1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhƣ vũ bão của cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ; công cuộc đổi mới đất nƣớc đang tạo ra những chuyển biến mạnh
mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự nghiệp giáo dục cũng đòi hỏi có
những đổi mới cả nội dung lẫn phƣơng pháp dạy học. Trên thực tế, giáo dục
đang chịu hai sức ép lớn của việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức: khối lƣợng
kiến thức ngày càng nhiều, thời gian và điều kiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cầu
về chất lƣợng phải cao. Giải quyết vấn đề này có liên quan đến nhiều lĩnh vực,
trong đó việc cải tiến, đổi mới phƣơng pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt.
Chính vì vậy Đảng và Nhà nƣớc ta luôn xác định Giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) là
quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nƣớc, do vậy còng rất quan tâm đến việc đổi mới một cách toàn diện GD - ĐT
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nƣớc, trong đó đổi mới phƣơng pháp dạy học
đƣợc coi là một trong những nhiệm vụ chiến lƣợc. Kết luận của Hội nghị lần thứ
6 BCHTW khoá IX về việc thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng II khoá VIII Đảng
ta đã khẳng định: Đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tƣ duy sáng tạo của ngƣời học. Từng bƣớc
áp dụng các phƣơng pháp tiên tiến và phƣơng tiện hiện đại vào quá trình dạy -
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho SV, nhất là SV đại
học. Bởi vậy, đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hoá hoạt động
của ngƣời học là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp giáo dục ở nƣớc ta hiện nay.
Đảng và Nhà nƣớc ta đã chủ trƣơng tăng cƣờng giáo dục pháp luật trong
các nhà trƣờng thông qua các chƣơng trình môn học, giáo trình, tài liệu giảng
dạy pháp luật đảm bảo đúng tinh thần và nội dung của Hiến pháp và pháp luật
hiện hành. Vì vậy môn học pháp luật đại cƣơng là một môn học quan trọng
trong chƣơng trình đào tạo đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp đƣợc
Bộ Giáo dục và đào tạo phê duyệt trong đề cƣơng chƣơng trình chung và đã
vận dụng PPTLN vào dạy học môn Pháp luật đại cƣơng nhƣ thế nào cho có hiệu
qủa thì đang là vấn đề gây nhiều tranh luận cho đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Từ những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng
3
phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Pháp luật đại cương theo
học chế tín chỉ cho sinh viên ở trường Đại học Tây Bắc” nhằm góp phần nâng
cao chất lƣợng dạy học môn Pháp luật đại cƣơng ở trƣờng Đại học Tây Bắc.
2. Lịch sử nghiên cứu
Phát huy tính tích cực học tập đƣợc xem nhƣ là một nguyên tắc để bảo
đảm chất lƣợng và hiệu quả dạy học, là vấn đề trung tâm của lý luận dạy học.
Trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là trong những năm gần đây có nhiều tài liệu ở
nƣớc ngoài và trong nƣớc, các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều
nêu rõ việc cần thiết phải phát huy tính tích cực nhận thức của ngƣời học qua
việc chuyển từ “Dạy học lấy GV làm trung tâm” sang “ Dạy học lấy ngƣời học
làm trung tâm”. Đây là một xu hƣớng tất yếu, một cách tiếp cận mới về hoạt
động dạy và học đƣợc các nhà tƣ tƣởng lớn, nhà giáo dục của các thời đại quan
tâm và đề cập.
Tƣ tƣởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của ngƣời học, xem ngƣời
học là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu. Ở thế kỷ XII, A.Kômenxky đã
viết: Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn,
phát triển nhân cách … Hãy tìm ra phƣơng pháp cho giáo viên dạy ít hơn, học
sinh học nhiều hơn.
Năm 1949, Causinet – Roger đã đề cập đến phƣơng pháp làm việc tự do
theo nhóm. Theo tác giả, làm việc theo nhóm nghĩa là SV phải tìm tòi, phải thực
hiện cuộc khảo cứu hay quan sát, phải cố gắng phân tích, tìm hiểu, diễn đạt, phải
thành lập theo phiếu và sắp xếp những phiếu này, phải đóng góp sự tìm tòi của
mình cho công việc của nhóm.
A. Jakie, một trong những nhà giáo dục Ba Lan lỗi lạc đã giới thiệu một
hình thức học đem lại hiệu quả cao trong hoạt động dạy học đó là học tập theo
Tác giả Vũ Đình Bảy trong cuốn: “Phƣơng pháp dạy học môn Giáo dục
công dân ở trƣờng trung học phổ thông” đã đề cập đến nhiều phƣơng pháp dạy
học tích cực trong đó có phƣơng pháp thảo luận nhóm.
Nhƣ vậy, trao đổi, thảo luận là hiện tƣợng phổ biến của xã hội, trong dạy học
thảo luận thƣờng xuyên diễn ra giữa ngƣời dạy với ngƣời học hoặc giữa ngƣời học
với nhau. Đã có nhiều tác giả với nhiều công trình khoa học trong và ngoài nƣớc đề
cập đến việc vận dụng phƣơng pháp này.
5
Tuy nhiờn vic nghiờn cu vic vn dng PPTLN trong quỏ trỡnh dy hc
Phỏp lut i cng theo hc ch tớn ch cho sinh viờn i hc Tõy Bc thỡ cha
thy cú tỏc gi no cp. Vỡ vy ti ny nghiờn cu vic vn dng PPTLN
trong dy hc Phỏp lut i cng theo hc ch tớn ch cho sinh viờn trng H
Tõy Bc nhm gúp phn nõng cao cht lng dy hc mụn Phỏp lut i cng.
3. Mc ớch v nhim v nghiờn cu ti
3.1. Mc ớch nghiờn cu ti
Trờn c s tỡm hiu lý lun v thc nghim ca phng phỏp tho lun nhúm,
ti xõy dng quy trỡnh thc hin PPTLN trong dy hc mụn Phỏp lut i cng
nhm phỏt huy tớnh tớch cc, ch ng ca SV, gúp phn nõng cao cht lng dy v
hc mụn Phỏp lut i cng trng i hc Tõy Bc.
3.2. Nhim v nghiờn cu ti
t c mc ớch ra, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
+ Nghiờn cu c s lý lun ca vic t chc dy hc bng PPTLN.
+ Thc trng s dng PPTLN trong dy hc mụn Phỏp lut i cng
trng i hc Tõy Bc.
+ Tin hnh thc nghim PPTLN trong dy hc mụn Phỏp lut i cng
trng i hc Tõy Bc.
+ Xỏc lp quy trỡnh thc hin PPTLN trong dy hc mụn Phỏp lut i
cng v a ra cỏc iu kin thc hin cú hiu qu quy trỡnh ú trng
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng phƣơng pháp thảo luận nhóm
trong dạy học môn Pháp luật đại cƣơng theo học chế tín chỉ cho sinh viên ở
trƣờng Đại học Tây Bắc.
Chƣơng 2: Thực nghiệm phƣơng pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Pháp
luật đại cƣơng theo học chế tín chỉ cho sinh viên ở trƣờng Đại học Tây Bắc.
Chƣơng 3: Quy trình và điều kiện thực hiện phƣơng pháp thảo luận nhóm trong
dạy học Pháp luật đại cƣơng cho sinh viên ở trƣờng Đại học Tây Bắc. 7
CHNG 1
C S Lí LUN V THC TIN CA VIC VN DNG PHNG PHP
THảO LUN NHểM TRONG DY HC MễN PHP LUT I CNG THEO
HC CH TN CH CHO SINH VIấN TRNG I HC TY BC
1.1 C S Lí LUN CA VIC Vận dụng PHNG PHP THO LUN NHểM
TRONG DY HC MễN PHP LUT I CNG
1.1.1. Quan nim v nhúm v cỏc hỡnh thc chia nhúm
*Quan nim v nhúm
Nhúm l tp hp nhng cỏ th li vi nhau theo nhng nguyờn tc nht nh.
Nhúm l mt hin tng xó hi, mt s tp hp ca hai hay trờn hai ngi
cú s tỏc ng ln nhau nhm t c mc tiờu chung (nhu cu).
Nhúm l mt tp th nh c hỡnh thnh thc hin mt nhim v nht
nh trong mt thi gian xỏc nh.
Căn cứ vo nhng iu kin c th mà có những cách phân chia nhóm
khác nhau. Song v c bn: Nhúm l s hp tỏc gia cỏc cỏ nhõn vi nhau trờn
c s kỡ vng chung, trong nhúm cú s phõn cụng nhim v, s tng tỏc v nh
hng ln nhau trong quỏ trỡnh thc hin nhm t c cỏc mc tiờu chung.
Với cách chia này, GV có thể đƣa ra những yêu cầu cụ thể khác nhau đối
với từng nhóm trong việc giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập.
Song khi áp dụng hình thức chia nhóm này GV cần phải thận trọng. Bởi vì
muốn chia đúng trình độ của SV, GV phải nắm chắc trình độ của họ, vì nếu
không nắm chắc đƣợc trình độ của SV mà chia sai nhóm thì sẽ dẫn đến sự phản
tác dụng.
- Chia nhóm gồm nhiÒu trình độ kh¸c nhau
Cách chia này thƣờng đƣợc sử dụng khi nội dung hoạt động dạy học cần có
sự hỗ trợ lẫn nhau. Trong trƣờng hợp này cần phải xác định vai trò của nhóm
trƣởng (ngƣời có năng lực hơn cả) là rất quan trọng trong việc phân công nhiệm
vụ cho các thành viên trong nhóm.
- Chia nhóm theo sở trƣờng
Cách chia này thƣờng đƣợc tiến hành trong các buổi học tập ngoại khóa,
mỗi nhóm sẽ gồm một số học sinh có chung sở trƣờng, hứng thú.
Tóm lại, có nhiều hình thức chia nhóm khác nhau, mỗi một hình thức có
9
đặc điểm và ƣu thế riêng. Vì vậy trƣớc khi quyết định chia nhóm theo hình thức
nào, GV nên dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian học tập, trình
độ, sở trƣờng của SV.
Trong quá trình dạy học môn Pháp luật đại cƣơng bằng PPTLN, theo chúng
tôi hình thức chia phổ biến nhất vẫn là cách chia thứ nhất - chia ngẫu nhiên.
Song để cho nhóm chia ngẫu nhiên hạn chế những nhƣợc điểm của nó thì ngƣời
GV cần phải chú ý đến hai vấn đề: Một là nhiệm vụ đƣợc giao cho mỗi nhóm
phải có cả các yêu cầu khó, dễ khác nhau. Hai là phải điều hành sao cho mọi
thành viên của nhóm đều phải tích cực hoạt động.
1.1.2. Phƣơng pháp thảo luận nhóm
* Khái niệm về phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận là: “Trao đổi phân tích bằng lý lẽ để làm sáng tỏ một số vấn
đề” [14,10].
(nhóm rì rầm ); các cặp (2 hoặc 3 nhóm rì rầm ) kết hợp thành nhóm 4 - 6 ngƣời
để hoàn thiện một vấn đề chung, đây cũng là một biện pháp khắc phục hiện
tƣợng “ngƣời ngoài cuộc”, đồng thời tạo điều kiện hoàn chỉnh nhiệm vụ học tập
với chất lƣợng cao hơn.
- Nhóm đồng tâm (nhóm bể cá).
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm: nhóm thảo luận và nhóm quan sát (sau
đó có thể hoán vị cho nhau). Nhóm nhỏ hơn 6 - 10 ngƣời có nhiệm vụ thảo luận
và trình bày vấn đề đƣợc giao, còn các thành viên khác trong lớp đóng vai ngƣời
quan sát và phản biện. Hình thức nhóm này rất có hiệu quả đối với việc làm tăng
ý thức trách nhiệm cá nhân trƣớc tập thể và tạo động cơ cho những ngƣời trình
bày ý tƣởng của mình trƣớc tập thể.
- Nhóm khép kín và nhóm mở
Nhóm khép kín là các thành viên trong nhóm làm việc trong khoảng thời gian
dài, thực hiện trọn vẹn một hoạt động học tập, từ giai đoạn đầu tới cuối cùng.
Nhóm mở là các thành viên có thể tham gia một hoặc vài giai đoạn phù hợp
với khả năng và sở thích của mình. Hình thức này mang lại cho ngƣời học nhiều
khả năng lựa chọn vấn đề để thực hiện hiệu quả, chủ động về thời gian, sức lực.
Tóm lại, có nhiều hình thức thảo luận theo nhóm, mỗi hình thức có đặc điểm
và ƣu thế nổi trội của mình. Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của bài học cũng
11
nhƣ các điều kiện dạy học khác mà ngƣời GV có thể lựa chọn cho mình một hình
thức thảo luận theo nhóm phù hợp hoặc cũng có thể lựa chọn nhiều hình thức thảo
luận theo nhóm kết hợp với nhau một cách linh hoạt.
* Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm
- Ưu điểm: Dạy học bằng phƣơng pháp thảo luận nhóm có một số ƣu điểm sau
Mét lµ : Học theo nhóm bao giờ cũng sôi nổi, nó tạo ra cơ hội tối đa cho
mọi thành viên trong nhóm đƣợc bộc lộ sự hiểu biết và quan điểm của mình về
nội dung và phƣơng pháp học tập; giúp họ phát triển khả năng diễn đạt, trao đổi
suy nghĩ và quan điểm một cách rõ ràng, tăng cƣờng khả năng chịu đựng và sự
Ba lµ: Hiệu quả học tập của nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần tham gia
của các thành viên trong nhóm, thảo luận chỉ có một vài ngƣời tham gia tích cực thì
dẫn đến tình trạng có một vài ngƣời là chủ nhân còn các thành viên khác là khách
ngồi nghe, để mặc cho ngƣời khác dẫn dắt và quyết định. Khi đó thảo luận nhóm
trở thành sự độc diễn cá nhân, hệt nhƣ phƣơng pháp thuyết trình của GV. Còn các
thành viên khác trở thành “người ngoài cuộc” – một hiện tƣợng khá phổ biến
trong thảo luận hiện nay.
Bèn lµ: Sự tác động từ bên ngoài nhƣ sự giám sát thƣờng xuyên của GV, yếu tố
thi đua giữa các nhóm cũng ảnh hƣởng ít nhiều đến quá trình thảo luận.
Có thể thấy rằng thảo luận nhóm là một trong những phƣơng pháp dạy học
phát huy đƣợc tính tích cực, tự giác của ngƣời học. Nó đã tạo ra đƣợc một môi
trƣờng học tập thuận lợi mà ở đó trí tuệ tập thể đã đƣợc phát huy cũng nhƣ vai
trò hoạt động xã hội của cá nhân đƣợc trải nghiệm. Nếu GV là ngƣời có tâm
huyết, có quy trình và có biện pháp tổ chức thảo luận hữu hiệu thì những khó
khăn, hạn chế trên hoàn toàn có khả năng khắc phục đƣợc.
- Để phương pháp thảo luận nhóm có hiệu quả, GV cần lưu ý những
điểm sau:
+ Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ. Mỗi vấn đề nhỏ đƣợc coi
là một chủ đề thảo luận.
+ Chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ, cách chia nhóm tùy thuộc vào nội
dung và tính chất của vấn đề thảo luận, cũng nhƣ các điều kiện phục vụ khác
(bàn, ghế, phòng học, tài liệu, phƣơng tiện học tập). Phƣơng châm là sử dụng
linh hoạt nhiều hình thức nhóm phù hợp với các nhiệm vụ dạy học, đảm bảo cho
13
các nhóm biết trƣớc mục đích, nội dung thảo luận và đƣợc chuẩn bị đầy đủ các
điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình thảo luận.
+ Mỗi nhóm cử ra một nhóm trƣởng điều khiển và duy trì hoạt động của
nhóm và một thƣ ký ghi đầy đủ các phát biểu trong thảo luận.
+ Có thể giao nhiệm vụ cho từng cá nhân làm việc độc lập trong nhóm, sau đó
thức cơ bản cho sinh viên về pháp luật, môn học còn xây dựng ý thức sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của mỗi cá nhân. Trên cơ sở đó giúp cho
mỗi cá nhân hình thành nên ý thức và thói quen xử sự phù hợp với quy đinh của
pháp luật. Ngoài ra, môn pháp luật đại cƣơng cũng giúp cho sinh viên có điều
kiện dễ dàng tiếp thu với các môn học khác có liên quan đến pháp luật vì đây là
những kiến thức có tính chất đại cƣơng, nền tảng về nhà nƣớc và pháp luật Việt
nam. Việc dạy học môn pháp luật đại cƣơng cũng giống nhƣ các môn lý luận
chính trị là ở chỗ bên cạnh chức năng nhận thức phải đảm bảo chức năng thực
tiễn và chức năng tƣ tƣởng nhằm góp phần tăng cƣờng và giáo dục ý thức chấp
hành pháp luật của mỗi sinh viên ở trƣờng Đại học Tây Bắc. Có thể thấy nếu
chú trọng giáo dục pháp luật cho sinh viên sẽ có sức lan toả lớn, có tác dụng kép
bởi vì nếu đƣợc giáo dục pháp luật tốt, mỗi SV sẽ trở thành một tuyên truyền
viên tích cực về pháp luật cho những ngƣời thân trong gia đình và bạn bè xung
quanh, sẽ tạo đƣợc dƣ luận xã hội tích cực trong giới trẻ, trong cộng đồng và
trong xã hội. Chính vì vậy, trong dạy học Pháp luật đại cƣơng nếu không sử
dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực sẽ không đạt đƣợc hiệu quả cao và tạo
ra tâm lý coi môn học là khô khan và khó tiếp thu, tạo tâm lý nhàm chán cho
ngƣời học. Một trong những phƣơng pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học môn Pháp luật đại cƣơng là phƣơng pháp thảo luận nhóm.
* Quan niệm về PPTLN trong dạy học Pháp luật đại cương
Thảo luận nhóm trong dạy học Pháp luật đại cƣơng là phƣơng pháp dạy học
mà trong đó lớp học đƣợc chia thành các nhóm nhỏ để SV trong nhóm tích cực,
chủ động thảo luận những nội dung của bài học dƣới sự hƣớng dẫn, điều khiển
của giáo viên nhằm đạt mục tiêu học tập đã đề ra.
Dƣới sự hƣớng dẫn của GV về một nội dung cụ thể nào đó trong bài giảng
Pháp luật đại cƣơng, có thể là những khái niệm, những nội dung cơ bản của bài
học, hoặc là khả năng nắm bắt và vận dụng những nội dung kiến thức vào thực
15
tiễn cuộc sống v.v. Thông qua vấn đề cụ thể đó SV sẽ trao đổi, bàn bạc và đi đến
16
Thảo luận nhóm góp phần củng cố và khắc sâu những kiến thức Pháp luật
đại cƣơng.
Nhờ có thảo luận nhóm mà SV có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức
Pháp luật đại cƣơng, giúp SV biết vận dụng những tri thức môn học vào thực
tiễn cuộc sống.
Qua thảo luận nhóm giúp SV hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tƣ
duy, tinh thần hợp tác, hòa nhập cộng đồng.
+ Đối với giáo viên
Qua thảo luận nhóm giúp giảng viên có điều kiện để bổ sung, và mở rộng
những kiến thức mà khi lên lớp không có thời gian thực hiện.
Trong thảo luận nhóm, giảng viên có thể đánh giá một cách khá chính xác
khả năng tiếp thu của SV và năng lực tƣ duy của họ, tạo điều kiện cho việc phân
loại SV một cách chính xác.
Thảo luận nhóm cũng giúp cho GV có điều kiện trực tiếp uốn nắn những tri
thức sai lệch, chƣa chuẩn xác, định hƣớng kiến thức cần thiết cho SV.
Giúp giảng viên biết đƣợc năng lực nhận xét, đánh giá, khả năng vận dụng
lý luận vào thực tiễn xã hội của SV, từ đó định hƣớng phƣơng pháp giáo dục tƣ
tƣởng học tập cho SV.
1.1.4. Mối quan hệ giữa PPTLN với các phƣơng pháp dạy học tích cùc khác
Hiện nay trong các trƣờng Đại học sử dụng rất đa dạng các phƣơng pháp dạy
học, do vậy GV phải nghiên cứu kỹ mục đích, nội dung môn học, bài dạy để tìm ra
đƣợc các phƣơng pháp phù hợp. Mỗi phƣơng pháp đều có ƣu, nhƣợc điểm riêng
nên các PP cần đƣợc sử dụng phối hợp, hỗ trợ nhau chỉ có vậy mới đảm bảo dạy
học thành công.
Phƣơng pháp thảo luận nhóm là một phƣơng pháp dạy học đã đƣợc sử dụng
phổ biến, thƣờng xuyên song song với các phƣơng pháp dạy học tích cực khác
trong quá trình dạy học, chẳng hạn:
- Khi GV yêu cầu SV thảo luận để đƣa ra ý kiến quan điểm về một chủ đề
nào đó thì lúc đó phƣơng pháp thảo luận đang đƣợc thực hiện, nhƣng để có đƣợc
1.2.1. Thực trạng vận dụng phƣơng pháp thảo luận nhóm trong dạy học Pháp
luật đại cƣơng theo học chế tín chỉ cho sinh viên ở trƣờng Đại học Tây Bắc
Pháp luật đại cƣơng là môn học thƣờng đƣợc bố trí vào học kì 1 trong
18
chƣơng trình học ở bậc Đại học và Cao đẳng nhằm đạt đƣợc các mục đích sau:
- Trang bị những kiến thức cơ bản về Nhà nƣớc và Pháp luật cho sinh viên.
- Nắm đƣợc các khái niệm, phạm trù cơ bản để tiếp cận với các ngành luật.
- Hình thành thế giới quan, phƣơng pháp luận để tiếp cận có cơ sở khoa
học các chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc.
- Có ý thức gƣơng mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật.
Nội dung cơ bản môn Pháp luật đại cƣơng bao gồm hai phần:
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về Nhà nƣớc và Pháp luật;
Phần thứ hai: Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam
(Luật Hiến Pháp; Luật hành chính; Luật hình sự và tố tụng hình sự; Luật dân sự
và tố tụng dân sự;Luật hôn nhân và gia đình; Luật lao động; Luật kinh tế; Luật
đất đai; Công pháp quốc tế và tƣ pháp quốc tế).
Trong đó: Số tiết giảng lý thuyết: 28 tiết;
Số tiết thảo luận: 4 tiết
Việc chuyển đổi phƣơng thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ là
bƣớc chuyển tất yếu khách quan của trƣờng Đại học Tây Bắc và cả hệ thống
giáo dục đào tạo bậc đại học của Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và
quốc tế. Hiện nay, học chế tín chỉ là hình thức đào tạo đƣợc xem là tiên tiến trên
thế giới vì mục đích đào tạo của nó là hƣớng vào sinh viên, coi ngƣời học là
trung tâm trong quá trình dạy - học. Với hình thức này, ngƣời học không bị động
trong việc tiếp thu kiến thức và phân phối thời gian học tập (lựa chọn môn học,
giảng viên, giờ học, kỳ học ), nâng cao khả năng chủ động, tự học, tự nghiên
cứu của mỗi sinh viên, điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trƣơng đổi mới
phƣơng pháp dạy và học, đẩy nhanh quá trình hội nhập với nền giáo dục khu
vực và thế giới. Đây là một phƣơng thức đào tạo đem lại hiệu quả trong giáo
+ Rất cần thiết: 3 GV - 60%
+ Cần thiết: 2 GV- 40%
+ Không cần thiết: 0,00%
+ Bình thƣờng: 0,00%
Kết quả thống kê ở trên cho thấy giảng viên đánh giá cao tầm quan trọng của
PPTLN trong quá trình dạy học.
- Mức độ sử dụng PPTLN cũng nhƣ mức độ sử dụng các PPDH khác
20
trong quá trình dạy học môn Pháp luật đại cƣơng (Câu 3 - Phụ lục 1)
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các PPDH
STT
PHƢƠNG PHÁP
Các mức độ (%)
Thƣờng
xuyên
Đôi khi
Chƣa bao
giờ
1
Thuyết trình
100
0
0
2
Nêu vấn đề
20
60
20
3
9
Hƣớng dẫn từng SV
0
0
100
Căn cứ vào kết quả phản ánh ở bảng trên, PPTLN tuy đƣợc nhận thức là
một trong nhiều phƣơng pháp cần thiết và quan trọng nhƣ đã điều tra (60% và
40%), song số GV sử dụng phƣơng pháp này còn khá khiêm tốn chỉ có 20% là
thƣờng xuyên sử dụng, đôi khi là 40%, còn tới 40% giảng viên đƣợc hỏi thì trả
lời là chƣa bao giờ sử dụng phƣơng pháp này.
Nhƣ vậy, tuy đa số giảng viên đã có đƣợc nhận thức đúng đắn về đặc trƣng
cũng nhƣ ý nghĩa, tầm quan trọng của PPTLN, nhƣng trong thực tế họ lại rất ít
khi sử dụng phƣơng pháp này.
- Nhận thức của GV về đặc trưng của PPTLN (Câu 1 – Phụ lục 1).
Bảng 1.2. Kết quả nhận thức của GV về đặc trƣng của PPTLN.
Stt
Đặc trƣng của PPTLN
Tỷ lệ %
1
SV tự phối hợp, liên kết với nhau để thực hiện các
nhiệm vụ học tập.
0,00
2
SV ở các nhóm trao đổi, thảo luận các nhiệm vụ học
tập dƣới sự hƣớng dẫn, điều khiển của GV
60
3
GV tổ chức các nhóm SV trao đổi, thảo luận những vấn
đề mà bản thân GV đã truyền đạt.
20
- Quy trình TLN mà GV đã sử dụng vào trong quá trình dạy học Pháp luật
đại cương (Câu 9 – Phụ lục 1).
Với câu hỏi mở là: “Thầy, cô cho biết quy trình TLN mà bản thân thầy, cô
hiện đã và đang sử dụng khi dạy học Pháp luật đại cƣơng ?”.
Tổng hợp các ý kiến phản hồi, thấy rằng đa số các GV đều thực hiện theo
một quy trình chung, cụ thể nhƣ sau:
GV nêu mục đích, yêu cầu thảo luận.
Phân nhóm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm.
Các nhóm thảo luận
Đại diện các nhóm báo cáo kết quả
Các ý kiến hỏi, đáp xung quanh vấn đề đƣợc thảo luận.
GV tóm tắt, nhận xét và đƣa ra ý kiến kết luận.
22
Kết luận: Mặc dù đây không phải là một quy trình chi tiết, tuy nhiên cũng
khái quát đƣợc những công việc cơ bản cần phải làm của hoạt động thảo luận.
-Những khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình dạy học có vận dụng
PPTLN (Câu 7 – Phụ lục 1).
Qua phỏng vấn, điều tra trực tiếp giảng viên, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
(Bảng 1.3. Kết quả tìm hiểu về những khó khăn ảnh hưởng đến việc vận dụng
PPTLN).
STT
NHỮNG KHÓ KHĂN KHI VẬN DỤNG PPTLN
Tỷ lệ %
1
Do thói quen thói sử dụng các PPDH truyền thống
80
2
Do năng lực tổ chức, điều khiển thảo luận của GV còn hạn
chế
+ Do đặc thù trƣờng ở địa bàn Tây Bắc nên số lƣợng SV dân tộc thiểu số
tƣơng đối cao, nhiều SV khả năng phát âm tiếng Việt chƣa chuẩn, các em còn
nhút nhát, ngại ngần khi phát biểu.
+ Chất lƣợng “đầu vào” của SV trƣờng Đại học Tây Bắc chƣa cao, mức
điểm tuyển sinh đầu vào thƣờng chỉ bằng điểm sàn do Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định.
(Trong khi đó TLN đòi hỏi phải hoạt động tích cực, tự giác…song với các
đặc điểm vừa nêu trên nên phần lớn các em rất ngại thể hiện trƣớc đám đông.
Mặt khác, giảng viên lại thiếu những kinh nghiệm điều khiển thảo luận, dẫn dắt
vì thế không khơi gợi đƣợc hứng thú học tập của các em.
+ Những khó khăn khách quan
Thứ nhất, chƣa có quy trình thảo luận khoa học, chi tiết là khó khăn cơ
bản nhất ảnh hƣởng đến thảo luận nhóm. Bởi quy trình thảo luận là cách thức tổ
chức thảo luận, là trình tự các giai đoạn, các thao tác, kỹ năng trong quá trình tổ
chức điều khiển các nhóm thảo luận. Nếu có một quy trình khoa học, hợp lý sẽ
giúp GV và SV chủ động tiến hành TLN đạt hiệu quả cao.
Thứ hai, khó khăn về cơ sở vật chất chƣa đảm bảo, thiếu tài liệu giáo
trình, thiết bị dạy học hiện đại, bàn ghế không cơ động trong khi lớp học quá
đông cũng là những lý do gây cản trở cho phƣơng pháp TLN.
Tóm lại: Có nhiều khó khăn và hạn chế ảnh hƣởng đến việc sử dụng
PPTLN trong quá trình dạy học môn Pháp luật đại cƣơng. Vì vậy, muốn khắc
phục những khó khăn trên, đòi hỏi sự cố gắng đồng thời của giảng viên, SV và
sự quan tâm của nhà trƣờng.
*Kết quả phân tích dữ liệu phiếu điều tra SV:
Khảo sát SV năm thứ nhất, năm học 2014 – 2015 (lựa chọn ngẫu nhiên 3
lớp: K55 ĐHSP Tiếng Anh - 31 SV, K55ĐHSP Hoá – 36 SV, K55 ĐHSP Sinh -
34 SV).
Điều tra SV nhằm mục đích tìm hiểu về nhận thức của SV đối với
PPTLN cũng nhƣ những khó khăn mà các em gặp phải trong giờ học có vận
dụng PPTLN. Mặt khác đối chiếu, kiểm nghiệm với các dữ liệu thu thập từ GV.
Kết quả: đa số SV (60%) có nhận thức đúng về PPTLN. Tuy nhiên vẫn
còn nhiều SV lầm lẫn PPTLN là việc các em tự phối hợp và liên kết với nhau để
thực hiện nhiệm vụ học tập (20%), hoặc hiểu đơn giản PPTLN là việc GV dành
thời gian cho các em tự do thảo luận.
- Việc sử dụng các PPDH của giảng viên qua ý kiến của SV (Câu 2 – Phụ lục 2).
Kết quả thu đƣợc: 100% SV cho rằng GV vẫn thƣờng xuyên sử dụng
phƣơng pháp thuyết trình trong quá trình dạy học. Những PPDH tích cực nhƣ: dạy
học nêu vấn đề (75%), thảo luận nhóm (82%) ít khi sử dụng. Nhƣ vậy có thể thấy
rõ mức độ vận dụng các PPDH tích cực của GV còn hạn chế.
Bảng 1.5. Kết quả tìm hiểu về mức độ sử dụng các PPDH của GV qua ý
kiến của SV.
STT
PHƢƠNG PHÁP
Các mức độ (%)
Thƣờng xuyên
Thỉnh thoảng
Chƣa bao giờ
1
Thuyết trình
100
0
0
2
Nêu vấn đề
19
75
6
25
2
Khả năng diễn đạt ý tƣởng không lôgic và lƣu loát
42
3
Không thích thể hiện trƣớc số đông
32
4
Không quen chủ động, muốn học thụ động nhƣ trƣớc đây
36
5
Cơ sở vật chất và phƣơng tiện học tập chƣa đủ
18
6
Sĩ số lớp quá đông
61
7
Cách thức tổ chức, điều khiển của giảng viên còn hạn chế
55
Nhìn vào bảng trên cho ta thấy:
- Có 55% SV cho rằng khó khăn cơ bản mà SV thƣờng xuyên gặp phải
khi học giờ học có vận dụng PPTLN là do cách thức tổ chức, điều khiển thảo
luận của GV còn hạn chế. Do ®ã, giờ học chƣa thực sự gây đƣợc sự hứng thú đối
với SV. Và điều này cũng phù hợp với kết quả khi điều tra về những khó khăn
mà giảng viên cũng gặp phải khi vận dụng PPTLN. Nhƣ vậy rõ ràng việc xây
dựng đƣợc một quy trình thảo luận khoa học và hợp lí là một việc hết sức cần
thiết cho quá trình TLN.
- Còn những khó khăn khác nhƣ không có kĩ năng hợp tác, trình bày,
không thích thể hiện, thói quen học thụ động… đều là những khó khăn từ chính
bản thân SV, nhƣng theo chúng tôi, những khó khăn này hoàn toàn có thể khắc