MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hướng dẫn
phương pháp tự học môn triết học Mác – Lênin cho sinh
viên trường Đại học Tây Bắc………………………………….
1.1. Lý luận về tự học và hướng dẫn phương pháp tự học……
1.1.1. Khái niệm tự học và ý nghĩa của tự học………………….
1.1.2. Hướng dẫn phương pháp tự học, hướng dẫn phương pháp
tự học môn triết học Mác – Lênin………………………………
1.2. Thực trạng tự học và hướng dẫn phương pháp tự học môn
triết học Mác – Lênin ở trường Đại học Tây Bắc……………….
1.2.1. Khái lược hoạt động dạy - học môn triết học Mác – Lênin
ở trường Đại học Tây Bắc………………………………………
1.2.2. Thực trạng tự học môn triết học Mác – Lênin ở trường
Đại học Tây Bắc………………………………………………
Chương 2: Thực nghiệm hướng dẫn phương pháp tự học
môn triết học Mác – Lênin cho sinh viên trường Đại học
Tây Bắc…………………………………………………………
2.1. Kế hoạch thực nghiệm……………………………………
2.1.1. Mục đích thực nghiệm……………………………………
2.1.2. Đối tượng thực nghiệm…………………………………
2.1.3. Giả thuyết thực nghiệm…………………………………
2.2. Nội dung thực nghiệm và xử lý các kết quả thực nghiệm….
2.2.1. Nội dung thực nghiệm……………………………………
2.2.2. Điều tra ý kiến sinh viên…………………………………
2.2.3. Xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm đối chứng…………
2.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm……………………………
2.3.1. Kết quả học tập của sinh viên…………………………….
2.3.2. Đánh giá chất lượng của bài giảng qua việc sử dụng
Trang
1
3.2.2 Đối với sinh viên học môn triết học Mác – Lênin………
3.2.3 Đối với các cấp quản lý…………………………………
3.3. Những khuyến nghị với nhà trường, giảng viên và sinh
viên
KẾT LUẬN CHUNG…………………………………………
84
84
84
97
102
102
104
105
105
108
2
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử đã chứng minh rằng, sự thành bại hay thịnh suy của một dân
tộc, một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào việc giáo dục, đào tạo bồi dưõng
đội ngũ trí thức. Nguy cơ tụt hậu trong cuộc chạy đua ở thế kỷ XXI thực
chất là cuộc chạy đua về trí tuệ và phát triển giáo dục. Ở bất kỳ thời đại nào
nguồn lực con người luôn là vị trí trung tâm, là động lực của sự phát triển
xã hội. Trong đó thế giới quan khoa học và năng lực tư duy của con người
là yếu tố cơ bản của sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp “trồng người”.
Ph.Ăngghen cho rằng, một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa
học thì không thể không có tư duy lý luận.
Bước vào công cuộc đổi mới trong xu thế hội nhập diễn ra mạnh mẽ,
đồng thời với việc nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ tương xứng
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước
đã đưa ra nhiều chủ trương, nghị quyết nhằm đổi mới nội dung chương
trình giáo dục - đào tạo và phương pháp dạy học. Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy
và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi
trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét,
học vẹt, học chay” [11, tr.203-204]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng (4/2006) nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối
truyền thụ một chiều” [12, tr.97]. Cụ thể hoá các nghị quyết trên, ngày 10
tháng 10 năm 2006 Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ra công văn số
11381/BGDĐT-ĐH & SĐH về việc hướng dẫn giảng dạy các môn khoa học
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó yêu cầu: “Thực hiện đổi mới
phương pháp giảng dạy theo hướng chuyển quá trình dạy ở bậc Đại học thành
quá trình tự học của sinh viên có tổ chức và hỗ trợ tối ưu của giảng viên…
5
thực hiện 50 % thời gian môn học dành cho lên lớp và 50 % thời gian hội thảo
có giảng viên hướng dẫn và sinh viên tự nghiên cứu” [7, Tr.2].
Thực tế trong giảng dạy môn triết học Mác - Lênin ở trường Đại học
Tây Bắc, một vấn đề luôn được giảng viên và sinh viên quan tâm là làm thế
nào để nắm bắt được môn triết học Mác- Lênin? Vấn đề không đơn giản là
sự nhồi nhét của người dạy và người học cố gắng thuộc lòng những nguyên
lý, quy luật phổ biến của khoa học này đã được trình bày trong giáo trình.
Để hiểu được nội dung và thực chất của Triết học Mác - Lênin thì trước
hết phải coi nó là một triết học có sự: “Sự thống nhất giữa tính khoa học và
tính cách mạng trong triết học”. Cả người dạy và người học phải gắn
những nguyên lý chung của triết học với thực tiễn và phân tích được những
vấn đề cuộc sống đã, đang và sẽ xảy ra. Bản chất của Triết học Mác không
chỉ là giải thích thế giới vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới, các kết luận triết
học không chỉ đơn thuần là lời giải đáp lý luận về các sự vật, hiện tượng, sự
dung học tập, được tự lực tìm tòi nghiên cứu. Cùng với quan điểm này là
sự xuất hiện một loạt thuật ngữ mới trong giáo dục học như “Sự tự giáo
dục”, “Người tự giáo dục” đã trở thành phổ biến ở các nước có nền giáo
dục phát triển.
Ở Việt Nam, người khởi xướng cho nền giáo dục cách mạng và là tấm
gương sáng cho nghị lực và phương pháp tự học là Hồ Chí Minh, với tư
tưởng: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của
người cách mạng” và “Về học tập phải lấy tự học làm cốt”. Người rất đề
cao tính độc lập trong suy nghĩ và dựa vào sức mình là chính, đây là biểu
hiện cao của ý thức tự nguyện, tự giác học tập, Người nhấn mạnh, phải nêu
cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. đọc tài liệu thì phải đào
sâu, hiểu kỹ, có vấn đề chưa thông suốt thì phải mạnh dạn đề ra và thảo
luận cho vỡ lẽ.
Vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, sinh viên nhằm
đào tạo nguồn nhân lực có khả năng sáng tạo đã được ngành giáo dục đặt ra
7
từ những năm 1960 với khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình
tự đào tạo”. Cùng với quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, xu hướng
vận động của nền giáo dục Việt Nam cũng từng bước tiếp cận và đổi mới
theo nền giáo dục tiên tiến của các nước phát triển, nhưng đổi mới dạy và
học như thế nào để vừa đảm bảo tính hiện đại, vừa phải phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh nước ta, rất nhiều tác giả như Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc
Bảo, Trần Bá Hoành đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cả về
phương diện lý luận và thực tiễn về vấn đề nâng cao chất lượng dạy học
thông qua tự học và hướng dẫn tự học. Mới nhất, trong thời gian vừa qua
có nhiều đề tài khoa học, luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ tập trung
nghiên cứu nội dung này như:
- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Tính (2004) “Các biện pháp
tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục cho sinh viên các trường sư phạm”.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Đinh Thị Cúc (2006) “Hướng dẫn
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tự học và hướng dẫn phương pháp tự học môn triết học
Mác – Lênin cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc.
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu lý luận về hướng dẫn phương pháp tự
học môn triết học Mác – Lênin và thực nghiệm hướng dẫn phương pháp tự
học hai chương (chương VI và IX) trong chương trình môn triết học Mác –
Lênin cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc.
5. Phương pháp nghiên cứu
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Vận dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin: Duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
- Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, phân loại….
các tài liệu, giáo trình, các công trình nghiên cứu có liên quan.
9
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
- Phương pháp chuyên gia
- Thực nghiệm sư phạm
6. Đóng góp mới của tác giả
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, thực trạng và
nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng phương pháp và hiệu quả của việc
tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Tây Bắc còn thấp.
- Tiến hành thực nghiệm để so sánh đối chứng, xác định những khó
khăn, thuận lợi và tính khả thi của các biện pháp đã đề ra.
- Đề xuất một số hoạt động, biện pháp hướng dẫn phương pháp tự
học môn triết học Mác – Lênin ở trường Đại học Tây Bắc.
- Nhà tâm lý học N.ARubakin quan niệm: Tự tìm lấy kiến thức – có
nghĩa là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội,
lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan
11
hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn
cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm,
kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể.
Từ những quan điểm, định nghĩa về tự học nêu trên, tôi đi đến định
nghĩa chung nhất về tự học như sau: Tự học là quá trình nhận thức của cá
nhân người học với ý thức tự giác, tích cực, độc lập huy động năng lực trí
tuệ và thể lực của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó
của nhân loại, biến tri thức đó thành vốn tri thức của mình.
Tùy vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi cá nhân và chương trình giáo
dục - đào tạo mà quá trình tự học có thể thực hiện theo ba cách thức sau:
- Cách thức 1: Cá nhân người học tự nghiên cứu theo sở thích và hứng thú
môn học mà không có sự hướng dẫn của giáo viên hoặc chuyên gia về lĩnh vực
đó. Hình thức này thường gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu,
do phải tự mò mẫm nên dẫn đến đi chệch hướng nghiên cứu, phải thực nghiệm
nhiều lần hoặc cứ liệu, suy luận mang tính chủ quan của cá nhân…
Tuy nhiên quá trình tự nghiên cứu này kết quả sẽ đi đến sự sáng tạo và
phát minh ra các tri thức khoa học mới, hình thức tự học này phải được dựa
trên nền tảng cá nhân nắm vững tri thức cơ bản lĩnh vực đó và đặc biệt phải
có một niềm tin mạnh mẽ, sự khao khát, say mê khám phá tri thức mới. Đạt
tới trình độ tự học này người học đã vươn tới hình thức cao nhất của nghiên
cứu khoa học, không thầy hướng dẫn mà vẫn có thể tổ chức có hiệu quả
hoạt động nhận thức của mình.
- Cách thức 2: Tự học có thầy ở xa hướng dẫn.
Đây là hình thức tự học mới nhưng do phù hợp với thời đại nên được
ứng dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam, mặc dù thầy ở xa
nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện
không chính quy (mục d - điều 41 Luật Giáo dục). Trong các hình thức
giáo dục này, người học chủ yếu phải tự học bằng sách giáo khoa, tài liệu
và các điều kiện, phương tiện của mình để đạt được một mục tiêu hay một
13
chương trình đào tạo. Như vậy bản chất của việc học từ xa là tự học, người
học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo với sự trợ giúp
của các cơ sở đào tạo mà trực tiếp là các giảng viên bộ môn.
* Ý nghĩa của tự học trong quá trình dạy học
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở bậc đại học nói riêng,
người giảng viên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu
được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học tập của sinh
viên. Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giảng viên có kiến thức uyên thâm
đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng sinh viên không chịu
đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao
khát với tri thức, không có sự say mê học tập và phương pháp học tập hợp
lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không thể đạt kết
quả cao được.
Theo nhà giáo dục ngưòi Nga A.Đixrtervec đã viết: “không thể ban
tặng cho hoặc truyền đạt đến bất kỳ một người nào sự phát triển và giáo
dục. Bất cứ ai mong muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu
bằng sự hoạt động của bản thân, bằng sức lực của chính mình. Anh ta chỉ
có thể nhận được từ bên ngoài sự kích thích mà thôi…Vì thế, sự hoạt động
tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục” [24, Tr.118]
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị
trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học. Tự học là yếu tố
quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập của chính cá
nhân người học.
Ở bậc Đại học đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn
và chuyên sâu, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học,
tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức. Cũng chính
Như phần trên tác giả đã trình bày, tự học là quá trình nhận thức của
cá nhân người học nhằm chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó của
nhân loại, thực chất đây là quá trình cá nhân tự tư duy trên cơ sở phát huy
15
mọi năng lực, phẩm chất vốn có của mình để đạt được mục tiêu nào đó
trong học tập, nghiên cứu. Để đạt được mục tiêu này người học phải lựa
chọn cho mình một phương pháp phù hợp với điều kiện, khả năng của
mình cũng như đối tượng môn học và nhiệm vụ học tập đã đặt ra – đó
chính là phương pháp tự học.
Như vậy, phương pháp tự học của sinh viên là tổng hợp những cách
thức, con đường, phương tiện mà sinh viên tự chọn cho mình trong quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ
học tập và nghiên cứu khoa học đã đề ra.
* Hướng dẫn phương pháp tự học
Là một mắt xích rất quan trọng trong quá trình giáo dục – đào tạo, tự
học góp phần hình thành và nâng cao năng lực, phẩm chất của học sinh,
sinh viên, đây là vấn đề không chỉ liên quan đến người học mà cả người
dạy. Việc khơi dậy, hướng dẫn, phát hiện và phát huy nội lực tự học trong
việc giáo dục là một công việc không chỉ của một cá nhân người dạy nào
mà là vấn đề đang được cả ngành giáo dục và xã hội quan tâm.
Thực tế qua các cuộc thi quốc tế cho thấy, chỉ số thông minh của học
sinh, sinh viên Việt Nam không phải là thấp nhưng vấn đề là quy trình giáo
dục của chúng ta có khơi dậy và phát huy được khả năng tự học, tiềm lực
tư duy của thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên trong các trường đại học, cao
đẳng hiện nay hay không. Một người thầy giỏi không phải chỉ uyên thâm
trong chuyên môn mà phải là người hướng dẫn khoa học để người học phát
triển được hết năng lực tư duy của mình, nói cách khác người thầy phải là
người hướng dẫn, giúp đỡ họ có được phương pháp tự học khoa học và
đúng đắn.
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn
tâm hướng dẫn cho sinh viên năng lực tư duy, phương pháp học tập ngay từ
17
buổi đầu với những học phần đầu tiên, mỗi người phải xác định được vấn
đề tự học là đặc trưng quan trọng của dạy học chuyên nghiệp.
* Hướng dẫn phương pháp tự học môn triết học Mác - Lênin
Từ những quan niệm về tự học và hướng dẫn phương pháp tự học, ta
có thể hiểu hướng dẫn phương pháp tự học môn triết học Mác – Lênin là
quá trình giúp đỡ của người dạy đối với người học học phần triết học Mác
- Lênin, nhằm hình thành ở người học những cách thức, con đường,
phương tiện tự học, tự nghiên cứu khoa học hợp lý và hiệu quả, qua đó
giúp họ không ngừng nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học
của mình đối với học phần này.
Chúng ta cũng biết rằng muốn học tập tốt một môn học nào đó thì
người sinh viên phải hiểu được đặc điểm của môn học, tổ chức được những
hoạt động tương ứng với môn học đó để lĩnh hội tri thức, chính bản thân
người học chứ không phải ai khác phải thiết lập được mối quan hệ biện
chứng giữa chủ thể (người học) và khách thể (môn học).
Việc tự học môn triết học Mác – Lênin cũng vậy, muốn học tập đạt kết
quả cao trước hết người sinh viên phải hiểu được tính chất, đặc điểm của
môn học - đó là một bộ môn vừa mang tính chất lý luận trừu tượng, khái
quát lại vừa có tính thực tiễn rất cao. Vì vậy, việc học tập môn Triết học
Mác – Lênin không chỉ đơn thuần là việc nắm vững những nguyên lý, quy
luật, những bài tập mang tính chất lý luận mà phải gắn liền với việc am
hiểu và nắm vững những kiến thức thực tế vận dụng lý luận để giải quyết
những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Như vậy, để tự học tốt, vấn đề quan trọng trước tiên là người sinh viên
phải hiểu rõ được ý nghĩa, vị trí đặc thù của môn học trong hệ thống các
khoa học và đối với nghề nghiệp tương lai của mình, điều đó sẽ giúp họ
xây dựng được ý thức tự học và có ý chí khắc phục khó khăn trong quá
trình tự học. Để tự học môn triết học Mác – Lênin đạt hiệu quả thì việc xây
ngành Cao đẳng với tổng số khoảng 8000 sinh viên)
19
Bộ môn triết học Mác – Lênin là một trong những môn khoa học
Mác – Lênin được giảng dạy cho sinh viên đại học, cao đẳng ở tất cả các
ngành học. Bộ môn này được chia thành hai phần kiến thức cơ bản là phần
I khái lược về triết học và lịch sử triết học, phần II những nguyên lý cơ bản
của triết học Mác – Lênin. Mục đích của bộ môn này nhằm trang bị cho
sinh viên một cách có hệ thống những nội dung cơ bản về thế giới quan và
phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, lịch sử triết học, những
nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lênin. Bước đầu biết vận dụng các
nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lênin vào nghiên cứu các khoa học
cụ thể, cũng như phân tích những vấn đề cuộc sống đặt ra.
Bộ môn Triết học Mác - Lênin còn giúp người học phát triển tư duy lý
luận, tự giác trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần và năng lực tư duy sáng
tạo, biết khái quát và giải đáp được những đòi hỏi cấp bách của công cuộc
đổi mới và thực tiễn đặt ra, phục vụ sự nghiệp xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1.2.2. Thực trạng tự học môn triết học Mác – Lênin ở trường Đại học
Tây Bắc
Qua điều tra 150 sinh viên, chúng tôi chỉ nghiên cứu hoạt động tự học
của sinh viên của các lớp hệ Đại học với hình thức phát phiếu điều tra, chủ
yếu về các mặt: Nhận thức về vai trò của môn học, hứng thú học tập môn
học, động cơ học tập, thời gian, kế hoạch tự học, hình thức, phương pháp tự
học, kỹ năng tự học.
Kết quả thống kê đạt như sau:
* Nhận thức về tầm quan trọng của học phần triết học Mác – Lênin
20
Bảng 1.1: Vai trò của môn học triết học Mác - Lênin
STT
Vai trò của học phần triết học
21
hơn cả là có thể vận dụng những tri thức đó vào ngành học và thực tiễn
cuộc sống của mình.
Vậy sinh viên trường Đại học Tây Bắc đã nhận thức như thế nào về
tầm quan trọng của việc tự học môn triết học Mác – Lênin.
* Nhận thức về tầm quan trọng của việc tự học học phần triết học Mác
– Lênin.
Chúng tôi tìm hiểu vấn đề này qua phiếu điều tra và kết quả thu được
thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2: Vai trò của tự học học phần triết học Mác – Lênin
STT
Vai trò của tự học học phần
triết học Mác – Lênin
Số lượng
SV
Tỷ lệ
%
1 Rất quan trọng 32 21,33
2 Quan trọng 56 37,33
3 Bình thường 58 38,67
4 Không quan trọng 4 2,67
Nhìn vào bảng số liệu chúng ta nhận thấy nhận thức của sinh viên
về vấn đề tự học môn triết học Mác – Lênin, cho là bình thường được các
em chọn nhiều nhất (38,67%); thứ hai là tiêu chí quan trọng (37,67%); thứ
ba là rất quan trọng (21,33%); sinh viên lựa chọn tiêu chí không quan trọng
là cuối cùng (2,67%). Số liệu trên cho thấy phần lớn sinh viên trường Đại
học Tây Bắc vẫn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức học phần triết học
Mác – Lênin, điều này là đi ngược lại với chủ trương của Bộ Giáo dục và
đào tạo là giảm tải 50% thời gian giảng lý thuyết trên lớp và chắc chắn đây
sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập môn học này
Điều này lý giải vì sao sinh viên chỉ học triết học khi kỳ thi đến gần - thực
chất các em chỉ học mang tính đối phó hoặc vì số lượng học trình học phần
này quá cao.
* Thực trạng phương pháp tự học môn triết học Mác – Lênin của sinh
viên trường Đại học Tây Bắc
Để tìm ra các giải pháp giúp đỡ, hướng dẫn cho việc tự học học phần
triết học Mác - Lênin của sinh viên trường Đại học Tây Bắc đạt kết quả tốt
hơn thì trước hết chúng ta phải biết được các em đã tiến hành tự học bộ
môn như thế nào? Các em đã sử dụng những phương pháp nào tiếp cận
môn triết học? Các phương pháp mà sinh viên đã và đang sử dụng có
23
những điểm mạnh, điểm yếu gì, qua khảo sát 200 sinh viên các ngành học
khác nhau đã kết quả thu được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.4: Các phương pháp tự học
STT Các phương pháp tự học Số lượng
SV
Tỷ lệ
%
1
Cố gắng học thuộc những kiến thức trong phạm
vi bài giảng của thầy
56 28
2
Kết hợp vở ghi với giáo trình lập dàn bài, đề
cương ôn tập
74 37
3 Học vở ghi kết hợp với đọc sách, tài liệu tham khảo 31 15,5
4 Đọc giáo trình trước khi nghe giáo viên giảng 24 12
5
Học liên hệ với thực tiễn qua các phương tiện
mỗi chương, tiết thầy giảng mới phong phú và sâu rộng được.
Để làm được việc trên, nhiệm vụ của giảng viên phải thực hiện tốt
khâu hướng dẫn tự học, khi hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu
người giảng viên cần giúp cho sinh viên biết sử dụng phối hợp nhuần nhiễn
các phương pháp tự học khác nhau ví dụ: Cách tóm tắt nội dung tài liệu đã
đọc, cách tìm ý chính trong một nội dung, phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp vấn đề…có như vậy thì chất lượng tự học các môn nói chung và
học phần triết học Mác - Lênin nói riêng mới đạt hiệu quả tốt được.
Tóm lại qua việc tìm hiểu thực trạng tự học môn triết học Mác -
Lênin của sinh viên trường Đại học Tây Bắc, chúng ta nhận thấy rằng: Đa
số sinh viên chưa nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của môn học đối với
bản thân, các em chưa biết hoặc chưa được hướng dẫn cách thức tổ chức tự
học, tự nghiên cứu môn học một cách khoa học.
* Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học môn triết học
Mác – Lênin của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Để có các phương cách cụ thể giúp cho việc tự học môn triết học
Mác – Lênin của sinh viên được tốt hơn, một trong những điều kiện quan
trọng là phải nắm được nguyên nhân đã ảnh hưởng đến chất lượng tự học
bộ môn này của các em. Tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra những
25