
còn được dựng ở khắp nơi để khuyến cáo dân chúng.
Sở dĩ chính quyền Choson phản kháng quyết liệt trước sự xâm nhập của
tư tưởng phương Tây, mà cốt lõi là đạo Kitô là bởi các nguyên nhân sau: thứ
nhất, tư tưởng bình đẳng và tự do cá nhân của phương Tây đã đi ngược lại với
tư tưởng đẳng cấp, tôn ti trật tự của Nho giáo Hàn; thứ hai, đạo Kitô loại bỏ
nghi lễ truyền thống thờ cúng tổ tiên ông bà vốn đã sâu rễ bền gốc trong xã

trong đời sống chính trị xã hội Choson, họ là những người lập nên tầng lớp Yangban bao gồm những thành
viên ở cả hai giới quân sự và dân sự. Ở triều đình, tầng lớp Yangban bao gồm các quan văn và quan võ, họ là
giai cấp nắm quyền thống trị trong bộ máy chính quyền nhà nước. Do chiếm ưu thế cao trong xã hội nên
Yangban chỉ thực hiện các nghĩa vụ hành chính và dành cả cuộc đời cho việc giáo dục, học tập, tu dưỡng đạo
đức Khổng giáo bởi đó là một học thuyết và là điều cần thiết với vương triều Choson.

2
. Bia bài xích chủ trương hoà nghị với các nước phương Tây. Để thể hiện quyết tâm thực hiện chính sách bế
quan toả cảng, triều đình Choson đã cho dựng nhiều tấm bia đá ở các đường phố chính kinh đô Seoul và ở cả
15
Tin Lành chủ yếu xâm nhập vào tầng lớp dưới của xã hội Choson, đặc biệt là
phụ nữ. Tuy cũng bị coi là tư tưởng của Phương Tây, cũng bị bài xích, phản
kháng của những nhà Nho bảo thủ nhưng đạo Tin Lành đã khôn khéo len lỏi
được trong dân chúng, thu hút được sự tin theo của tầng lớp bình dân bị áp
bức nặng nề về vật chất, bị khủng hoảng về tinh thần. Lý do đạo Tin Lành
xâm nhập vào xã hội Choson một cách yên bình hơn Công giáo có thể được lý
giải như sau:
Thứ nhất, đạo Tin Lành chấp nhận nhiều yếu tố thần thiêng của tín
ngưỡng Saman bản địa. Sự truyền bá và lý giải về đấng tối cao do Trời cử
xuống để cứu rỗi chúng sinh, giáo hoá dân chúng cũng gần như câu chuyện
thần thoại TanGun của dân tộc Hàn. TanGun là thuỷ tổ của dân tộc Hàn, là
con của Huan Ung được Ngọc Hoàng Thượng đế phái xuống bán đảo Hàn dạy
dân làm ăn sinh sống. Câu chuyện thần thoại dựng nước này bị triều đình
Choson bác bỏ, các nhà nho không công nhận, nhưng với người dân Hàn
TanGun luôn là Saman vĩ đại nhất. Sự mập mờ, lẫn lộn trong sự lý giải về
đấng tối cao xuống trần gian cứu rỗi chúng sinh nhiều khi đã có hiệu quả với
tầng lớp dưới vốn không nhiều tri thức.
Thứ hai, Tin Lành khéo khai thác tính thiện của Phật giáo. Thiện tâm là
tôn chỉ của Phật giáo. Tin Lành Hàn Quốc khuyến khích mọi người làm điều
thiện, các giáo sĩ, tín đồ Tin Lành không những tuyên truyền mà còn trực tiếp
đi làm điều thiện. Họ tự nguyện giúp đỡ những người nghèo khó, cô độc, tàn
tật, già cả ốm đau… và chút ít vật chất, kinh tế giúp người cơ nhỡ, khó khăn
với tấm lòng chân thành nên đã dần lay động “bản tính thiện” của người
phương Đông nói chung và dân tộc Hàn nói riêng. Các bệnh viện, trường học
mà họ lập nên cứu giúp người ốm đau, dạy chữ cho người nghèo càng có ấn
tượng đối với tầng lớp khốn cùng của xã hội Choson.


17
ước này, Choson sẽ mở cửa ba hải cảng và cho phép Nhật cư trú ở những nơi
nhất định trong bán đảo.
Tiếp sau đó, Choson lần lượt ký các điều ước thông thương với Mỹ,
Anh và một số nước phương Tây khác. Sau khi mở cửa thông thương, quyền
tự chủ của Choson ngày càng bị đe doạ nghiêm trọng. Trước tình hình đó,
chính quyền Choson cho rằng, giáo dục là quan trọng nhất đối với việc giành
lại quyền tự chủ và phát động phong trào khai sáng. Chính quyền đã cho mở
một số trường giảng dạy tiếng Anh, giảng dạy tri thức mới, khuyến khích
người dân dạy chữ Hàn để nhanh chóng tiếp thu thông tin mới, tri thức mới và
chế độ khoa cử theo chữ Hán theo lối xưa cũ bị bãi bỏ. Như vậy, chính những
điều kiện chính trị đối nội và đối ngoại đương thời đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tư tưởng mới, tôn giáo mới, trong đó có Tin Lành xâm nhập và bén rễ trên
Bán đảo Hàn.
Năm 1910, Nhật Bản chính thức đặt ách thống trị ở Bán đảo Hàn. Có
thể nói, đặc trưng nổi bật nhất trong chính sách cai trị của Nhật Bản ở Bán đảo
Triều Tiên là ý đồ biến Choson mãi mãi trở thành một phần của Nhật Bản. Để
thực hiện điều này, Nhật Bản đã tiến hành thay đổi một cách toàn diện cấu
trúc xã hội Choson và thúc đẩy mạnh việc đồng hoá người Hàn thành người
Nhật. Chế độ cai trị của Nhật Bản hà khắc theo lối quân phiệt đã khiến cho
đời sống dân chúng vốn đã khốn khổ càng thêm cùng cực. Đây là thời điểm
tạo điều kiện rất thuận lợi cho một tôn giáo mới ở Hàn Quốc, tức Thiên đạo
giáo đã nêu trên bùng phát trở lại. Người dân bị khủng hoảng tinh thần trầm
trọng đã tin theo tôn giáo này mong muốn được giải thoát. Hơn nữa, tôn giáo
này đã cổ xuý tinh thần dân tộc, thức tỉnh và tập hợp tín đồ chống lại ách đô
hộ của Nhật Bản. Cùng với Thiên đạo giáo, Công giáo và đạo Tin Lành bị
Nhật Bản áp chế cũng đã truyền bá tinh thần độc lập tự chủ, kết hợp với các 18

đó, có một nhà thờ bị thiêu đốt khi các con chiên vẫn tụ tập bên trong. [27,
tr.289]. Do có vai trò ảnh hưởng lớn trong phong trào 1/3 nên Hội thánh
Tin Lành Hàn Quốc cũng phải hứng chịu sự đàn áp nặng nề của chính
quyền Nhật. Theo tài liệu phát hành tháng 5 năm1919 của Tổng đốc bộ
Triều Tiên, tính đến tháng 4 năm 1919, số tín đồ Tin Lành bị bắt giam là
2.120 người, còn tín đồ Nho giáo, Phật giáo, Công giáo tổng cộng là 1.556
người. Tài liệu báo cáo lên Tổng hội Trưởng Lão tháng 9 năm 1919, trong
số những người bị giam giữ có 3.804 tín đồ, 134 mục sư – trưởng lão và 22
người có liên quan đến đạo Tin Lành. Ngoài ra, báo cáo về “Tình hình Hàn
Quốc” của Hội nghiên cứu vấn đề Phương Đông thuộc Hội Liên hiệp Tin
Lành Mỹ chỉ ra rằng từ ngày 1/3/1919 đến ngày 20/7 cùng năm có 631 tín
đồ Tin Lành bị giết và 28.934 người bị bắt giam [Dẫn theo: 30, tr 60].
Trong số 33 đại biểu của phong trào dân tộc, Công giáo có 15 người,
Phật giáo có 2 người, còn lại là 16 người là tín đồ đạo Tin Lành. Số liệu
này cũng phản ánh vị trí lãnh đạo của phong trào dân tộc của Hội thánh Tin
Lành Hàn Quốc. Nói tóm lại, tuy chỉ chiếm chưa đến 1% dân số song các
tín đồ đạo Tin Lành đã đảm nhiệm đến 25 – 30 % vai trò trong phong trào
1/3.
Tuy phong trào Mùng 1 tháng 3 không giành ngay được độc lập
nhưng đã mang lại cho dân tộc Hàn niềm hy vọng và ý chí giành độc lập,
đã thúc đẩy các phong trào yêu nước, giành độc lập ở trong và ngoài nước
sau đó. Qua đây, cho thấy phong trào độc lập Mùng 1 tháng 3 đã có sự
tham gia tích cực của các tôn giáo ở Hàn Quốc, trong đó, có sự đóng góp
lớn của Công giáo và đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành cũng như Công giáo tuy
là tôn giáo ngoại lai nhưng sau khi du nhập vào Hàn Quốc đã mang tính 20
nhập thế cao. Sự truyền bá của đạo này không chỉ là truyền giảng giáo lý
theo tôn chỉ mục đích của đạo mà còn đi vào thực tế đời sống chính trị xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status