XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
MỤC LỤC
MỞ BÀI
Hiện nay, có rất nhiều vụ việc trên cả nước được sự quan tâm của toàn xã hội.
Dư luận xã hội không chỉ tác động đến đời sống của mỗi con người, của một bộ
phận mà còn tác động đến ý thức pháp luật, việc ban hành các văn bản Luật.
Thông qua dư luận xã hội chúng ta có thể tìm hiểu về đời sống, quan điểm, quan
niệm của con người trong xã hội về những chuẩn mực của cuộc sống; từ đó, có thể
hiểu được về tâm lí xã hội, sự thay đổi của tâm lí xã hội thông qua những biến đổi
của dư luận xã hội. Không những thế, việc nghiên cứu dư luận xã hội cũng góp
phần tích cực cho những nhà làm luật xây dựng pháp luật và lấp đầy những lỗ
1
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
hổng trong hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, việc xem xét những yếu tố, những
tính chất cơ bản của dư luận xã hội, là một vấn đề hết sức quan trọng.
NỘI DUNG
I. Định nghĩa " dư luận xã hội"
Dư luận xã hội là một hiện tượng tinh thần của xã hội, là hiện tượng phức tạp
nên khó có thể hiểu được hết nội hàm của nó trong một định nghĩa ngắn gọn. Vậy
nên, về mặt lí luận thì hầu như không tồn tại một định nghĩa toàn diện về dư luận
xã hội được tất cả mọi người đồng tình.Trên các sách báo, tạp chí xã hội học đã có
khá nhiều định nghĩa được nêu ra:
- Theo B.K.Paderin- nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga, dư luận xã
hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét,
đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các
thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các thể chế, giai cấp xã hội nói
chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các
vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ.(
1
)
- Theo A.K. Uledop, cũng là nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga, dư
khai. (
5
)
Nhưng tựu chung lại thì những định nghĩa của các trung tâm nghiên cứu cũng
như của các nhà nghiên cứu về dư luận xã hội cũng đều đề cập đến những nội
dung cơ bản của dư luận xã hội như sau:
- Dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính phán
xét, đánh giá của nhiều người trước thực tế xã hội nhất định.
- Sự phán xét, đánh giá đó chỉ nảy sinh khi trong xã hội cónhững vấn đề
mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung của các nhóm xã hội, cộng đồng
xã hội.
- Vấn đề mang tính thời sự đó phải thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều
người, của đa số thành viên trong xã hội.
Như vậy, ta có thể khẳng định : “ Dư luận xã hội tập hợp các ý kiến, thái độ
có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung
trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút
được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc
hành động thực tiễn của họ ”.(
6
)
II. Các tính chất cơ bản của dư luận xã hội.
1. Tính khuynh hướng
Thái độ chung của dư luận xã hội đối với mỗi sự kiện, hiện tượng,quá trình
xã hội có thể khái quát theo những khuynh hướng nhất định. Bao gồm: tán thành,
lưỡng lự hay phản đối. Cũng có thể phân chia dư luận xã hội theo các khuynh
hướng như: tích cực hoặc tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu Ở mỗi khuynh hướng,
5
Trang 210 - Giáo trình xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công An nhân dân - 2009
6
Trang 210 - Giáo trình xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công An nhân dân - 2009
4
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng diễn ra trong xã hội
có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của đông đảo
người dân. Chẳng hạn, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tiền
lương, tăng giá xăng dầu, tăng giá điện đều là những ví dụ sinh động cho mối
quan hệ này. Ta có thể phân tích một ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề này. Theo
quyết định số 98 /BTC-QLG vừa được Bộ Tài chính ban hành, giá bán mới của
các loại xăng dầu cụ thể như sau:
Xăng A92 tăng 2.900 đồng/lít, từ 16.400 đồng lên 19.300 đồng/lít; dầu diesel
tăng 3.550 đồng/lít, từ 14.750 đồng lên 18.300 đồng/lít; dầu hoả tăng 3.100
đồng/lít, từ 15.100 đồng lên 18.200 đồng/lít; dầu mazut tăng 2.110 đồng/kg, từ
12.690 đồng nay giá bán là 14.800 đồng/kg. Giá xăng, dầu tăng kỉ lục như vậy ảnh
hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất của người dân gây nên một làn sóng dư luận
trong xã hội. Hầu hết người dân phản đối trước tình trạng "lương chưa tăng mà
mọi thứ đều tăng","sống làm sao?".
Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đanng diễn ra đụng
chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn
mẫu hành vi ứng xử văn hoá của của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc. Chẳng
hạn, cuộc chiến tranh do Mỹ đơn phương phát động chống lại Irắc là quốc gia có
chủ quyền đã gây ra dư luận phản đối mạnh mẽ trên thế giới. Dư luận thế giới
phản đối không chỉ bởi những thiệt hại đối với người dân Irac, mà còn bởi sự nhận
thức của đông đảo người dân trên thế giới về nguy cơ tiềm tàng của chủ nghĩa đế
quốc và thực dân mới núp dưới chiêu bài "can thiệp nhân đạo", tạo ra thứ tiền lệ
nguy hiểm cho các cuộc can thiệp sau này.
Lợi ích mới chỉ là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội. Điều
kiện đủ ở đây chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và
mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.
Có hai điểm sau cần chú ý:
5
lan truyền nhanh chóng của dư luận xã hội được nó thể hiện rất rõ nét. (
8
)
7
Trang 215- Giáo trình xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công An nhân dân - 2009
8
Trang 216 - Giáo trình xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công An nhân dân - 2009
6
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
4. Tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi
Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi. Có
những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi nhưng cũng có những dư luận
xã hội qua hàng thập niên vẫn không thay đổi. Tính bền vững tương đối của dư
luận xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay các
quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Chẳng hạn, sự đánh giá
rất cao của dư luận xã hội về cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, về
tầm quan trọng của sự nghiệp đổi mới, chính sách khoán trong nông nghiệp tới
nay vẫn không thể bị thay đổi. Cái mới lúc đầu chỉ được số ít thừa nhận và do đó
dễ bị đa số phản đối. Những ý kiến của đa số sẽ nhanh chóng, dễ dàng thay đổi khi
cái mới vươn lên khẳng định mình trong cuộc sống.
Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện
sau:
Thứ nhất- biến đổi theo không gian và môi trường văn hoá: Sự phán xét, đánh
giá của dư luận xã hội về bất kì sự kiện, hiện tượng, hay quá trình xã hội nào đó
cũng phụ thuộc vào hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang tồn tại trong nền
văn hoá của cộng đồng người. Với cùng sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội của
các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét, đánh giá khác nhau.
Chẳng hạn, hiện tượng tảo hôn, chế độ đa thê là hiện tượng bình thường, được
chấp nhận tại các nước thuộc khu vực Trung Đông, Nam Sahara ( châu Phi) hay
Ấn Độ nhưng chúng sẽ gặp phải sự phản ứng gay gắt tại nhiều nước ở Châu Âu,
ẩn, không bộc lộ bằng lời(dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu
dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Trong xã hội
cũng thường có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới, chưa xảy
ra, hiện thời chưa cấp bách. (
9
)
5. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội
Sự phản ánh thực tế của dư luận xã hội có thể đúng (đúng nhiều hoặc đúng
ít), có thể sai ( sai nhiều hoặc sai ít). Dù có đúng đến mấy đi nữa thì dư luận xã hội
vẫn có những hạn chế, do đó, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức từ dư
luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lí
9
Trang 217, 218,219- Giáo trình xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công An nhân dân - 2009
8
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
không thể coi thường được. Chân lí của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính
chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư
luận của thiểu số. Cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy,do đó, dễ
bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí
thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những
người có trình độ học vấn thấp.
Một ví dụ cho thấy tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của
dư luận xã hội là việc quy hoạch đô thị ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Khi đoạn đường chính từ Quán Tiên tới Phường Liên Bảo có quyết định mở phía
bên phải thêm 3m đã gây ra hai luồng dư luận từ phía người dân ở hai bên đường.
Do có sự đền bù lớn nên người dân bên phải đường cho rằng đây là quyết định
đúng đắn. Trái hẳn với họ là người dân bên trái lề đường nhất quyết phản đối dự
án quy hoạch này. Do đó ta có thể kết luận rằng, dư luận xã hội mang tính tương
đối, dù có sai xong nó vẫn có những hạt nhân hợp lí của nó. (
10
chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật được chia thành: ý thức pháp luật
của cá nhân, ý thức pháp luật của nhóm xã hội và ý thức pháp luật xã hội nói
chung. Do vậy, dựa vào cấu trúc của ý thức pháp luật, chúng ta có thể đứng trên
nhiều góc độ khác nhau để phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức
pháp luật. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích sự tác
động của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.
1. Sự tác động của dư luận xã hội đến hệ tư tưởng pháp luật
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính
chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng
pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa
học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về
các vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật trên lập
trường của một giai cấp nhất định. Nó là cơ sở để sáng tạo các giá trị pháp luật,
phổ biến các tư tưởng, quan điểm pháp luật tiến bộ, nhân văn trong xã hội. Dư
luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của hệ tư
tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã hội phản ánh tồn
tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lý xảy ra
trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong xã hội
về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ đạt tới sự nhận thức
10
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
chung, thống nhất trong các phán xét, đánh giá về sự việc, sự kiện pháp lý. Ban
đầu, "chuẩn mực" chung chi phối quá trình thảo luận, bàn bạc giữa họ là những
thông tin, kiến thức, hiểu biết về pháp luật mà mỗi thành viên có được từ những
nguồn khác nhau, chủ yếu là những khái niệm cơ sở mang tính kinh nghiệm. Các ý
kiến bước đầu được đưa ra có thể khác nhau vì nhận thức pháp luật của mỗi thành
viên xã hội cũng khác nhau. Dần dần, các cuộc thảo luận đi vào chiều sâu, nội
dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội thường tập trung vào những vấn đề
trọng tâm, đưa ra những nhận định phản ánh đúng đắn bản chất của các sự kiện,
hiện tượng pháp lý. Khi đã hình thành, dư luận xã hội biểu thị thái độ, quan điểm,
trị, chuẩn mực pháp luật của hệ tư tưởng pháp luật chính thống, nghĩa là ý chí của
giai cấp cầm quyền có nhiều nét tương đồng với dư luận xã hội của các tầng lớp
nhân dân. Qua đó, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ và tích cực tới sự hình
thành, phát triển và phổ biến hệ tư tưởng pháp luật trong xã hội. Đối với đại đa số
quần chúng nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn có tầm quan trọng hàng đầu.
Dư luận xã hội đóng vai trò là "người lính canh giữ", bảo vệ những quyền lợi, các
giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích cá nhân chính đáng của con
người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì du luận
xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án, phản đối gay gắt. Mỗi khi các cá nhân
hoặc nhóm xã hội nào đó có hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, dư
luận xã hội cũng lập tức lên án, gây sức ép nhằm ngăn chặn hành vi đó. Chẳng
hạn, những vụ phạm pháp hình sự đặc biệt nghiêm trọng, như giết người dã man,
xâm hại an ninh quốc gia thường khiến cho dư luận xã hội hết sức công phẫn,
đòi trừng phạt nghiêm khắc kẻ phạm tội. Trong trường hợp này, nội dung phản
ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lý của dư luận xã hội phù hợp với hệ tư tưởng
pháp luật tiến bộ, đang phổ biến trong xã hội, đáp ứng được lợi ích, nguyện vọng
của đông đảo các lực lượng tiến bộ trong xã hội. Điều đó cho thấy, dư luận xã hội
có tác đụng củng cố, bảo vệ tính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội của hệ tư
tưởng pháp luật. Khi giai cấp cầm quyền trong xã hội, vì những lý do nhất định,
muốn duy trì một hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, bảo thủ, thì các quan niệm, tư
tưởng pháp lý của nó chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, đi ngược
12
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
lại các giá trị dân chủ, nhân văn trong xã hội. Trong các chế độ xã hội độc tài, phát
xít, hệ tư tưởng pháp luật của nó thường mất đi tính dân chủ, tính khoa học và tính
xã hội, thông tin pháp lý bị bưng bít, các quyền cơ bản của con người bị chà đạp,
xoá bỏ. Trong các xã hội đó, nhân dân không được công khai bày tỏ các quan
điểm, ý kiến của mình, nên ở đây thường hình thành cái gọi là "dư luận xã hội của
đa số im lặng' mà sức mạnh của nó được ví là "sóng ở đáy sông". Kết quả là, cùng
với các cuộc đấu tranh cách mạng, dư luận xã hội của đông đảo các lực lượng xã
ứng lại các hành vi vi phạm pháp luật, yêu công lý, đề cao công bằng xã hội, đề
cao trách nhiệm pháp lý cũng có thể biểu hiện dưới dạng tiêu cực, như cổ vũ cho
hành vi phạm pháp, chống đối người thi hành .công vụ, làm ngơ trước người bị
hại Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là đối tượng phán xét,
đánh giá của dư luận xã hội. Trong thực tiễn đời sống pháp luật, trước những diễn
biến của một sự kiện hay hiện tượng pháp luật, dư luận xã hội thường nảy sinh và
biểu hiện ở hai xu hướng: thứ nhất, khen ngợi, biểu dương tinh thần đấu tranh
không khoan nhượng trước các hành vi vi phạm pháp luật, ủng hộ những việc làm
phù hợp với quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân, thử hai, phê phán, lên án các
hành vi sai trái, phạm pháp, phạm tội. Về mặt tình cảm, không ai muốn mình trở
thành đối tượng phán xét của dư luận xã hội, không ai muốn hứng chịu sức ép của
"búa rìu xã hội". Do vậy, mỗi cá nhân đều mong muốn có thể kiểm soát, điều
chỉnh tình cảm và hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí chung của cộng
đồng xã hội. Với ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp
luật, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn
của mỗi công dân. Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người
trước luật pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái
tâm lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời
sống xã hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh động, dễ thay đổi của tâm lý pháp
luật. Do sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố, như điều kiện sống, lao động, sinh
hoạt hàng ngày mà tâm trạng của con người thường được thể hiện ra ở các trạng
thái đối lập: hưng phấn - ức chế, lạc quan - bi quan, hy vọng - thất vọng, quan tâm
- thờ ơ, nhiệt tình - lãnh đạm trước thực tiễn cuộc sống. Tuỳ thuộc đang trong
14
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
tâm trạng hưng phấn, nhiệt tình, người ta dễ có những phản ứng mạnh mẽ, tích cực
trước các hành vi vi phạm pháp luật ở nơi công cộng, còn khi không tin tưởng vào
sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, người ta thường thờ ơ trước các sự kiện
pháp lý Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá
của dư luận xã hội và qua đó, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người
thì có bị dư luận xã hội lên án hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật
định không? Điều đó cho thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà
mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình. Như vậy, có thể nói, dư luận
xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến tâm lý pháp luật. Tác động đó được thể hiện
trên ba phương diện. Thứ nhất, tác động tới tình cảm pháp luật của con người, góp
phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật của mỗi công dân. Thứ hai,
tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp cả theo hướng tích cực lẫn
tiêu cực. Thứ ba, tác động đến sự tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của
mỗi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành.
KẾT BÀI
Như vậy, qua sự tìm hiểu, phân tích trên ta đã thấy rõ được các tính chất cơ
bản của dư luận xã hội. Làm rõ những tính chất này bằng những ví dụ điển hình đã
cho ta hiểu sâu sắc hơn về những tính chất cơ bản này. Và cũng có thể khẳng định
Dư luận xã hội có tác động tích cực tới lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là đối với ý
thức pháp luật…
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Nguyễn Sinh
Huy, 1999.
Xã hội học về dư luận xã hội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà
Nội,2006
Xã hội học pháp luật, Nxb Tư Pháp, Ngọ Văn Nhân, Hà Nội,2010
http://doangia.vn
16
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật – Ts. Ngọ Văn
Nhân – Tạp chí Triết học
Tập bài giảng Xã hội học – trường Đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất
bản Công An nhân dân -2009
17