P a g e | 1
MỤC LỤC
I. Lời mở đầu
II. Thực trạng về vấn đề bạo lực trong gia đình Việt Nam hiện nay
1. Bạo lực gia đình được hiểu như thế nào?
2. Bạo lực trong quan hệ vợ chồng
3. Bạo lực giữa cha mẹ và con cái
III. Nguyên nhân và giải pháp
1. Nguyên nhân
2. Giải pháp
3. Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
I. Lời mở đầu
Page 1
P a g e | 2
Quan hệ gia đình giữa chồng với vợ, cha mẹ và con cái, anh chị em với
nhau là
quan
hệ tình cảm thiêng liêng, ấm áp Gia đình là tổ ấm, là nơi
thoả mãn những nhu cầu tình
cảm
và vật chất của các thành viên, bảo vệ
họ trước những căng thẳng của cuộc sống. Gia đình
trở
thành “ thiên
đường trong thế giới không tim”(chữ dùng theo nhan đề một cuốn sách của
tác
giả Mĩ Ch.Lash). Thế nhưng có phải gia đình nào cũng là thiên đường
không khi mà baọ
lực
gia đình đang là vấn đề mang tính chất toàn cầu, nó
P a g e | 3
Những năm gần đây, nạn bạo lực gia đình đã được các cấp, các ngành, các đoàn
thể, các tổ chức xã hội và cộng đồng quan tâm, đặc biệt Nhà nước đã ban hành
Luật phòng chống bạo lực gia đình. Luật phòng chống bạo lực gia đình đang được
tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, nhân dân, từng bước đi vào cuộc sống của mỗi
gia đình. Nhìn chung bạo lực gia đình có chiều hướng giảm song chỉ giảm so với
hình thức bạo lực thể chất, còn bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế và bạo lực tình
dục thì chưa giảm. Nhận thức về phòng chống bạo lực gia đình của nhân dân nói
chung, phụ nữ nói riêng còn hạn chế. Các hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình chưa
hiệu quả. Việc xử lý các vi phạm, phê bình góp ý đối với đối tượng gây bạo lực
gia đình chưa có tiến triển nhiều. Những con số mà chúng ta đang thấy là những
con số không nhỏ. Riêng ở Việt Nam khoảng 10 năm gần đây vấn đề này mới
được đưa vào nghiên cứu ở một số công trình của Hội liên hiệp Phụ Nữ và một số
tác giả khác. Hậu quả của bạo lực gia đình lại đặc biệt quan trọng, nó không chỉ
gây tổn thương đến cuộc sống, sức khỏe và danh dự của các thành viên trong gia
đình mà còn vi phạm đến đạo đức xã hội, tiếp tay cho sự gia tăng các tệ nạn như
mại dâm, ma túy, người lang thang cơ nhỡ nạn buôn bán trẻ em và phụ nữ. Vấn đề
bạo hành không chỉ còn tồn tại trong gia đình nữa mà nó là sự quan tâm của toàn
xã hội.
Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về tình trạng “bạo lực gia đình” ở Việt Nam hiện
nay, cũng như hoàn thành bài tiểu luận cuối kỳ môn xã hội học gia đình, tôi đã
chọn đề tài: “ Vấn đề bạo hành trong gia đình ở Việt Nam hiện nay ”.
II. Thực trạng về vấn đề bạo lực trong gia đình Việt Nam hiện nay
Page 3
P a g e | 4
1. Bạo lực gia đình được hiểu như thế nào?
Bạo lực gia đình là các hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình, bao gồm sự
xâm phạm và ngược đãi về thân thể hay tình cảm giữa các thành viên trong gia
đình. Bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử dụng vũ lực
nhằm hăm doạ hoặc đánh đập người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm
nghiêm trọng và phổ biến, đặt ra cho xã hội nhiệm vụ cấp bách là: Phải làm gì để
bảo vệ phụ nữ trước những hành vi bạo lực? Ở Việt Nam, chưa có các cuộc khảo
sát trong cả nước về tình trạng bạo lực gia đình, nhưng theo báo cáo của Bộ Công
an, từ năm 1995 đến năm 2000 đã có 106 vụ án bạo lực gia đình dẫn tới chết
người. Riêng năm 2001 trong số 1.100 vụ giết người trong cả nước thì có tới 16%
số vụ do người thân trong gia đình giết hại lẫn nhau. Trên báo chí hàng ngày đã
đăng tải nhiều vụ bạo lực rất dã man trong gia đình như: Bài “khống chế, đổ thuốc
diệt cỏ vào miệng vợ!?” (Báo thanh niên, số 186 ra ngày 5/7/2003) ,“Kẻ giết vợ
dã man” ( Báo Giáo dục và Thời đại ra ngày 13/5/2003), “Cần nghiêm trị kẻ giết
vợ dã man” ( Báo Phụ nữ Việt Nam ra ngày 17/2/2003), “Đổ xăng đốt vợ” ( Báo
Công an nhân dân ra ngày 7/12/2002) Những bài báo đã mô tả những hành
động tội ác dã man, vô nhân tính của người chồng đối với vợ mình và việc rút ra
những bài học sau những vụ bạo lực dã man đó.
Về cơ bản, bạo lực trong quan hệ vợ chồng hiện nay có thể được chia thành 3 hình
thức chính như sau:
a) Bạo lực thân thể:
Bạo lực thân thể là những hành vi bạo lực mà người gây ra bạo lực thường sử
dụng sức mạnh cơ bắp (tay, chân) hoặc công cụ (thậm chí cả vũ khí) gây nên sự
đau đớn về thân thể đối với nạn nhân. Bạo lực thân thể còn bao gồm cả việc ngắn
cấm phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng như ngăn ngừa họ không
được tiếp cận các nhu cầu vật chất của mình như: ăn, uống, ngủ, nghỉ …
Thực tế cho thấy bạo lực trong gia đình nhất là bạo lực đối với phụ nữ đã và đang
trở thành vấn đề khá phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, nhưng có
Page 5
P a g e | 6
thể nói những con số thống kế số vụ bạo hành trong gia đình so với thực tế là quá
ít.
Nạn nhân của bạo lực trong gia đình (xét trong quan hệ vợ chồng) thì phụ nữ
chiếm đa số. Thực tế cũng cho thấy không chỉ những người phụ nữ có trình độ văn
hoá thấp mà cả những người phụ nữ có trình độ văn hoá tương đối cao, có địa vị
trọng người khác. Ở những đứa trẻ đó có sự yên tĩnh trong tâm hồn, một tâm hồn
mạnh khoẻ, khoẻ khoắn, vững chắc, một niềm tin chân thành vào điều thiện” (báo
Gia đình và xã hội, số 159 năm 2005). Chính vì vậy, cha mẹ luôn phải là tấm
gương sáng để trẻ học tập và noi theo. Như vậy, có thể thấy rằng bạo lực thân thể
là một những những nguyên nhân chính của tình trạng ly hôn hiện nay, đẩy nhiều
gia đình đến chỗ tan vỡ, đẩy trẻ em phải ra đường sống lang thang, thậm chí trở
thành tội phạm. Bên cạnh những hành động bạo lực dã man và thô bạo thì một loại
bạo lực khá phổ biến hiện này là bạo lực tình dục.
b) Bạo lực tình
d
ụ
c:
Bạo lực tình dục là cưỡng ép, ép buộc phụ nữ phải làm những việc liên quan đến
tình dục trái với mong muốn của họ; bàn luận về những bộ phận trên cơ thể phụ
nữ, cưỡng hiếp, giam cầm và sử dụng công cụ tình dục; xem phụ nữ chỉ như là
một đối tượng tình dục; ép phụ nữ phải quan hệ tình dục hoặc bắt phải xem các
hình ảnh khiêu dâm mà người phụ nữ không muốn hoặc ép phải quan hệ tình dục
khi đã bị đánh đập, cố tình gây đau đớn hoặc tổn hại cho họ trong quá trình quan
hệ tình dục (báo Gia đình và xã hội, số 160 năm 2005).
Trong đời sống vợ chồng ở nhiều gia đình, hôn nhân được hiểu như là sự cho phép
người đàn ông có quyền tiếp cận tình dục với người vợ vô điều kiện và họ có sức
mạnh để củng cố sự tiếp cận này thông qua cưỡng bức nếu thấy cần thiết. Không
ít phụ nữ khi không đồng ý quan hệ với chồng đã bị chồng chì chiết, chửi mắng
thậm tệ, thậm chí bị trói vào cột nhà để hãm hiếp. Bị bạo hành về tình dục đã
khiến người phụ nữ có cảm giác như mình chỉ là công cụ giải quyết sinh lý của
chồng nên cảm thấy quan hệ sợ mỗi khi gần gũi với chồng. Trong quan hệ “phòng
the”, lẽ ra người phụ nữ cũng có quyền được trân trọng thì trái lại, họ lại bị trước
Page 7
P a g e | 8
đi quyền được làm vợ, nghĩa là được nâng niu, chiều chuộng và được yêu thương.
lưng”. Những điều này góp phần làm cho dạng bạo lực này ngày một phát triển,
đặc biệt ở nông thôn và gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với phụ
nữ.
Ngoài hai hình thức bạo lực trên còn có nhiều dạng bạo lực khác làm tổn thương
lớn đến người phụ nữ như không quan tâm, bỏ rơi, không nói chuyện như kiểu
“chiến tranh lạnh”, chửi bới, kể cả những hành vi quản lí tiền nong chi tiêu trong
gia đình Các dạng bạo lực này có thể quy vào dạng bạo lực tinh thần.
c) Bạo lực tinh thần
Bạo lực tinh thần là những hành vi nhằm hành hạ tâm lý thông qua những hình
thức như: đe doạ, lạnh lùng, bỏ rơi, không quan tâm, không hỏi han, cô lập, cách
ly, kiểm soát chặt chẽ, không để cho nguời bạn đời có được cuộc sống riêng của
mình (báo Gia đình và xã hội, số 161 năm 2005).
Theo thống kê của trung tâm nghiên cứu ứng dụng về Giới, Gia đình, Phụ nữ và
Vị thành niên thì trong hơn 30.000 cuộc điện thoại gọi đến Trung tâm có đến
23.233 cuộc liên quan đến bạo lực tinh thần chiếm 78%; 9,6% là bạo hành thể
chất; 5,7% là bạo hành tình dục (báo Gia đình và xã hội, số 161, ra ngày
8/10/2005). Đây chỉ là những thống kê sơ bộ nhưng cũng đủ thấy bạo lực tinh thần
đã và đang trở nên nghiêm trọng trong đời sống vợ chồng.
Với bạo lực thể xác, nỗi đau đớn thể hiện rõ ràng trên cơ thể người phụ nữ nhưng
với bạo lực tinh thần thì vết thương ấy nông sâu như thế nào không ai đo đếm
được. Bạo lực tinh thần từng ngày từng giờ gặm nhấm ý chí, tâm can của người
phụ nữ khiến những nạn nhân này luôn trong tình trạng căng thẳng dẫn đến
“stress”, tâm thần ở thể nhẹ hoặc thần kinh và hậu quả đau lòng nhất là có nhiều
người quá bế tắc đã phải tìm đến cái chết để giải toả.
Nếu như những vết thương tích trên cơ thể người phụ nữ do người chồng đánh
đập theo thời gian cũng sẽ mờ dần thì bạo lực tinh thần lại là những vết thương
khó lành, thậm chí càng theo thời gian (kéo dài tình trạng này) thì vết thương càng
hằn sâu trong tâm của người phụ nữ. Thực tế cho thấy bạo lực tinh thần sẽ dẫn đến
tan vỡ hạnh phúc lứa đôi của các cặp vợ chồng, gây đổ vỡ cuộc sống gia đình. Bạo
Page 9
Page
10
P a g e | 11
rõ vấn đề này. Thông qua hợp tác giữa Viện nghiên cứu Thanh niên với tổ chức
Radda Barren đã điều tra dư luận học sinh với chủ đề “hình phạt của cha mẹ đối
với trẻ em” tại 12 điểm, đại diện các tỉnh, thành: thành phố Đà Nẵng, Nghệ An,
thành phố Hà Nội, Hải Dương, thành phố Hải Phòng và tỉnh Hoà Bình với sự
tham gia của 1240 học sinh tiểu học và trung học cơ sở (632 nam và 608 nữ). Kết
quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ trẻ em nói rằng, cha mẹ thường xuyên sử dụng hình
phạt khi trẻ em mắc lỗi (45,7), đôi khi sử dụng (50,1%) và không xử phạt (4,1%).
Như vậy, hầu hết cha mẹ đều sử dụng hình phạt đối với con cái khi chúng mắc sai
phạm. Tuy nhiên, còn 4,2% cha mẹ không quan tâm hay ít để ý đến những sai
phạm của con cái mình.
Điều này cho thấy, trẻ em thừa nhận việc cha mẹ sử dụng hình phạt đối với chúng
chiếm tỷ lệ cao và các hình thức xử phạt rất đa dạng. Trong số các hình phạt thì
hình thức mắng chiếm tỷ lệ cao nhất 64,9% so với đánh là 23,6%, những hình
thức khác là 9,5%. Như vậy số đông các bậc cha mẹ dùng hình thức mắng con khi
con có lỗi. Tuy nhiên, còn hơn 1/4 số trẻ phạm lỗi bị hình phạt đánh và gần 1/50
còn phải chịu các hình phạt khác, tuy không đau về thân thể, nhưng vô cùng ảnh
hưởng xấu đến tâm lý như “xỉ nhục, phạt không cho ăn cơm, phạt đứng nắng”.
Kết quả điều tra cũng cho thấy: trẻ nhỏ từ 6 - 10 tuổi hay bị mắng là 100%; bị chửi
là 18%; bị xỉ nhục là 4,9% và bị đánh đập là 55%; hình thức khác là 8% và tỷ lệ
này ở nhóm trẻ từ 11 - 16 tuổi, tương ứng là 92% ; 40% ; 7,3%; 69% ; 9%. Những
số liệu thu được cho thấy dù ở lứa tuổi nào, tỷ lệ trẻ em chịu sự trừng phạt của cha
mẹ là tương đối cao (Báo khoa học về Phụ nữ số 3-2005).
Như vậy, việc mắng, đánh của cha mẹ đối với con cái thực sự là mối quan tâm lớn
trong xã hội hiện nay. Khi con cái mắc khuyết điểm họ không lựa lời khuyên bảo
mà áp dụng những hình phạt nặng nề như bắt úp mặt vào tường mấy tiếng đồng
hồ, bắt nằm sấp lên giường để đánh đòn, thậm chí có người trói con vào cột đánh
đến thâm tím mặt mày, hoặc dìm con xuống nước lạnh giữa mùa đông rét mướt
dân số, giáo dục, trẻ em cho biết: 56,4% cho rằng bạo lực gia đình có ảnh hưởng
xấu đến tâm lý con cái: 46,1% cho rằng bạo lực trong gia đình sẽ dẫn đến việc con
Page
12
P a g e | 13
cái dễ dàng sa vào các tệ nạn xã hội; 58,7% cho rằng có ảnh hưởng đến học hành
của con cái và 35,4% đồng ý với ý kiến cho rằng bạo lực trong gia đình có ảnh
hưởng đến cuộc sống của gia đình con cái sau này. Hầu hết các nhà nghiên cứu
cho rằng: trẻ từ nhỏ đã phải trải qua nhiều bất hạnh do bạo lực gia đình gây ra
thường có tính cách đặc biệt như thiếu tự tin, rụt rè, lo sợ, hay làm hư hỏng việc.
Một số lớn lâm vào cảnh lang thang, nghiện hút vào tù vì bạo hành có đến 10 -
20% nguyên nhân gây tổn hại đến sức khoẻ tâm thần của trẻ em có tính chất bẩm
sinh, di truyền, còn lại 2/3 là các yếu tố gia đình dẫn đến rối loạn hành vi chống
đối, tự sát, nghiện hút (báo Gia đình và Xã hội, số 165 (827) ra ngày 15/10/2005).
Ngoài ra hành động bạo lực của cha mẹ đối với con cái còn dẫn đến làm băng hoại
tình cảm mẫu tử, phụ tử: thứ nhất, trẻ mất niềm tin, sự an toàn và coi thường nhân
cách của cha mẹ khi các em là nạn nhân gián tiếp của bạo lực gia đình; thứ hai, trẻ
vừa bị đau đớn về mặt thể xác, vừa bị tổn thương về mặt tình cảm, trẻ có thể
hoảng sợ, chán ngán gia đình, thậm chí căm thù cha mẹ và muốn tìm con đường
khác đẻ thoát khỏi cuộc sống. Đôi khi các em là nạn nhân trực tiếp của bạo lực gia
đình.
Hậu quả bao lực gia đình đối với con cái. Trẻ em là những trẻ em phát bệnh trầm
cảm ở tuổi mới lớn. Khi nạn nhân bị bạo hành từ 5 trận đòn cay nghiệt, sẽ bị hụt
hẫng về tình cảm, mất đi sự thương yêu che chở của người thân. Đồng thời gia
tăng hiện tượng trẻ em có những hành vi lệch chuẩn, hướng ra đường phố, đi tìm
kiếm sự bù đắp về cả vật chất và tinh thần mà trẻ thiếu hụt trong gia đình. Theo
thống kê của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, cả nước có khoảng 50.000 trẻ
lang thang bởi vì lý do khác nhau, trong đó đáng chú ý có tới 40% trẻ lang thang
do gia đình tan vỡ, bất hạnh. Cảnh “không gia đình” khiến các em dễ bị bóc lột,
lạm dụng tình dục bị lôi kéo vào những hoạt động phi pháp và dễ bị tổn thương về
một việc gì khác. Sự bất bình đẳng giới trong xã hội phong kiến đã không cho
phép người phụ nữ được học tập và tham gia hoạt động xã hội, họ bị trói chặt bởi
đạo tam tòng (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Trong xã hội
phong kiến, người phụ nữ không bao giờ được phép cãi lại chồng và gia đình nhà
chồng nếu không sẽ bị coi là kẻ lăng loàn, không biết đạo làm vợ và sẽ bị đuổi về
Page
14
P a g e | 15
nhà cha mẹ đẻ. Ngược lại, người chồng lại hoàn toàn có quyền mắng chửi, đánh
đập, xâm phạm thân thể người phụ nữ khi không vừa ý. Điều này được sự đồng
tình của xã hội và sự thừa nhận của luật pháp phong kiến. Cho đến nay, sự bất
bình đẳng trong quan hệ giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai
dẳng ở nhiều lúc, nhiều nơi. Bạo lực gia đình vẫn được nhìn nhận như một vấn đề
riêng tư, là chuyện quá trình thường như cơm bữa. Mặc dù hiện nay chúng ta vẫn
đang hết sức cố gắng đấu tranh cho bình đẳng giới nhưng đây là một cuộc đấu
tranh rất lâu dài bởi lẽ, từ xưa đến nay, trong gia đình, quyền uy của người đàn
ông luôn cao hơn phụ nữ. Rất đông và thậm chí còn so sánh vợ với con theo nghĩa
cả hai đều cần sự dạy dỗ của người chồng: “Dạy con từ thuở còn thơ, Dạy vợ từ
thuở bơ vơ mới về”. Nhiều phụ nữ Việt Nam từ thuở nhỏ đã được dạy theo những
niềm tin như vậy nên họ chấp nhận bị chồng dùng bạo lực nếu họ có lỗi.
Phụ nữ Việt Nam do còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ nên đa
phần chỉ tập trung vào việc chăm sóc gia đình, chồng con, ít có cơ hội học tập
nâng cao trình độ và tham gia các hoạt động xã hội. Chính sự hạn chế về trình độ
của họ đă quy định địa vị kinh tế- xã hội của họ. Phần đông những người phụ nữ
là nạn nhân của bạo lực gia đình đều là những người phụ nữ phụ thuộc kinh tế vào
chồng, hoặc là không có thu nhập, hoặc là thu nhập rất thấp. Chính sự phụ thuộc
vào kinh tế đã tạo ra tâm lý lo sợ, không dám chống lại chồng ở người phụ nữ.
b) Nguyên nhân thứ hai, chúng ta biết rằng trong cuộc sống gia đình mỗi cá nhân
được bộc lộ rõ bản chất của mình, vì vậy sự mâu thuẫn giữa các thành viên, sự
bất đồng trong quan điểm, trong cách sống là không thể tránh khỏi.
Nguyên nhân tình trạng bạo lực của cha mẹ đối với con cái chủ yếu do nhận thức
sai lầm trong việc giáo dục con cái. Xuất phát từ quan niệm “yêu cho roi cho vọt”,
một số ông bố, bà mẹ đã sử dụng phương pháp cứng rắn trong giáo dục con,
không coi con cái mình như một thành viên của xã hội. Theo bài viết của Lê Thị
Quý trên báo Khoa học về phụ nữ, số 4/1994 đã viết “Với lối suy nghĩ bảo thủ:
“con tui, tui đẻ, tui nuôi, tui có quyền đánh” một số cha mẹ tự cho mình cái quyền
được dùng vũ lực để giáo dục con cái. Họ cứ tưởng rằng phải dùng đòn roi
nghiêm trị thì con cái mới nên người được”.
Page
16
P a g e | 17
Đi sâu vào nguyên nhân của bạo lực tình dục, nguyên nhân chủ yếu của nó là
quan niệm của người đàn ông coi phụ nữ như là một dạng tài sản của mình, do
những ham muốn dục vọng thấp hèn mà không hiểu rằng tình yêu phải dựa trên sự
tôn trọng. Thực tế trong cuộc sống vợ chồng sự không hoà hợp trong vấn đề “tế
nhị” này lại rất ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng và sự không hoà hợp đó cũng
là một trong những nguyên nhân chính của nạn bạo lực tình dục.
Bên cạnh đó cũng phải thấy được một nguyên nhân nữa của bạo lực gia đình là sự
suy thoái về đạo đức, cùng với bạo lực giữa vợ- chồng, là bạo lực giữa cha mẹ -
con cái (không chỉ có cha mẹ đánh con cái mà có cả con cái lớn đánh cha mẹ già),
anh chị em trong gia đình đánh nhau. Có thể nói rằng, sự suy thoái về các chuẩn
mực đạo đức, xuống cấp về nề nếp gia phong, thiếu tôn trọng lẫn nhau giữa các
thành viên trong gia đình là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến bạo lực gia đình.
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề bạo lực trong gia đình Việt
Nam hiện nay. Từ những nguyên nhân này chúng ta cần phải nhận thức được
rằng: có những giải pháp khắc phục nó là điều hết sức quan trọng và bức thiết.
2. Giải pháp
Mặc dù xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến song ngay từ
khi thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng mục tiêu giải phóng phụ nữ,
thực hiện nam nữ bình quyền bình đẳng. Điều này được thể hiện rõ trong các
là vấn đề “cá nhân” mà phải nhận thức đó là vấn đề xã hội và cần giải quyết nó
bằng các chính sách và luật pháp thích hợp.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi sự can thiệp của pháp luật thì nạn nhân của tình trạng
này phải nhận thức được rằng “sự im lặng tiếp tay cho bạo lực” (báo Giáo dục và
Xã hội số 163 ngày 11/10/2005). Họ phải lên tiếng tố cáo và tự giải thoát cho
mình bằng cách ly hôn trong cuộc hôn nhân mà bạo lực đã trở thành “căn bệnh vô
phương cứu chữa”.
Bên cạnh đó gia đình, cộng đồng và xã hội cần tạo điều kiện hơn nữa cho phụ nữ
phát triển. Bởi chúng ta hiểu rằng, sự tham gia ngày càng nhiều của nữ giới trong
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ để họ được bình đẳng như nam
giới trong quyết định phát triển và không còn phải lệ thuộc vào nam giới mà còn
tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có cơ hội học hỏi, nâng cao hiểu biết về văn
Page
18
P a g e | 19
hoá - xã hội và luật pháp, không còn sự mặc cảm, tự ty trước nam giới trong đời
sống xã hội.
b) Thứ hai, huy động cộng đồng tham gia giải quyết vấn đề bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình có nguyên nhân từ phía chính sách vì không ít người quan niệm
sai lầm rằng bạo lực là một cách để giải quyết mâu thuẫn và quan niệm rằng “đèn
nhà ai nhà nấy rạng”. Do vậy cần chỉ ra nhận thức đó là sai lầm, từ đó huy động
cộng đồng tích cực tham gia phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực gia đình thông qua
các mối quan hệ làng xóm láng giềng, tổ hoà giải, hội Phụ nữ và các tổ chức xã
hội khác.
Ở đây Hội phụ nữ, tổ hoà giải phải thường xuyên được nâng cao kỹ năng và kiến
thức về phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực gia đình. Trang bị kỹ năng cụ thể khi bạo
lực xảy ra, gồm cả sự tìm hiểu, giúp đỡ, tư vấn những nạn nhân bị bạo lực hành
hạ, đặc biệt đối với bạo lực không nhìn thấy.
c) Thứ ba, nhà nước cần phải có pháp lệnh phòng chống bạo lực gia đình
Để có được một pháp lệnh có tính pháp lý, khoa học cao và phản ánh đúng hiện
phải hiểu rằng dù bất kỳ trong hoàn cảnh nào mỗi gia đình phải giữ gìn chuẩn mực
đạo đức truyền thống, phải lao động tích cực, chăm lo, vun đắp những giá trị cao
quý, đảm bảo tính bền vững, ổn định.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 4/2003.
2. Tạp chí tâm lý học, số 5, 5-2003.
3. Tổng hợp Báo Gia đình và xã hội từ số 159 đến số 169, 2005
4. Báo Gia đình và xã hội, số 169, 22/10/2005
5. Tạp chí Lý luận chính trị, số 4- 2005
6. Báo Phụ nữ Việt Nam, số 83,9/7/2004
7. Bản báo cáo tóm tắt Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở
Việt Nam được Tổng cục thống kê Việt Nam và Liên Hợp Quốc” công bố
ngày 25/11/2010.
8. Xã hội học gia đình, Hà Văn Tác, Tp.HCM-2006
9. Một số trang báo mạng như : Giadinh.net.vn , />Page
20
P a g e | 21
CÁM ƠN ĐÃ THEO DÕI
Page
21