LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .
PHN M U 1
1. Lý do ch tài 0
ng và khách th nghiên cu. 2
4. Gi thuyt khoa hc 2
5. Nhim v nghiên cu 3
6. Phm vi nghiên cu: 3
u [23]: 3
7.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 3
7.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 3
7.3. Phương pháp quan sát sư phạm 4
7.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm [4],[6]: 4
7.4.1. Test chạy 30m xuất phát cao. 4
7.4.3. Test bật xa tại chỗ. 5
7.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 6
7.6. Phương pháp toán học thống kê [7],[24] : 7
8. Nhi 7
2.2.3. Thực trạng về chương trình 34
2.2.4. Thực trạng tổ chức quản lý công tác Giáo dục thể chất 36
36
2.2.5. Thực trạng về thể lực của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 37
2.3. Thc trng hong ngoi khóa ci hc Tây Bc
39
2.3.1. Thực trạng nội dung hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên.
39
2.3.2. Thực trạng về biện pháp tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa
Trường Đại học Tây Bắc 40
2.3.3. Thực trạng tập luyện ngoại khóa thể dục thể thao của sinh viên
Trường Đại học Tây Bắc 42
2.3.4. Động cơ tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên
Trường Đại học Tây Bắc. 43
2.3.5.Thực trạng về thời gian, địa điểm, thời điểm tham gia hoạt động
TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 44
Kt lu 47
: LA CHU QU BIN PHÁP
T CHC HONG TH DC TH THAO NGOI KHÓA
NÂNG CAO TH L I HC
TÂY BC 48
3.1. Nhn thc ca cán b và sinh viên v hot ng TDTT ngoi khóa
48
3.2. Nhu cu hong th dc th thao ngoi khóa ca sinh viên
i hc Tây Bc 50
3.2.2. Nhu cầu về nội dung tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa cho
sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 51
3.3. La chn hình thc th dc th thao ngoi khóa 53
3.3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn hình thức tổ chức thể dục thể thao
ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 54
viên Trường Đại học Tây Bắc (n = 250) .
Bảng 2.9: Thực trạng hình thức tham gia hoạt động ngoại khóa TDTT
của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc (n = 250) .
Bảng 2.10: Thực trạng mức độ tham gia hoạt động TDTT ngoại khóa của
SV Trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay (n = 250) .
Bảng 2.11: Động cơ tập luyện ngoại khóa TDTT của Trường Đại học
Tây Bắc (n=250) .
Bảng 2.12: Kết quả phỏng vấn về các yếu tố liên quan để tổ chức
TDTT ngoại khóa cho sinh viên (n=250) .
Bảng 3.1: Nhận thức của cán bộ và sinh viên về hoạt động ngoại khóa
TDTT .
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn sinh viên, cán bộ về sự cần thiết tổ chức
hoạt động TDTT ngoại khóa cho SV Trường Đại học Tây Bắc
(n=310) .
Bảng 3.3: Kết quả phỏng vấn về mức độ sẵn sàng tham gia tập luyện
TDTT ngoại khóa (n = 250) .
Bảng 3.4: Khảo sát ý kiến của sinh viên, cán bộ về việc lựa chọn nội
dung tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa phù hợp với sinh
viên Trường Đại học Tây Bắc (n=310) .
Bảng 3.5: Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập thể lực (n=20) .
Bảng 3.6: Kết quả lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động TDTT ngoại
khóa cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc(n=250) .
Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn lựa chọn thời điểm, địa điểm, khối lượng
tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Tây
Bắc (n=250) .
Bảng 3.8: So sánh thể lực của SV ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng trước thực nghiệm .
Bảng 3.9: So sánh thể lực của SV nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng sau thực nghiệm . .
cho con người có vóc dáng khoẻ mạnh, tinh thần sảng khoái, chống mệt mỏi,
bệnh tật và tạo sự hăng hái cho con người.
Đặc biệt từ những năm đổi mới, công tác TDTT trong trường học đã được
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngày nay, trong các nghị quyết Đại hội
Đảng luôn khẳng định vị trí, vai trò của GDTC và thể dục thể thao trường
học: góp phần đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lại của đất nước phát
triển toàn diện cả “Đức – Trí – Lao – Thể - Mỹ”. Nghị quyết TW VII của
Đảng về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ khẳng định: “Giáo dục đào
tạo với khoa học và công nghệ phải trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị
tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI [19]. Muốn xây dựng đất nước
giàu mạnh, phải có con người phát triển toàn diện, trong đó chăm lo cho con
người phát triển về thể là trách nhiệm của toàn xã hội.
TDTT trường học là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục đào tạo,
góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt nhằm mục tiêu
“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Đó là
những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú
về tinh thần, trong sáng về đạo đức” để tham gia tích cực vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, Đảng và Nhà nước đã giao trách
nhiệm cho Uỷ ban TDTT (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ), Bộ Giáo
dục và Đào tạo thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải
1
tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên
TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để
thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học các cấp.
Nội dung cơ bản của công tác GDTC trong trường học bao gồm các giờ
học TDTT nội khoá; Tổ chức tập luyện và kiểm tra theo tiêu chuẩn rèn luyện
thân thể; Tổ chức tập luyện ngoại khoá theo câu lạc bộ thể thao tự chọn; Ổn định
hệ thống thi đấu thể thao của học sinh, sinh viên. Trong đó, các hoạt động TDTT
ngoại khóa như tập luyện theo câu lạc bộ thể thao tự chọn và thi đấu thể thao
thể dục thể thao ngoại khóa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của sinh viên và
của Trường Đại học Tây Bắc, góp phần nâng cao thể lực cho sinh viên nói
riêng và nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục thể chất nói chung của Nhà
trường.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên.
3.2. Khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng được phỏng vấn là 60 cán bộ, giảng viên, 250 sinh viên
K51 Trường Đại học Tây Bắc.
- Đối tượng thực nghiệm là 82 sinh viên K51 khoa Tiểu học Trường
Đại học Tây Bắc.
Chúng tôi giả thuyết rằng, hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên
Trường Đại học Tây Bắc còn nhiều hạn chế, dẫn đến thể lực của sinh viên
chưa phát triển tốt, nếu có được các biện pháp tổ chức hoạt động TDTT ngoại
khóa phù hợp với điều kiện của Nhà trường và địa phương sẽ có tác dụng phát
3
triển thể lực cũng như nâng cao chất lượng hoạt động TDTT ngoại khóa. Từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC chung của Nhà trường.
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài xác định các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu thực trạng công tác GDTC và hoạt động TDTT
ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc.
- Lựa chọn và đánh giá hiệu quả biện pháp tổ chức hoạt động
TDTT ngoại khóa nâng cao thể lực cho sinh viên trường Đại Học Tây Bắc.
- Đối tượng quan trắc: Là sinh viên Trường Đại học Tây Bắc.
- Khách thể nghiên cứu:
đề tài đã sử dụng nội dung theo Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực
học sinh, sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các nội dung cụ thể là: Nằm
ngửa gập bụng, Bật xa tại chỗ, Chạy 30m xuất phát cao (XPC), Chạy con thoi
4 x 10m, Chạy tùy sức 5 phút [4].
7.4.1. Test chạy 30m xuất phát cao.
- Mục đích: Đánh giá khả năng về tố chất sức nhanh của người tập.
- Dụng cụ, thiết bị: Đồng hồ bấm giây, đường chạy thẳng có chiều dài
40m, chiều rộng 2m. Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cọc tiêu bằng cờ
hiệu ở hai đầu đường chạy. Sau đích có khoảng trống 10m để giảm tốc độ sau
khi về đích.
- Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao.
Thực hiện một lần.
- Đơn vị tính thành tích là giây (s).
5
7.4.2. Test chạy con thoi 4x10m.
- Mục đích: để đánh giá khả năng phối hợp vận động và sức nhanh của
người tập.
- Dụng cụ, thiết bị: Đường chạy có kích thước 10 x 1,2m bằng phẳng,
không trơn, bốn góc có vật chuẩn để quay đầu, hai đầu đường chạy có khoảng trống
là 2m. Dụng cụ gồm đồng hồ bấm giây, thước đo dài, bốn vật chuẩn đánh dấu bốn
góc đường chạy.
- Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao. Khi
chạy đến vạch 10m, chỉ cần một chân chạm vạch, nhanh chóng quay 180
0
chạy trở
về vạch xuất phát và sau khi chân lại chạm vạch xuất phát thì lại quay trở lại. Thực
hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số bốn lần 10m với ba lần quay. Quay
TDTT ngoại khóa mà đề tài lựa chọn. Thời gian thực nghiệm được chúng tôi
tiến hành trong 6 tháng. Trước và sau thực nghiệm, đề tài tiến hành kiểm tra
để đánh giá hiệu quả tác động của các biện pháp đã lựa chọn. Tổ chức thực
nghiệm được tiến hành theo hình thức thực nghiệm song song (2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng).
Để khẳng định tính khoa học và tính hiệu quả của những biện pháp tổ
chức hoạt động ngoại khoá đã đề ra nhằm nâng cao thể lực cho sinh viên
Trường Đại học Tây Bắc chúng tôi đã tiến hành TN trên 80 sinh viên khóa
K51 khoa Tiểu học .
- Thực nghiệm được tổ chức tại Trường Đại học Tây Bắc. Thời gian: 6
tháng
- Nhóm thực nghiệm 41 sinh viên (16 nữ, 25 nam).
- Nhóm đối chứng là 41 sinh viên (16 nữ, 25 nam).
7
7.6. Phương pháp toán học thống kê [7],[24] :
chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu đã thu thập được của
quá trình nghiên cứu. Các tham số đặc trưng mà chúng tôi quan tâm là:
x
,
2
,
, W, … [7].[24].
- Đề tài đánh giá được thực trạng công tác giáo dục thể chất, nhất là
hoạt động thể thao ngoại khóa và thể lực của sinh viên Trường Đại học Tây
Bắc.
- Đề tài lựa chọn được những biện pháp tổ chức hoạt động thể thao
ngoại khóa nhằm nâng cao thể lực, phù hợp với sinh viên và điều kiện của
Nhà trường.
GDTC trong các trường ĐH, CĐ là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu
GD-ĐT, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra
lớp người mới, có năng lực, phẩm chất, có sức khỏe. Đào tạo đội ngũ cán bộ
khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, đáp ứng yêu cầu chuyên
môn nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công tác GDTC
trong trường ĐH, CĐ có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đào tạo
đội ngũ tri thức nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Giai đoạn học tập trong các trường ĐH, CĐ
của sinh viên là một giai đoạn quan trọng nhất. Sau khi tốt nghiệp ra trường,
sinh viên trở thành người cán bộ có đầy đủ sức khỏe, tri thức và phẩm chất
đạo đức, có thể hoạt động một cách độc lập, sáng tạo trong chuyên ngành của
mình. Bằng những hoạt động phong phú của mình, GDTC còn góp phần quan
trọng trong việc rèn luyện và hình thành cho sinh viên những phẩm chất ý chí
như lòng dũng cảm, tính quyết đoán, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như việc
giáo dục cho sinh viên lòng tự hào dân tộc, tinh thần tập thể, sự đoàn kết
thẳng thắn, trung thực. Cùng với hoạt động văn hóa nghệ thuật thì GDTC
cũng góp phần tạo nên nếp sống lành mạnh, văn minh, đẩy lùi tệ nạn xã hội.
Trong hệ thống giáo dục toàn diện đó, GDTC đóng vai trò và vị trí,
nhiệm vụ hết sức to lớn:
- Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý
thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh,
tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục
10
vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc.
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội
dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật
cơ bản của một số môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả
năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực
chỉ là nhiệm vụ của thầy và trò mà nó còn thể hiện tinh thần trách nhiệm, mối
quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân, của nhà nước và của toàn xã hội.
1.1.2. Tiềm năng và xu thế phát triển của Giáo dục thể chất trường học
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới
đã và đang có những chuyển biến vĩ đại, đó là thời đại của “cuộc cách mạng
đại công nghệ”, “thời đại nhân văn”, “thời đại của giáo dục đào tạo”. Trước
sự chuyển biến lớn lao về đời sống xã hội và sự phát triển như vũ bão của
khoa học công nghệ, tất cả những thay đổi đó đòi hỏi con người phải có năng
lực về cả thể chất lẫn tinh thần ngày càng hoàn thiện hơn. Để đáp ứng yêu cầu
của đất nước trong tình hình mới, sự nghiệp TDTT cần được phát triển đúng
hướng theo quan điểm: “phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong
chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng
và phát huy nhân tố con người. Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng
cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm
phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, nâng cao chất
lượng lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang”.
Đảng và Nhà nước vẫn coi trọng công tác TDTT và coi đó là một cuộc
cách mạng. TDTT có ý nghĩa và vai trò to lớn trong xây dựng con người phát
triển toàn diện, xây dựng đời sống mới, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ
xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. Từ tư tưởng chỉ
đạo đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác TDTT và GDTC
12
trong nhà trường.
Hai ngành GD-ĐT và TDTT đã phối hợp với nhau xây dựng một dự án
chiến lược, với mục tiêu nâng cao chất lượng GDTC trong hệ thống giáo dục
quốc dân, nhằm tác động tích cực đến việc bảo vệ tăng cường sức khỏe, phát
triển thể lực, nâng cao tính tích cực vận động, cũng như phát triển các mặt
nhân cách con người mới cho thế hệ HS, SV. Chương trình tăng cường sức
khỏe, phát triển thể lực, cải tạo giống nòi và xây dựng lối sống văn hóa thể
1.2
1.2.1. Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận hữu cơ của nền giáo dục
toàn diện, một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt của nó là dạy học
vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con
người, nhằm tăng cường sức khoẻ phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc.
Thuật ngữ GDTC có trong ngôn ngữ của nhiều nước. Ở nước ta do bắt
nguồn từ gốc Hán Việt nên có thể hiểu “thể”
là thân thể, còn “chất” là chất
lượng. GDTC là giáo dục “
chất lượng thân thể con người”. Đó là những hình
thái chức năng tương đối ổn định được hình thành và phát triển do bẩm sinh di
truyền và chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên (trong đó có giáo dục và rèn
luyện). Cũng có người gọi tắt GDTC là Thể dục theo nghĩa tương đối hẹp vì
theo nghĩa rộng của từ Hán Việt cũ, TD còn có nghĩa là thể dục thể thao.
GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và hoàn thiện về thể chất
và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của người tập.
GDTC nhằm hình thành và phát triển các tố chất thể lực như sức nhanh, sức
mạnh sức bền vv… Trang bị cho người tập những kỹ năng kỹ xảo và hệ thống
tri thức chuyên môn. Ngoài ra nó có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện
năng lực vận động của con người.
14
Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phận của TDTT. Nhưng
chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản mang
tính định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền
thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng
chung mà chủ yếu là trong các nhà trường.
pháp và điều kiện nhằm phát triển khả năng hoạt động của các thế hệ trong
xã hội nhân đạo, chân chính. Văn hoá thể chất là một trong những phương
tiện hiệu quả phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách, là yếu tố xã hội
nhằm tiến tới hoàn thiện thể chất con người. So với GDTC, khái niệm văn
hoá thể chất rộng và tổng hợp hơn.
Thể thao là dạng hoạt động của văn hóa thể chất mang tính đặc biệt, là
hoạt động văn hoá xã hội, là phương tiện và phương pháp hiệu quả củng cố
sức khoẻ và hoàn thiện thể chất, chuẩn bị cho con người trong lao động và
hoạt động xã hội, phát triển phẩm chất, ý chí, đạo đức và giáo dục thẩm mỹ,
mở rộng quan hệ quốc tế, củng cố hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, các
quốc gia.
Đặc điểm của thể thao là loại hình hoạt động và thi đấu, là sử dụng các
phương tiện hiệu quả góp phần hình thành và hoàn thiện những năng lực thể
chất, tinh thần nhất định của con người.
Trong xã hội, thể thao được coi như một yếu tố có ý nghĩa giáo dục lớn
lao. Thể thao được phân ra: Thể thao thành tích cao và thể thao quần chúng.
Thể thao thành tích cao là việc sắp xếp có hệ thống các bài tập, chu kỳ huấn
luyện, phương tiện hướng dẫn, và các cuộc thi đấu với mục tiêu nhằm giải
quyết nhiệm vụ nâng cao tối đa thành tích thể thao. Thể thao quần chúng là
các bài tập về một số môn thể thao theo hướng tích cực về mở rộng phạm vi,
số lượng người tập, gồm những bài tập thể chất dưới các hình thức đa dạng