BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ
TRƢỜNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY
TNHH THƢƠNG MẠI HÙNG PHÁT
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN TUẤN VŨ
MÃ SINH VIÊN
: A16374
CHUYÊN NGÀNH
: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Một số giải pháp mở rộng trường nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH thương mại Hùng Phát”. Để hoàn
thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo của
trường Đại học Thăng Long nói chung và các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản
lý nói riêng, những người đã cung cấp cho em nền tảng kiến thức vững chắc, tạo tiền
đề cho em thực hiện bài khoá luận này. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô
giáo, Thạc sỹ Vương Thị Thanh Trì, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình
cho em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận. Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến
toàn bộ nhân viên Công ty TNHH thương mại Hùng Phát, đặc biệt là các anh, chị
trong phòng kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơ hội tìm hiểu công việc
và hoàn thành đề tài của mình.
Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Trần Tuấn Vũ
1.2.2.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường 18
1.2.2.2. Hoạt động dự báo thị trường 20
1.2.2.3. Hoạt động lựa chọn thị trường 21
1.2.2.4. Hoạt động thâm nhập thị trường 22
1.3. Vai trò và các yếu tố tác động đến hoạt động mở rộng thị trƣờng 22
1.3.1. Vai trò của hoạt động mở rộng thị trường 22
1.3.2. Yếu tố tác động đến hoạt động mở rộng thị trường 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG THỊ TRƢỜNG CỦA
CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI HÙNG PHÁT 28
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thƣơng mại Hùng
Phát 28
2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH thương mại Hùng Phát 28
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thương mại Hùng
Phát 28
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH thương mại Hùng Phát 29
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận 30
2.1.5. Doanh thu và lợi nhuận của Công ty TNHH thương mại Hùng Phát 31
2.2. Thực trạng hoạt động mở rộng thị trƣờng của Công ty TNHH thƣơng mại
Hùng Phát giai đoạn 2012 – 2013 32
2.2.1. Thực trạng nghiên cứu thị trường 33
2.2.2. Thực trạng dự báo thị trường 35
2.2.3. Thực trạng lựa chọn thị trường 37
2.2.4. Thực trạng thâm nhập thị trường 38
2.3. Các biện pháp hỗ trợ mở rộng thị trƣờng của Công ty TNHH thƣơng mại
Hùng Phát 39
2.3.1. Chiến lược thu thập thông tin, nghiên cứu, phân tích thị trường 39
2.3.2. Chiến lược phân phối, quảng cáo, marketing 40
2.3.3. Chiến lược về giá 42
2.3.4. Chiến lược về đối thủ cạnh tranh 43
2.4. Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động mở rộng thị trƣờng tại Công ty
Cán bộ công nhân viên CCDV
Cung cấp dịch vụ HĐMRTT
Hoạt động mở rộng thị trường HĐTV
Hội đồng thành viên HTK
Tài sản dài hạn VCSH
Vốn chủ sở hữu
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khái niệm thị trường qua 4 hình thái: 1
Các doanh nghiệp luôn luôn phải cạnh tranh gay gắt trong thị trường nội địa và thị
trường nước ngoài để tối đa hóa lợi nhuận, ngoài ra họ còn giành chỗ đứng và khẳng
định tầm nhìn chiến lược của mình. Mỗi doanh nghiệp đều biết rằng họ không thể phát
triển được nếu chỉ hoạt động tại một thị trường nhất định mà không vươn ra những thị
trường khu vực khác. Do đó hoạt động mở rộng thị trường là hoạt động rất quan trọng
đối với sự phát triển của mọi doanh nghiệp, nó cho thấy sức mạnh tài chính, vị thế và
mục đích chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh, thị trường được coi là một yếu tố quyết định sự
thành công hoặc thất bại của doanh nghiệp. Đối với tất cả các doanh nghiệp khi bước
chân vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc lựa chọn thị trường, xác định thị
trường từ đó đưa ra những chiến lược đúng đắn nhằm tìm cách chiếm lĩnh thị trường là
một vấn đề hết sức quan trọng. Trước ngưỡng cửa của hội nhập, đất nước mới mở cửa,
các doanh nghiệp Việt Nam là những doanh nghiệp trẻ vươn ra thị trường thế giới rộng
lớn dựa vào những thế mạnh tiềm lực vốn có của mình với mục tiêu là năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế xã hội, làm giàu cho mình và làm giàu cho đất nước. Thị
trường thế giới thật là rộng lớn, cùng với xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng nhanh,
thị trường quốc gia đang dần bão hoà ngày càng trở nên nhỏ bé đối với một doanh
nghiệp. Vì thế, tất cả các doanh nghiệp đều muốn mở rộng thị trường kinh doanh của
mình vượt qua khỏi biên giới quốc gia vươn ra thị trường thế giới để hoạt động kinh
doanh quốc tế. Và trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều các doanh nghiệp thành công
và tạo nên những nhãn hiệu, những sản phẩm nổi tiếng toàn cầu nhờ những hoạt động
mở rộng thị trường hiệu quả.
Việt Nam có diện tích rừng khoảng 10.915.592 triệu héc – ta (ha), trong đó có
khoảng 1.471.394 triệu héc – ta rừng được phép khai thác có điều kiện trong hạn mức
15% mỗi năm, số còn lại diện tích rừng trồng. Với diện tích rừng rộng lớn và sản
lượng khai thác gỗ lớn, Việt Nam có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế
nghành lâm nghiệp, đồng thời phát triển giao lưu và hợp tác thương mại sản phẩm đồ
gỗ với quốc tế. Hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng hóa và sản phẩm đồ gỗ, mỹ nghệ
động sản xuất kinh doanh cho Công ty. Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, kết luận thì
kết cấu nội dung của bài khóa luận bao gồm:
Chƣơng 1: Tổng quan chung về thị trƣờng và hoạt động mở rộng thị trƣờng
trong doanh nghiệp
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trƣờng của Công ty TNHH thƣơng
mại Hùng Phát
Chƣơng 3: Một số giải pháp mở rộng thị trƣờng nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh tại Công ty TNHH thƣơng mại Hùng Phát
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG MỞ
RỘNG THỊ TRƢỜNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và vai trò của thị trƣờng đối với doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về thị trường
1.1.1.1. Khái niệm thị trường theo quan điểm truyền thống
Từ xưa đến nay, khi xã hội nguyên thủy tan rã thì bất cứ một xã hội nào muốn
tồn tại và phát triển đều có một đặc điểm chung đó là hình thành mối quan hệ trao đổi
hàng hóa, công cụ lao động hay sản phẩm tiêu dùng. Bắt nguồn từ những mối quan hệ
trao đổi đơn thuần đến những mối quan hệ trao đổi phức tạp đã dần dần hình thành nên
(Nguồn: diendankinhte.com)
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy rằng khái niệm thị trường trải qua 4 hình thái và bắt đầu từ
hình thái trao đổi đơn giản ngẫu nhiên đến hình thái trao đổi mở rộng, tiếp đến là hình
thái giá trị chung và cuối cùng là hình thái tiền tệ. Để làm rõ về 4 hình thái này, chúng
ta cùng đi sâu vào tìm hiểu và phân tích lần lượt theo thứ tự trên sơ đồ:
Hình thái trao đổi đơn giản ngẫu nhiên: Đây là hình thái phôi thai của giá trị,
nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, khi trao đổi mang tính chất
ngẫu nhiên, người ta trực tiếp trao đổi vật này lấy vật khác.
1
VD: 1 con gà = 1 mét vải
Tuy là hình thái đơn giản nhưng nó lại thể hiện 2 vấn đề: hình thái tương đối và hình
thái ngang giá. Hình thái tương đối là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa được chủ
động đem ra trao đổi, đặt quan hệ so sánh với hàng hóa khác, dựa vào hàng hóa đó để
đo lường giá trị của nó, trong ví dụ nêu trên thì (1 con gà) chính là hình thái giá trị
tương đối. Hình thái ngang giá là hình thái của hàng hóa được đặt trong mỗi quan hệ
trao đổi để đo lường giá trị, biểu hiện giá trị của hàng hóa khác, trong ví dụ trên thì (1
mét vải) chính là hình thái ngang giá). Hai hình thái này là 2 mặt liên quan đến nhau
và không thể tách rời đồng thời là hai cực trong một phương trình giá trị. Trong hình
thái trao đổi đơn giản ngẫu nhiên thì tỉ lệ trao đổi chưa cố định, hình thái trao đổi mở
rộng xuất hiện.
Hình thái trao đổi mở rộng: Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau khi phân
công lao động thứ nhất xảy ra, trao đổi diễn ra nhiều hơn và một hàng hóa có thể liên
quan đến nhiều loại hàng hóa khác.
VD: 1 con gà = 1 mét vải = 0,1 chỉ vàng = 20kg thóc
Tuy nhiên ở hình thái trao đổi trực tiếp này thì tỉ lệ trao đổi cũng chưa cố định. Người
ta có thể lấy bất kì hàng hóa nào để làm thước đo tỉ lệ cho việc trao đổi hàng hóa khác,
điều này dẫn đến sự bất đồng, khó khăn trong trao đổi hàng hóa vì mỗi khu vực lại sử
1 KRW = 18,95 VND
1 EUR = 28617 VND
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì việc quy đổi tiền ra ngoại tệ rất quan trọng và
thường xuyên diễn ra trong các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các nước
với nhau và giữa các khu vực với nhau trên toàn thế giới.
1.1.1.2. Khái niệm thị trường theo quan điểm hiện đại
Vào những năm 50 của thế kỉ 18 xã hội loài người ngày càng phát triển thì sự
phân công lao động xã hội diễn ra mạnh mẽ, hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa
phát triển, quan hệ mua bán trao đổi giữa con người, các khu vực, quốc gia diễn ra
phong phú, phức tạp hơn. Khái niệm thị trường đã được các nhà kinh tế học hiện đại
đặt nền móng, điển hình là Adam Smith, David Ricardo, Thomas Malthus, Philip
Kotler nhìn nhận theo góc độ vĩ mô nền kinh tế như sau:
Theo quan niệm kinh tế học hiện đại của Adam Smith năm 1776: Thị trường
là một quá trình mà người mua, người bán tác động qua lại nhiều lần với nhau để xác
định giá cả và lượng hàng mua bán.
Theo định nghĩa của Hiệp hội quản trị Hoa Kỳ: Thị trường là tổng hợp các
lực lượng và các điều kiện trong đó người mua và người bán thực hiện quyết định dịch
chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người bán sang người mua.
3
Ngoài ra còn các khái niệm thị trường khác:
Theo quan điểm Marketing của Philip Kotler: Thị trường bao gồm tất cả
khách hàng tiềm năng cùng một nhu cầu, mong muốn cụ thể và sẵn sàng có khả năng
tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Như vậy, theo quan điểm Marketing, khái niệm thị trường hiện đại chỉ hướng vào
người mua chứ không phải người bán, cũng không phải địa điểm hay lĩnh vực như các
4
là thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán mà
thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, thị trường còn kiểm
nghiệm, kiểm tra quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán đó. Thông qua chức năng
thừa nhận của thị trường các hàng hóa hình thành nên các chức năng trao đổi giá trị, cơ
cấu sản phẩm, các quan hệ tỉ lệ về kinh tế trên thị trường.
Chức năng thực hiện: Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị
trường. Thực hiện hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính quyết định với việc thực
hiện các quan hệ khác. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hóa
hình thành lên các giá trị trao đổi của mình. Giá trị trao đổi là cơ sở hình thành nên cơ
cấu sản phẩm, quan hệ tỉ lệ kinh tế thị trường.
Chức năng điều tiết, kích thích nền kinh tế: Nhu cầu của thị trường là mục đích
của quá trình sản xuất, thị trường là tập hợp các hoạt động theo quy luật kinh tế thị
trường. Do đó, thị trường vừa là mục tiêu, vừa tạo ra động lực để thực hiện các mục
tiêu đó. Đó là cơ sở quan trọng để chức năng điều tiết và kích thích thị trường phát
huy, thể hiện. Thông qua nhu cầu thì người sản xuất chủ động di chuyển tư liệu lao
động, vốn, lao động từ nghành này sang ngành khác, từ sản phẩm này sang sản phẩm
khác để đạt được lợi nhuận. Dựa vào hoạt động quy luật của thị trường, người sản xuất
sẽ có lợi thế cạnh tranh nếu tận dụng được những điểm mạnh của mình. Ngược lại
những người chưa tạo lên lợi thế cạnh tranh thì sẽ vươn mình tránh khỏi tình trạng phá
sản.
Chức năng thông tin xã hội: Thị trường thông tin về tổng cung và cầu, cơ cấu
cung và cầu từng hàng hóa, giá cả thị trường, chất lượng sản phẩm, hướng vận động
của hàng hóa, các quan hệ tỷ lệ sản phẩm…Thông tin thị trường rất quan trọng đối với
quản lí kinh tế, muốn ra được quyết định thì phải nắm rõ được thông tin thị trường, vì
nó là thông tin khách quan, được cả xã hội thừa nhận.
không đồng nhất thì chia ra thành những thị trường khác nhau, công dụng và đặc điểm
khác nhau, ví dụ như thị trường xe máy, thị trường ô tô, thị trường xe đạp…
Dựa vào trở ngại ra nhập thị trường: rào cản gia nhập thị trường cao hay là
thấp đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ
khác để đứng vững trên thị trường được không hay là nên rút lui khỏi thị trường này.
Có rất nhiều rào cản mà doanh nghiệp phải đối mặt khi bước chân vào thị trường, ví dụ
như: rào cản về tài chính bao gồm các chi phí đầu tư sản xuất và phân phối, xúc tiến
thương mại, thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu, hạn nghạch…
Trên góc độ kinh tế vĩ mô thì thị trường được phân loại thị trường dựa trên những tiêu
thức sau:
Dựa vào vị trí địa lí của lưu thông hàng hóa và dịch vụ để phân thành: thị
trường trong nước và thị trường nước ngoài. Mỗi doanh nghiệp sau khi phân loại được
thị trường trong nước và thị trường nước ngoài thì họ sẽ hiểu rõ hơn về nhu cầu, thị
hiếu, mức độ tiêu dùng của khách hàng, dựa vào đó để lên kế hoạch sản xuất tiêu thụ
hàng hóa trong tương lai
Dựa trên góc độ chuyên môn hóa sản xuất và kinh doanh chia thành: Thực tế
cho thấy mỗi một doanh nghiệp chỉ tập trung chuyên môn vào một dòng sản phẩm
6
nhất định của mình để cung cấp cho thị trường bên ngoài, ví dụ thị trường hàng công
nghiệp thì doanh nghiệp sẽ cung cấp các sản phẩm dệt may, cơ khí, xây lắp, khí hóa tự
động…, thị trường hàng nông nghiệp thì doanh nghiệp sẽ tập trung cung cấp sản phẩm
nông nghiệp như rau, củ, quả, phân bón, thuốc trừ sâu…, thị trường hàng lâm nghiệp
thì có đồ gỗ, nội thất…, thị trường thủy sản thì có tôm, cua, cá, mực….
Dựa trên quá trình sản xuất phân thành: Thị trường nguyên liệu bao gồm
những nguyên liệu đầu vào để sản xuất sản phẩm cung ứng ra thị trường, thị trường
phân đoạn khác biệt và đồng nhất để doanh nghiệp dễ dàng thu hẹp được thị trường
mục tiêu, năm bắt được thị hiếu cũng như nhu cầu của khách hàng hiện tại cũng như
trong tương lai nhằm mục đích đáp ứng, phục vụ kịp thời.
Tóm lại: phân đoạn thị trường giúp doanh nghiệp chủ động phân khách hàng theo
những dấu hiệu nhất định, nhận biết rõ nhu cầu của khách hàng, tập trung phục vụ một
bộ phận khách hàng cụ thể mang đến hiệu quả cho doanh nghiệp vì nguồn lực của họ
là có hạn. Do vậy trước khi sản xuất một hàng hóa nào đó thì doanh nghiệp đầu tiên là
phải phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và từ đó tạo ra đặc tính đặc thù
cho hàng hóa đó để phục vụ cho khách hàng mà họ đã lựa chọn.
Tiêu thức phân đoạn thị trường
Hiện nay không có một cách duy nhất nào cho việc phân đoạn một thị trường.
Mỗi doanh nghiệp đều phải thử nhiều phương pháp phân đoạn khác nhau, áp dụng
riêng lẻ hoặc phối hợp, để mong tìm ra một cách nhìn chính xác về cơ cấu thị trường.
Những tiêu thức phân đoạn thị trường phổ biến như: phân đoạn thị trường theo địa lý,
phân đoạn thị trường theo dân số, phân đoạn thị trường theo tâm lý và thái độ ứng xử.
Phân đoạn theo tiêu thức địa lý: Phương pháp này đòi hỏi chia thị trường thành
những đơn vị địa lý khác nhau như quốc gia, khu vực, thành phố, hay các vùng lân
cận. Doanh nghiệp sẽ quyết định hoạt động trong một hay vài đơn vị địa lý đó, hoặc
hoạt động trong mọi đơn vị nhưng có quan tâm đến những khác biệt trong sở thích và
nhu cầu địa phương. Ở đa số các quốc gia đều có đặc điểm địa lý riêng biệt mà hình
thành nên thị trường, ví dụ Việt Nam dựa vào tiêu thức vùng miền chia thành thị
trường: thị trường miền Bắc, thị trường miền Nam, thị trường miền Trung. Khí hậu ở
Việt Nam rất đa dạng và phong phú, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận nhiệt xích đạo
do vậy thị trường cũng được phân theo vùng khí hậu khác nhau để đáp ứng nhu cầu
khác nhau của người tiêu dùng. Ví dụ như thị trường cây ăn quả ở khu vực cận nhiệt
xích đạo (miền Nam) sẽ có những loại quả đặc trưng như: mãng cầu, sầu riêng, chôm
chôm, dâu tây… Còn thị trường cây ăn quả ở khu vực nhiệt đới gió mùa (miền Bắc)
thành những nhóm dựa trên kiến thức, thái độ, tình trạng sử dụng (không sử dụng, đã
từng sử dụng, sử dụng lần đầu, sử dụng thường xuyên), mức độ sử dụng, hoặc phản
ứng trước sản phẩm. Các doanh nghiệp tin rằng các yếu tố dễ thay đổi về hành vi ứng
xử là khởi điểm tốt nhất để hình thành các phân đoạn thị trường.
Kĩ thuật phân đoạn thị trường
Dựa vào các tiêu thức ở trên ta có thể phân đoạn thị trường theo những kĩ thuật
sau:
Bước 1: Chọn những tiêu thức điển hình nhất, những tiêu thức này đảm bảo sự ổn định
cao trong nhu cầu của khách hàng, nhu cầu đó ít khi bị thay đổi.
Bước 2: Xác định rõ phạm vi tiêu thức, mỗi tiêu thức có phạm vi và nhu cầu khác nhau
đối với từng loại khách hàng khác nhau
Bước 3: Phối hợp các tiêu thức, dùng nhiều tiêu thức hỗ trợ lẫn nhau để tìm ra được thị
trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu nhắm đến
Phương pháp phân đoạn thị trường
Dựa vào các kĩ thuật ở trên ta có thể đưa ra những phương pháp phân đoạn thị
trường phổ biến nhất:
9 Phương pháp tập hợp: Đối với phương pháp này người ta sẽ lập một nhóm các
cá thể trong cùng thị trường có biểu hiện giống nhau về đặc điểm tiêu dùng hay nhu
cầu, dựa vào đó để tiến hành phân đoạn thị trường. Ví dụ ở Việt Nam thì nhu cầu đi xe
máy tăng rất cao, hầu hết gia đình nào ở Việt Nam cũng sử dụng xe máy, nhưng thị
trường miền Bắc hãng xe Honda được người dân ưa chuộng, ngược lại ở miền Nam
hãng xe Yamaha lại người dân được ưa chuộng, do vậy doanh nghiệp xe máy Honda
thường có nhiều đại lí phân phối, sửa chữa, bảo hành ngoài miền Bắc và ngược lại
doanh nghiệp Yamaha cũng có đại lí phân phối, sửa chữa, bảo hành tại miền Nam.
thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế. Tuy nhiên nếu hệ thống pháp luật không hoàn
thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh gây khó khăn trong
10
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra đối với các doanh
nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của
pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp lý mang
lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể đến từ những quy định
pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh.
Môi trường kinh tế: Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của
tất cả các nhà quản trị. Sự tác động của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực
tiếp, những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và
đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh
hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp. Nếu nền kinh tế ở giai đoạn có
tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu
dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh, gây nên chiến tranh giá cả trong ngành.
Yếu tố lạm phát cũng là 1 nhân tố quan trọng cần phải xem xét và phân tích, lạm phát
cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế. Khi lạm phát quá cao sẽ
không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư cuả các doanh
nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Việc
duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế,
kích thích thị trường tăng trưởng. Thêm vào đó các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ
với các ngành được cụ thể hoá thông qua luật thuế, sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc
mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm
cho mức chi phí hoặc thu nhập của doanh nghiệp thay đổi.
Môi trường văn hóa – xã hội: Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những
chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền
công nghệ tăng nhanh, điều này yêu cầu doanh nghiệp phải đổi mới liên tục nếu không
sẽ bị tụt hậu với những đối thủ khác.
Môi trường tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh
quan thiên nhiên; đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất,
tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường, nước và không khí, Có thể nói
các điều kiện tự nhiên luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của con
người (đặc biệt là các yếu tố của môi trường sinh thái), mặt khác nó cũng là một yếu tố
đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệp
khai khoáng, du lịch, vận tải. Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên
trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm
và dịch vụ.
Tóm lại: Môi trường vĩ mô là những môi trường bên ngoài doanh nghiệp có tầm bao
quát lớn đối với cả nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng và nó có ảnh
hưởng gián tiếp đến các doanh nghiệp. Khi bước vào kinh doanh sản xuất, mỗi doanh
nghiệp cần hiểu rõ và đáp ứng được yêu cầu mà môi trường vĩ mô đề ra là sẽ đi đúng
xu hướng của nền kinh tế cả nước cũng như toàn khu vực. Doanh nghiệp nào càng
nghiên cứu kĩ môi trường vĩ mô thì sẽ có lợi thế so với đối thủ cạnh tranh của mình.
1.1.3.2. Môi trường vi mô
Môi trường vi mô là những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, nó có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển, ổn định lâu dài của doanh nghiệp. Môi trường vi mô bao
12
gổm những nhân tố: Đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng, khách hàng, các trung gian
marketing.
Đối thủ cạnh tranh: Trong nhóm đối thủ cạnh tranh sẽ đề cập đến 2 nhóm : đối
thủ cạnh tranh tiềm ẩn, đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Galaxy tương ứng. Điển hình sắp tới đây khi mà SamSung cho ra mắt Galaxy S5 thì
13