Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học s phạm h nội
----------------------------------
Nguyễn thị nhung Biện pháp tổ chức hoạt động
giáo dục hớng nghiệp cho học sinh
trung học phổ thông miền núi tây bắcChuyên ngnh: Lý luận v lịch sử giáo dục
Mã số : 62.14.01.01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ giáo dục học
H Nội - 2008
Luận án đợc hon thnh
tại Trờng Đại học S phạm H Nội
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1. Nguyễn Thị Nhung (2004), “Những nhân tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa các thành tố của tiềm năng nghề và định hướng nghề nghiệp
của học sinh THPT”, Kỷ yếu hội thảo nghiên cứu thực trạng tiềm năng và
định hướng nghề nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam- chương trình
KHCN cấp nhà n
ước KX 05- 09.
2. Nguyễn Thị Nhung (2006), “Nhận thức của giáo viên Trung học
phổ thông huyện Thuận Châu (Sơn La) về giáo dục hướng nghiệp trong
nhà trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục (số 147, tr 44- 45).
3. Nguyễn Thị Nhung (2008), “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường trung học phổ thông tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Yên Bái”, Tạp
chí Giáo dục (số 194, tr 46, 58- 59).
4. Nguyễn Thị Nhung (2008), “Đổi mới nội dung và phương pháp
hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT miền núi
Tây Bắc”, Tạp chí Khoa học (số 4/2008), Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thứ nhất: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa yêu cầu bức xúc về nguồn
nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cho sự phát
triển của vùng Tây Bắc với trình độ nguồn nhân lực hiện nay còn hạn chế;
giữa yêu cầu chọn nghề phù hợp, phát triển tiềm năng nghề nghiệp
(TNNN) để học sinh sẵn sàng b
ước vào cuộc sống lao động xã hội với chất
lượng giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp (GDHN) còn hạn chế.
Thứ hai: Xuất phát từ sự bất cập giữa một bên là khả năng hướng
nghiệp của nhà trường phổ thông rất lớn với thực tiễn phát huy tiềm năng
2
5.2. Đánh giá thực trạng tổ chức giáo dục hướng nghiệp, tiềm năng
nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn miền núi Tây
Bắc hiện nay và những vấn đề có liên quan.
5.3. Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp
nhằm góp phần phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh trung học
phổ thông trên địa bàn miền núi Tây Bắc
5.4. Th
ực nghiệm kiểm chứng tác động của một số biện pháp đã đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1.Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp (nội dung
chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức) ở 9 trường trung học phổ
thông của Sơn La, Điện Biên, Yên Bái.
6.2. Tiềm năng nghề nghiệp của học sinh ở 9 trường trung học phổ
thông c
ủa Sơn La, Điện Biên, Yên Bái.
6.3. Tập trung nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục
hướng nghiệp nhằm phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh trung
học phổ thông sát thực với điều kiện của địa bàn miền núi Tây Bắc.
Thực nghiệm sư phạm được thực hiện để kiểm chứng tác động của
một số biện pháp đã
đề xuất.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm.
lao động sản xuất. Ở Mỹ, năm 1908, tại Boston, F. Parson đã thành lập
phòng hướng nghiệp đầu tiên trên thế giới,
Ngày nay các nước đang phát triển như Đức, Pháp, Mỹ, Anh, Úc,
Nhật, Ý…đều quan tâm đến GDHN cho học sinh phổ thông. Trong đó
đáng chú ý là các công trình của Wolfgang, Ulrich Johannes Kledzik
(Đức), Magumi Nishino (Nhật Bản). Theo Magumi Nishino, học sinh
trung học phải
được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của ngành
nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả
năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” .
Điểm chung của những công trình nghiên cứu về giáo dục hướng
nghiệp ở nước ngoài đều chú ý đến việc cải cách mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ sở vật chấ
t - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở những
năm học cuối của chương trình giáo dục phổ thông.
1.1.2. Ở trong nước
Ngày 19 tháng 3 năm 1981 Chính phủ đã ban hành quyết định 126/CP
về “Công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh các cấp PTCS, PTTH
tốt nghiệp ra trường”. Tiếp đó Bộ trưởng B
ộ Giáo dục đã ký ban hành thông
tư số 31/TT ngày 17 tháng 8 năm 19981 của Bộ Giáo dục về việc hướng
dẫn thực hiện quyết định 126/CP. Nhiều văn bản chỉ đạo khác của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đã được ban hành.
Những hướng nghiên cứu chính về giáo dục hướng nghiệp ở nước ta
trong giai đoạn vừa qua có thể được khái quát nh
ư sau:
- Khẳng định cơ sở khoa học và thực tiễn của nguyên lý giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất và tính tất yếu của công tác GDHN.
- Thiết kế mô hình, xây dựng nội dung và phương thức triển khai
dục nhà trường và đội ngũ giáo viên giữ vai trò chủ đạo.
Trong nhà trường phổ thông, giáo dục hướng nghiệp là quá trình tác
động tự giác của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm mụ
c đích giúp học
sinh phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu
mình, hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho thanh niên tâm lí sẵn sàng đi
vào những nghề mà các thành phần kinh tế đang cần nhân lực, trên cơ sở
bảo đảm sự phù hợp nghề
1.2.3. Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Tổ chức là một hoạt động nhằm thi
ết lập và vận hành các quan hệ con
người trong mối quan hệ với các nguồn lực của một tổ chức, một hoạt động
cụ thể. Theo đó, biện pháp tổ chức hoạt động GDHN được hiểu là cách tiến
hành hoạt động GDHN với nội dung, chương trình xác định, phương pháp và
hình thức tổ chức cụ thể để thực hiện các mục tiêu GDHN đã đặt ra.
Biện pháp tổ ch
ức hoạt động GDHN bao gồm những tác động cụ thể
để tác động đến học sinh và các hoạt động của học sinh trong quá trình
tham gia vào các hoạt động GDHN do giáo viên tổ chức và điều khiển.
Các biện pháp này có tác dụng làm cho các thành tố của hoạt động GDHN
được sắp xếp trong một cấu trúc chặt chẽ, tạo nên ảnh hưởng qua lại và kết
5
quả thể hiện ở sự phát triển nhận thức nghề nghiệp, thái độ tích cực trong
tìm hiểu, lựa chọn và chuẩn bị các phẩm chất tâm lý cơ bản, cần thiết cho
hoạt động nghề nghiệp tương lai của học sinh.
1.2.5. Tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT
Tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT là những khả năng vốn có
c
ủa các em, bao gồm những phẩm chất, năng lực chung cần thiết cho mọi
và tuyển chọn nghề.
- GDHN cho học sinh phổ
thông được thực hiện qua bốn con đường:
+ Qua hoạt động dạy học các môn văn hoá
+ Hoạt động dạy học môn Công nghệ
+ Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
+ Các hoạt động tham quan ngoại khoá, các phương tiện thông tin
đại chúng và các tổ chức xã hội.
6
Mỗi con đường đều có tác dụng GDHN, trong đó hoạt động GDHN
là con đường quan trọng vì nó giúp cho học sinh nắm được một cách hệ
thống các thông tin về sự phát triển ngành nghề của xã hội, các yêu cầu
của các nhóm nghề đối với người lao động, định hướng nghề nghiệp và
chuẩn bị các phẩm chất cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp tương lai.
1.3.2. Ý nghĩa của GDHN
GDHN là một ho
ạt động chính của nhà trường phổ thông, có ý nghĩa giáo
dục, kinh tế, chính trị và xã hội. Hiện nay, GDHN cần góp phần điều chỉnh
việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế; phát
huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lí tưởng nghề nghiệp cho người lao
động; Hướng nghiệp gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới và chuẩn
bị con ngườ
i năng động thích ứng với thị trường.
1.3.3. Một số đặc điểm của hoạt động GDHN trong các trường THPT
miền núi
- Giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết thực hiện GDHN cho học
sinh. Tuy nhiên, hầu hết giáo viên chưa được trang bị đầy đủ, hệ thống về lý
luận và phương pháp tiến hành hoạt động GDHN trong trường phổ thông.
- Lựa chọn nghề nghiệ
(định hướng nghề, tư vấn nghề...)với các hình thức, phương pháp đặc thù
của hoạt động sẽ giúp học sinh lĩnh hội hệ thống thông tin v
ề thị trường
lao động, xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và địa phương, hiểu
biết về các nhóm nghề và những yêu cầu cơ bản, thiết yếu của nghề đối với
người lao động…Trên cơ sở đó học sinh có ý thức tìm hiểu bản thân, đánh
giá các mặt biểu hiện trong cuộc sống, học tập của bản thân, so sánh đối
chiếu các phẩm ch
ất tâm lý của cá nhân với yêu cầu của nghề nghiệp để
hình thành và phát triển các yếu tố cơ bản, thiết yếu nhất cho bản thân
mình. Tác dụng trước hết của GDHN đối với học sinh là giúp các em xác
định động cơ học tập đúng đắn, mong muốn học tập để sau này giúp ích
cho xã hội, có những biểu hiện tính tự giác, tích cực, sáng tạo trong học
tập, từ đó các em hình thành động cơ nghề
nghiệp, điều chỉnh động cơ
chọn nghề thích ứng với điều kiện hiện nay.
Như vậy, nếu làm tốt GDHN ngay trong nhà trường phổ thông sẽ đặt
nền tảng bước đầu cho việc phát triển tiềm năng nghề nghiệp của học sinh.
Mối quan hệ giữa GDHN và TNNN được thể hiện qua sơ đồ:
Động cơ
học tập.
Động cơ
nghề
nghiệp.
Động cơ
thành đạt.
Nhu cầu
đ
ịa vị
Thay đổi
cấu trúc
tiềm
năng
nghề
nghiệp
của học
sinh
THPT