MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa và trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
kinh tế nước ta đang có bước chuyển biến mạnh mẽ và phát triển nhanh chóng…
Để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nước ta phải đào tạo nguồn nhân lực trẻ,
hội tụ cả thể lực, trí lực, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, nhằm góp nên thành công của đất nước, đưa nước ta
vững tin sánh vai cùng các nước bạn trong khu vực và cả thế giới. Do đó yêu
cầu cấp bách nhất đối với nước ta hiện nay là phải phát triển nền giáo dục toàn
diện và giáo dục vẫn luôn là “quốc sách hàng đầu”.
Hiện nay, thực tế trong quá trình học tập của sinh viên các trường đại học,
cao đẳng cho thấy chất lượng học tập thấp, kết quả học tập không cao do thầy
vẫn còn duy trì PPDH truyền thống chưa vận dụng các PPDH hiện đại vào trong
giảng dạy nhằm khơi dậy niềm đam mê học tập của trò mà vẫn say sưa với
PPDH cổ truyền thầy đọc trò ghi, biến sinh viên thành kiếp con vịt bị nhồi nhét
thành kiếp con vẹt chỉ biết nói và làm theo những gì thầy giảng, chưa phát huy
được tính tích cực, tự giác và hứng thú học tập trong sinh viên nên dẫn đến tình
trạng trò rơi vào trạng thái bị động, gây tâm lý căng thẳng, ức chế, sợ học và
không hứng thú học tập. Đặc biệt là học phần I môn Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mac – Lênin, hầu hết các sinh viên đều sợ học, ngại học và có tư
tưởng không thích học mà chỉ học đối phó trong thi cử, học cho qua phần này vì
họ cho rằng phần này khô khan, khó học và hết sức trừu tượng. Chính thái độ
trông chờ, ỷ lại và thiếu nghiêm túc trong học tập, tư tưởng chưa thông suốt,
chưa hiểu biết và thực sự yêu thích và ham mê môn học mà dẫn đến kết quả học
tập kém. Hơn nữa, các giáo viên dạy phần này lại ngại đổi mới hoặc đổi mới
hoàn toàn – sử dụng các PPDH hiện đại một cách thái quá yêu cầu sinh viên tự
học, tự nghiên cứu mà không có sự hướng dẫn, chưa tìm được ra phương pháp
giảng dạy thích hợp để thu hút, tạo nên hứng thú học tập, phát huy tính tích cực,
tư duy độc lập, sáng tạo cho sinh viên.
1
2
nghĩ”, phải nêu cao tác phong học tập suy nghĩ chín chắn kỹ càng, mạnh dạn đề
xuất vấn đề và thảo luận cho thông suốt, phải “lấy tự học làm cốt”.
Trong cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học Về đổi mới phương pháp dạy học
và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sư
phạm TS.Thái Văn Long cho rằng: Sản phẩm tốt trong giáo dục và đào tạo, đó là
đào tạo những con người lao động sáng tạo, công tác giáo dục không thể làm
theo một khuôn mẫu định sẵn, áp đặt mà phải phát huy được tư duy độc lập, tích
cực, chủ động sáng tạo của sinh viên làm cho sinh viên có khả năng tự giải
quyết vấn đề một cách chủ động sáng tạo.
Cũng trong cuốn sách đó, PGS.TS. Nghiêm Đình Vỳ đã chỉ rõ: ý tưởng
dạy học là phải tập trung vào người học để phát huy tính tích cực và chủ động
của người học để cá thể hóa dạy học đang trở thành hiện thực.
PGS.TS.Nguyễn Đức Trí cho rằng, phương pháp dạy học chính là đổi mới
phương pháp dạy học cũ bằng phương pháp dạy học mới, nhưng việc đổi mới
phương pháp dạy học không có nghĩa là ngay lập tức và hoàn toàn thay thế các
phương pháp dạy học truyền thống bằng phương pháp dạy học hiện đại mà là việc
tìm ra phương án sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học hiện đại có
theo những mô hình phù hợp với đối tượng, môi trường và điều kiện dạy học hướng
vào sinh viên, giúp học chủ động, tích cực và sáng tạo trong quá trình học tập.
Giáo trình Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết
học – Phùng Văn Bộ, NXB Giáo dục, 1990: Tổng quan về phương pháp dạy
học, các nguyên tắc giảng dạy triết học, phương pháp giảng dạy các khái niệm,
phạm trù, nguyên lý và quy luật triết học…
Trong luận văn thạc sĩ của Đào thị Cẩm Nhung (1999), nghiên cứu Biện
pháp nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại
học quốc gia Hà Nội… cũng đã phần nào làm rõ việc vận dụng nguyên tắc phát
huy tính tích cực của người học. Tác giả đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lí luận
thiết kế bài giảng theo hướng kết hợp phương pháp dạy học truyền thống và
phương pháp dạy học hiện đại, tiến hành thực nghiệm cho sinh viên trường
ĐHSPHN và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kết hợp các
phương pháp dạy học cho sinh viên trường ĐHSPHN – những nhà giáo dục, nhà
khoa học trong tương lai.
4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, nhóm tác giả mong muốn tìm hiểu sâu
hơn về các phương pháp dạy học truyền thống và các phương pháp dạy học hiện
đại. Từ đó, xác định một số giải pháp để kết hợp có hiệu quả tối ưu nhất khi kết
hợp giữa hai phương pháp dạy học này cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài xác định 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, làm rõ cơ sở khoa học của việc kết hợp các PPDH truyền thống và
các PPDH hiện đại trong dạy học phần 1 môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin.
Hai là, thiết kế bài giảng, tiến hành thực nghiệm giảng dạy theo hướng
kết hợp các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại cho sinh viên trường
ĐHSPHN.
Ba là, đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc
kết hợp các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại trong dạy học phần 1
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cho sinh viên trường
ĐHSPHN.
4. Đối tượng nghiên cứu
Kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy
học hiên đại trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản chủa chủ nghĩa Mac –
con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định. Phương pháp là hình thức tự
vận động bên trong của nội dung, nó gắn liền với hoạt động của con người, giúp
cho con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục đích đề ra.
Bởi vậy, phương pháp bao giờ cũng có tính mục đích, tính cấu trúc và
luôn luôn gắn liền với nội dung. Nội dung quy định phương pháp nhưng bản
thân phương pháp có tác dụng trở lại làm cho nội dung trở nên ngày càng hoàn
thiện hơn và được vận dụng vào ý thức của người học tốt hơn.
Còn theo nghĩa chung nhất, phương pháp là con đường, là cách thức mà
chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục
đích đã đề ra. Phương pháp là phạm trù có liên quan mật thiết với các phạm trù
chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, hoạt động. Nếu không có phương pháp
tốt thì nội dung giáo dục không thể đến với người học để tiếp nhận và phát triển.
Dạy học
Theo ngôn ngữ giáo dục hiện đại được UNESCO sử dụng, dạy học là quá
trình dạy kiến thức, dạy kĩ năng và dạy thái độ cho con người. Cách diễn đạt
này, về thực chất vẫn đề cập tới ba nhiệm vụ cơ bản của quá trình dạy học là dạy
chữ, dạy hoạt động và dạy phương pháp làm người.
Dạy học tham gia tích cực vào quá trình nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực và bồi dưỡng nhân tài cho xã hội. Chính dạy học là điểm xuất phát, là cơ sở
7
cho mọi sự phát triển của xã hội. Dạy học nhất định dẫn đến sự phát triển trí tuệ
và muốn trí tuệ phát triển có thể tin cậy vào quá trình dạy học, vào quá trình học
tập chủ đạo tích cực và không mệt mỏi của chính bản thân người học.
Dạy học là hoạt động trí tuệ của thầy và trò, một quá trình vận động và
phát triển liên tục trong trí tuệ và nhân cách học sinh. Học tập bao gồm việc học
và tập. Học là quá trình nhận thức, nhằm tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử, xã
hội. Tập là rèn luyện để có kĩ năng hoạt động và có thái độ tốt trong các mối
quan hệ xã hội. Việc học tập do học sinh thực hiện một cách có ý thức và chủ
kiếm, xử lí thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập và
thực tiễn cuộc sống, thể hiện trong sự tìm tòi, khám phá vấn đề mới bằng phương
pháp mới, cái mới không phải là sao chép mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân.
Tóm lại, dạy học là một chỉnh thể thống nhất, ngoài hai nhân tố trung tâm
là giáo viên và học sinh còn có nhiều nhân tố khác tham gia. Các nhân tố đó là:
mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung và các hình thức tổ chức dạy học,
phương pháp và phương tiện dạy học, cùng với môi trường văn hóa chính trị xã hội, môi trường kinh tế - khoa học – kĩ thuật của đất nước trong trào lưu phát
triển chung của thời đại.
Phương pháp dạy học
Nguyên cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dạy: “ Trong nhà trường điều
chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng
kiến thức là cần thiết. Điều chủ yếu là giáo dục cho học trò phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên
cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề. Ở nhà trường không
phải là rèn luyện trí nhớ mà là rèn luyện trí thông minh…”.
Như vậy, muốn việc dạy và học của cả thầy và trò đạt chất lượng tốt thì
giáo viên phải có cách dạy và học sinh phải có phương pháp học tập tốt.
Vậy phương pháp dạy học được hiểu là phương pháp hoạt động của người
dạy trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp người học tích
cực chủ động đạt các mục tiêu dạy học. Và muốn có sản phẩm tốt trong giáo dục
và đào tạo, đó là đào tạo ra những con người sáng tạo, công tác giáo dục không
9
thể làm theo những khuôn mẫu định sẵn, áp đặt mà phải phát huy được tư duy
độc lập tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, sinh viên làm cho học sinh,
sinh viên có khả năng tự giải quyết được vấn đề một cách chủ động sáng tạo.
Phương pháp dạy học chính là cách thức làm việc của chủ thể, cách thức này
tùy thuộc vào nội dung vì phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung.
Phương pháp dạy học là thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy
kiên trì, thúc đẩy sự hứng thú học tập của học sinh. Trong phương pháp dạy học
chứa đựng những yếu tố của phương pháp giáo dục.
Việc dạy học bao giờ cũng được thực hiện theo nội dung. Nắm vững kiến
thức là mục đích học tập của học sinh. Nội dung dạy học quy định phương pháp
dạy học. Mỗi môn học, mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức, mỗi loại kĩ năng đòi
hỏi những phương pháp dạy và học cụ thể.
Mỗi bài học sử dụng nhiều phương pháp, mỗi phương pháp bao gồm
nhiều thao tác, cho nên dạy học bao giờ cũng là sự phối hợp nhiều phương pháp,
với nhiều thao tác. Việc lựa chọn hợp lí và sử dụng nhuần nhuyễn các phương
pháp dạy học đó chính là nghệ thuật sư phạm.
1.1.2. Mối quan hệ giữa phương pháp dạy học truyền thống với phương
pháp dạy học hiện đại
Phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp dạy học lấy người dạy
làm trung tâm, người học chỉ việc lắng nghe, ghi chép một cách thụ động những
kiến thức có sẵn do người dạy truyền đạt.
Hình thức truyền thụ chủ yếu vẫn là thuyết trình, vấn đáp có được sử dụng
nhưng mức độ không đáng kể và những câu hỏi nêu ra thường không kích thích
được tính tư duy sáng tạo của người học.
Ưu điểm của phương pháp dạy học này là dễ thực hiện, không đòi hỏi bất
cứ một phương tiện nào đối với giáo viên. Với cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ
hiểu, phù hợp với logic nhận thức và trình độ học sinh, phương pháp thuyết trình
trong khoảng thời gian ngắn đã giúp giáo viên chủ động truyền tải tới học sinh
một khối lượng thông tin cần thiết, cô đọng theo một cấu trúc logic chặt chẽ,
phản ánh nội dung môn học mà giáo viên đã chắt lọc được từ kho tàng tri thức
của nhân loại. Khi sử dụng phương pháp thuyết trình tốt sẽ cung cấp cho học
11
sinh những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bày trong sách giáo khoa từ những
nguồn tài liệu khác nhau mà học sinh phải mất nhiều thời gian, công sức mới
học như: Thảo luận nhóm, xêmina, đàm thoại, trực quan, nêu vấn đề, động não,
đóng vai lại là những phương pháp được sử dụng chủ yếu.
Ưu điểm của phương pháp dạy học hiện đại là nó kích thích được tư duy
độc lập của học sinh, lôi cuốn được học sinh vào môi trường học tập, tạo ra
được không khí sôi nổi trong học tập, phát triển cho học sinh kĩ năng thích ứng
trong các tình huống khác nhau tạo điều kiện cho giáo viên nhận được nhiều
thông tin phản hồi từ phía học sinh, thu được những tri thức kinh nghiệm qua
các ý kiến phát biểu có suy nghĩ và sáng tạo của học sinh.
Tuy nhiên, phương pháp dạy học hiện đại cũng còn nhiều hạn chế. Nó đòi
hỏi giáo viên phải có nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Nếu giáo viên tổ chức lớp
học không tốt sẽ dẫn tới mất rất nhiều thời gian, lãng phái thời gian học tập,
không đảm bảo truyền thụ đủ nội dung tri thức tới học sinh trong khoảng thời
gian được giới hạn, đôi khi sẽ làm phản tác dụng làm hạn chế sự phát triển năng
lực tư duy trừu tượng của học sinh.
Mối quan hệ biện chứng giữa phương pháp dạy học truyền thống và
phương pháp dạy học hiện đại
Phương pháp dạy học truyền thống lấy người dạy làm trung tâm còn
phương pháp dạy học hiện đại lấy người học làm trung tâm. Hai phương pháp
dạy học này có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Người dạy và người học là hai chủ thể của quá trình dạy học. Để quá trình
dạy học đạt kết quả cao đòi hỏi phải có sự kết hợp tương tác giữa người dạy và
người học. Trong đó, giáo viên là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động
học tập của học sinh, trên cơ sở đó học sinh phải tích cực, chủ động, sáng tạo
tiếp thu những tri thức khoa học.
Trên thực tế, mỗi phương pháp, mỗi kiểu phương pháp, mỗi nhóm
phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng. Không thể có một phương
pháp nào, nhóm phương pháp nào là vạn năng. Vì vậy, chúng ta cần lựa chọn và
vận dụng phối hợp một cách khéo léo các phương pháp dạy học truyền thống
với các phương pháp dạy học hiện đại để phát huy những ưu điểm của mỗi
13
Chính vì vậy mà việc đảm bảo cho sinh viên hiểu đúng và sâu sắc một nội dung
14
kiến thức triết học là rất khó. Đồng thời nó cũng hạn chế việc sử dụng kết hợp
các phương pháp dạy học khác nhau trong quá trình giảng dạy.
Thứ ba, về phương pháp và phương tiện dạy học: Do số lượng sinh viên
đông từ 50 đến 70 thậm chí có những lớp lên tới hơn 100 sinh viên nên trong
quá trình dạy học giảng viên vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học truyền
thống – thuyết trình là chủ yếu. Việc vận dụng các phương pháp dạy học mới và
phương tiện hiện đại vào trong dạy học vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, cũng ảnh
hưởng nhiều đến hiệu quả dạy học cũng như kết quả học tập của sinh viên.
Thứ tư, thái độ đối với môn học: Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo,
của nhà trường, của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đồng thời sự đoàn kết,
khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ,
giảng viên trong khoa, hơn nữa tinh thần học tập nghiêm túc của đại đa số sinh
viên, cho nên việc giảng dạy và học tập môn học đã đạt được kết quả ban đầu
quan trọng. Nhưng vẫn có những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới chất lượng giảng
dạy môn học, kết quả giảng dạy và học tập chưa cao. Có nhiều nguyên nhân làm
ảnh hưởng tới kết quả học tập của bộ môn như: Việc nhận thức lí luận còn hạn
chế, sự chậm chễ phát triển của những môn khoa học xã hội trong những năm
qua, trong đó có sự chậm trễ đổi mới về phương pháp giảng dạy bộ môn khoa
học chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, sự nhận thức
về thái độ thiếu khách quan về môn học này làm cho vị thế của bộ môn giảm
sút, có nhiều sinh viên chưa nhận thức đầy đủ về vị trí và vai trò của môn học,
cho rằng học chỉ để lấy được bằng, học cho xong, do đó không nghiêm túc trong
học tập hay học tập một cách chống đối, chiếu lệ…
Những điều này là một trong các yếu tố làm ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng môn học.
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (học phần một) là
quan trọng trong quá trình nhận thức, nâng cao trình độ tư duy lí luận.
Từ sự nhận thức hạn chế về vị trí và ý nghĩa của môn học như vậy, một bộ
phận không nhỏ sinh viên có thái độ chưa thật sự tích cực trong giờ học tập học
phần một những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thái độ thiếu tích
cực trong học tập môn học này còn thể hiện ở tinh thần học tập thụ động, lười tư
16
duy, ỷ lại vào thầy cô và bạn bè trong quá trình học tập biểu hiện rõ trong nội
dung của câu hỏi thứ ba.
Với câu hỏi thứ ba: Khi hỏi “ Em thường có biểu hiện như thế nào trong
quá trình học tập môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (học
phần một)?”. Có 32 sinh viên (13.3%) chọn phương án khát khao học; 105 sinh
viên (43.7%) chọn phương án tập trung chú ý; 58 sinh viên (24.2%) chọn
phương án hay nêu thắc mắc trong giờ học; 45 sinh viên (18.8%) chọn phương
án có biểu hiện khác. Từ số liệu ta thấy rằng: Việc kết hợp các phương pháp dạy
học nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học là rất cần thiết để tạo
được hứng thú cho người học.
Khi đặt câu hỏi thứ tư: “ Em cho biết ý kiến của mình về một số biện pháp
nhằm phát huy tính tích cực học tập bộ môn những nguyên lí cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin (học phần một), đề nghị xếp theo thứ tự mức độ quan trọng
của từng giải pháp” ( từ 1 tới hết và theo mức độ giảm dần).
Có 28 sinh viên (11.7%) sắp xếp theo thứ tự như sau:
1. Cải tiến phương pháp dạy học
2. Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá kết qủa học tập
3. Có động cơ học tập đúng đắn
4. Giải pháp khác
Có 77 sinh viên ( 32.1%) sắp xếp theo thứ tự:
1. Có động cơ học tập đúng đắn
2. Cải tiến phương pháp dạy học
nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin giảng viên trường Đại học sư phạm
Hà Nội đã cố gắng trong việc kết hợp, vận dụng nhiều phương pháp dạy học
trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực của người học vào dạy học
môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (học phần một), tuy
nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Để đạt được kết quả môn học đòi hỏi
trong quá trình giảng dạy giáo viên không ngừng tìm tòi, vận dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học, tạo sự hấp dẫn, phát huy được hết khả năng của người
học.
18
1.2.2. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn nguyên lí cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin (học phần một)
Trên thực tế, lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một
thầy dạy cho một lớp đông học trò với trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên
khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy “thông
báo – đồng loạt”. Giáo viên quan tâm trước hết tới việc hoàn thành trách nhiệm
của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách
giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên
giảng. Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy
nghĩ cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu
cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại. Để khắc phục tình trạng này yêu
cầu giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, phải biết kết hợp các phương
pháp giảng dạy để phát huy được hết những ưu điểm của chúng nhằm mang lại
hiệu quả cao cho hoạt động dạy học.
Bên cạnh đó, môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(học phần một) là một khối lượng tri thức triết học tương đối lớn mang tính chất
trừu tượng và khái quát hóa cao, nó có mối liên hệ với tất cả các khoa học khác
đòi hỏi trong quá trình giảng dạy giáo viên không chỉ sử dụng phương pháp dạy
điểm cũng như những hạn chế của hai nhóm phương pháp dạy học truyền thống
và hiện đại, nó cho thấy rằng không có một phương pháp dạy học nào là vạn
năng. Trong quá trình dạy học cần thiết phải kết hợp các phương pháp dạy học
với nhau để phát huy được hết những ưu điểm đồng thời khắc phục tối đa những
hạn chế của các phương pháp dạy học này nhằm mang lại hiệu quả cao trong
dạy học. Bên cạnh đó, thực trạng giảng dạy phần một những nguyên lí cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin của các trường Đại học, Cao đẳng nói chung và
trường Đại học sư phạm Hà Nội nói riêng đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương
pháp dạy học để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại toàn
cầu hóa hiện nay.
20
Chương 2: Thiết kế bài giảng, tiến hành thực nghiệm bài giảng tại trường
Đại học sư phạm Hà Nội
2.1. Thiết kế bài giảng môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin học theo hướng kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống
và các phương pháp trong dạy học hiện đại
Mục đích thiết kế
Căn cứ vào nội dung của đề tài đó là việc kết hợp các phương pháp dạy
học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học môn
những nguyên lý cơ bản của chư nghĩa Mác - Lênin học phần I. Vì vậy, để làm
sáng rõ hiệu quả của việc kết hợp đó chúng tôi cần tiến hành thực nghiệm giảng
dạy thử ở ba lớp trong đó có một lớp thực nghiệm và hai lớp đối chứng.
Để quá trình thực nghiệm đó đạt hiệu quả như mong muốn thì chúng tôi
cần sử dụng đến ba giáo án khác nhau (Đó là: giáo án theo phương pháp truyền
thống, giáo án theo phương pháp hiện đại và giáo án kết hợp các phương pháp
dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại). Vì vậy, mục đích
thiết kế ba giáo án ấy nhằm đảm bảo cho quá trình thực nghiệm có thể diễn ra
trong bài: “Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất về chất và ngược lại” như sau:
CHƯƠNG II: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay
đổi về chất và ngược lại
A. Mục tiêu bài học
I. Về kiến thức
1. Giúp sinh viên hiểu được khái niệm quy luật và phân loại được các quy luật
2. Hiểu được các khái niệm cơ bản như chất, lượng, độ, điểm nút, bước
nhảy trong triết học
3. Nắm được quan hệ biện chứng giữa chất và lượng, ý nghĩa rút ra từ quy
luật
4. Biết được vị trí, vai trò của quy luật đối với sự phát triển của sự vật,
hiện tượng trong tự nhiên
22
II. Về kỹ năng
1. Sinh viên có được kỹ năng phân tích, đánh giá đúng đắn và toàn diện
sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên
2. Phân tích được rõ ràng 2 mặt lượng, chất của sự vật trong thực tiễn
III. Về thái độ
1. Tôn trọng quy luật khách quan về cách thức vận động của sự vật, hiện tượng
2. Nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, trung thực
3. Xem xét, đánh giá khách quan sự vật, hiện tượng, không vội vàng, chủ
quan dẫn đến sai lầm, không bảo thủ, trì trệ
IV. Tài liệu dạy và học
- Giáo trình: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, NXB
Chính trị quốc gia, 2011.
bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi luật này trước hết chúng ta phải làm rõ
lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các “quy luật” là gì?
thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, GV giảng: bốn mùa xuân- hạ- thuhay giữa các sự vật, hiện tượng với đông hay quá trình sinh- lão- bệnh- tử,
nhau.
hiện tượng mặt trời mọc hướng đônglặn hướng
tây..chúng ta thấy điểm
tương đồng ở các sự vật, hiện tượng đó
là chúng đều có sự lặp đi lặp lại nhiều
lần. Theo quan điểm của chủ nghĩa
• Phân loại quy luật
Mác - Lênin thì những hiện tượng như
vậy được gọi là quy luật
GV: Căn cứ vào giáo trình chúng ta
thấy quy luật được phân loại như sau:
- Căn cứ vào mức độ của tính phổ
biến:
Quy luật riêng: tác động trong những
lĩnh vực riêng biệt của hiện thực.
Quy luật chung: tác động trong nhiều
loại sự vật, hiện tượng khác nhau.
Quy luật phổ biến: tác động trong tất
cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội, tư
duy.
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động:
24
• Thuộc tính là gì?
- Anh (chị) hãy nêu những thuộc tính
- Thuộc tính là những tính chất, trạng cấu thành quả chanh và quả sấu?
thái, những yếu tố cấu thành sự vật. Đó SV: nêu những đặc điểm, thuộc tính
là những cái vốn có của sự vật, nó bộc của 2 quả.
lộ thông qua sự tác động qua lại với GV: nhận xét và kết luận
các sự vật, hiện tượng khác nhau.
GV: Thuộc tính được chia làm 2 loại:
thuộc tính cơ bản và thuộc tính không
cơ bản. Thuộc tính cơ bản là những
thuộc tính được tổng hợp lại tạo thành
chất của sự vật. Chính chúng quy định
• phân loại thuộc tính:
sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển
+ thuộc tính cơ bản
của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi
25