bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động việc làm ở ninh bình - Pdf 24

GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triểnPHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong sự phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một đất nước phát triển khi biết phát huy
những khả năng của lao động nói chung và của phụ nữ nói riêng, trân
trọng thành quả lao động mà họ mang lại, công nhận những đóng góp của
phụ nữ và nam giới như nhau. Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội điều này
chưa được nhận thức đúng đắn, đặc biệt là những nước đang phát triển.
Từ đó đã gây nên tình trạng không bình đẳng trong lĩnh vực lao động –
việc làm giữa nam và nữ. Việt Nam cũng không ngoại lệ khi rơi vào hoàn
cảnh này. Nó đã có những tác động tiêu cực đến sự phát triển lâu dài và
để lại những hệ lụy không nhỏ trong xã hội.
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã triển khai hàng loạt những chính
sách, bộ luật góp phần thay đổi suy nghĩ, nhận thức của người dân và
nâng cao vai trò của phụ nữ, giúp họ phát huy những khả năng vốn có,
trau dồi kiến thức để xã hội phát triển. tuy nhiên, để làm được điều này
phải có trình tự, hệ thống, kiên trì, cố gắng và quan tâm của các ban
ngành đoàn thể. Có như thế mới đảm bảo quyền con người được áp dụng
triệt để và là nền tảng cho sự phát triển công bằng và hiệu quả.
Phụ nữ đã và đang khẳng định được khả năng, vai trò, địa vị của
mình trong xã hội, đặc biệt là họ đã làm chủ được cuộc sống của mình
khi họ có thể vừa là một người phụ nữ Việt Nam truyền thống, vừa có thể
lao động – làm việc để khẳng định vai trò của mình. Nhưng hiện nay, còn
rất nhiều nguyên nhân đã kìm hãm sự phát triển, đảm bảo quyền bình
đẳng của con người mà cụ thể là phụ nữ. Để giải quyết tình trạng này,
không chỉ cần sự cố gắng từ phụ nữ, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
mà còn cần xã hội thay đổi suy nghĩ, nhận thức về vấn đề này. Đồng thời
cần những biện pháp, khuyến nghị để có sự bình đẳng trong lao động

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 2
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM.
1.1.Bình đẳng.
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có sự công bằng về
quyền lợi, trách nhiệm và bình đẳng về tiếp cận cơ hội và ra quyết định. Tức
là nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng
và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia,
đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển;
được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành
quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội và quyết định cuộc sống của
mình
Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò
của nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự
tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỉ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính
trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc
biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo
cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển tòan diện về mọi mặt. Đồng thời
tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang
thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại.
1.2. Giới.
Giới (Gender): Là sự khác biệt về nữ giới và nam giới xét về mặt xã
hội. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến các quan niệm, thái độ, hành vi,
các mối quan hệ và tương quan về địa lý xã hội về nữ giới và nam giới trong
một bối cảnh cụ thể
3

tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc
làm.
Hiểu một cách nôm na thì việc làm chính là sự kết hợp giữa sức lao
động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích
của con người.
4

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 4
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

Mọi hoạt động lao động là tất cả các hoạt động tạo ra các giá trị vật
chất, tinh thần cho xã hội. Những hoạt động lao động này phải tạo ra nguồn
thu nhập và không bị pháp luật cấm. Đây cũng chính là sự khác nhau giữa
lao động và việc làm. Lao động được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả
lao động tạo ra nguồn thu nhập và lao động không tạo ra nguồn thu nhập
như lao động công ích, các hoạt động từ thiện, các sáng tạo nghệ thuật
không nhằm mục đích tạo ra thu nhập. Còn việc làm thì phải tạo ra thu nhập
cho người lao động.
Khái niệm này đã cho phép người lao động và người sử dụng lao động
có thể tạo ra nhiều việc làm phong phú và đa dạng.
1.5. Bình đẳng giới trong lao động – việc làm.
Là sự công bằng giữa nam giới và nữ giới về quyền lợi, vị trí, trách
nhiệm, tiếp cận cơ hội và ra quyết định trong quá trình tạo ra các giá trị vật
chất, tinh thần
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.
Định kiến giới: Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực
về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ ( Luật bình đẳng giới).
Giá trị giới: Là các ý tưởng mà mọi người nghĩ nữ và nam nên như
thế nào và hoạt động nào mà họ nên làm.
Nhu cầu giới: là nhu cầu của giới nam hoặc giới nữ, nó có thể là những

Thu nhập: Là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã
bỏ ra. Loại thu nhập này lại gồm thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương
bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp bao gồm cả học bổng) và thu nhập
tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu từ cho thuê bất động
sản) và các thu nhập khác (tiền thưởng, )
3. VAI TRÒ CỦA ĐỀ TÀI.
Đối với Việt Nam, lao động nữ luôn là nguồn nhân lực to lớn góp
phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội đất nước trong thời kỳ đổi mới. Nhờ những thành tựu nổi bật về
kinh tế - xã hội, những chính sách đúng đắn, những cam kết, luật về quyền
con người, Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện một hệ thống chính sách
xã hội công bằng, tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều
kiện và cơ hội cho mọi người, đặc biệt là phụ nữ. Thực tế cho thấy, phụ nữ
Việt Nam thực sự được giải phóng, tiềm năng lao động nữ được phát huy và
vị thế người phụ nữ ngày càng được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên
cạnh những thuận lợi, cơ hội, lao động nữ cũng đang có những khó khăn,
thách thức, nhất là trong lĩnh vực lao động – việc làm.
6

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 6
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ phụ thuộc vào mức độ ảnh
hưởng từ những tư tưởng định kiến giới trọng nam khinh nữ trong xã hội,
quan điểm văn hóa truyền thống mà còn phụ thuộc vào nỗ lực của nhà nước
trong việc cải thiện sự bất bình đẳng giới. Điều đó dẫn đến sự hạn chế các cơ
hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục và đào tạo, việc lựa chọn ngành nghề, cơ
hội nâng cao trình độ chuyên môn, vị trí và cải thiện vị thế của họ trong lĩnh
vực kinh tế. Để giải quyết tình trạng này, phải có những biện pháp phù hợp,
tích cực để phụ nữ và nam giới đều được hưởng những lợi ích cũng như cơ

Chúng ta đều thừa nhận rằng việc xúc tiến sự bình đẳng giữa nam và
nữ sẽ đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho tất cả mọi người, đem lại
lợi ích cho toàn xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị
và công bằng xã hội. Chính phủ Việt Nam đã, đang và sẽ cố gắng làm tốt
mục tiêu này. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng và Nhà nước
đã đạt được cùng những lợi ích mà mọi nguời được hưởng, đặc biệt là phụ
nữ khi áp dụng những chính sách bình đẳng giới, đó là thành quả, công lao
đáng được ghi nhận và phát huy.
8

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 8
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong xã
hội, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Thực hiện bình đẳng giới đã giúp họ
thoát khỏi hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: cam chịu, là
người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc các thành viên trong gia
đình, đồng thời là người làm việc nhà là chủ yếu. Ngày nay, họ được tham
gia vào các lĩnh vực quan trọng như chính trị, giáo dục, y tế và đặc biệt là
trong lĩnh vực lao động – việc làm, họ đã làm chủ được cuộc sống của mình
khi là những người góp phần tạo ra thu nhập và tiếng nói của họ đã có trọng
lượng hơn trong gia đình, xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tế phụ nữ vẫn chưa đạt được bình đẳng thực sự
trong việc tiếp cận các cơ hội và đối xử trong công việc. Đây thực sự là một
vật cản lớn, hạn chế cơ hội, khả năng phát huy năng lực của phụ nữ, kìm
hãm sự sáng tạo trong công việc của họ. Nó còn là căn nguyên của đói
nghèo, bất bình đẳng trong xã hội, gây nên tình trạng bạo hành gia đình. Một
khi vấn đề này chưa được giải quyết thì bình đẳng thực sự trong xã hội chưa
thể đạt được như mong muốn, quyền con người chưa được thực hiện một
cách tối đa.


Đội ngũ cán bộ, công chức tăng về số lượng và chất lượng, nhiều chị
đã được bổ nhiệm, đề bạt, giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan
hành chính nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương.
Số lượng cán bộ, công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà
nước, từ cấp huyện, tới trung ương chiếm khoảng 3,10%, trong đó, nữ lãnh
đạo chiếm khoảng 18,4%, phụ nữ ngày càng có cơ hội bình đẳng với nam
giới trong việc xây dựng và thực hiên quy định, quy chế của cơ quan, tổ
chức. Ở cấp xã, cán bộ chuyên trách nữ chiếm 16,27% trong tổng số cán bộ
chuyên trách. Nam giới và phụ nữ đã cùng bình đẳng trong tham gia xây
dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.
Tuy nhiên, kết quả tổng hợp báo cáo và khảo sát thực tế cho thấy, vẫn
còn tồn tại khoảng cách về giới trên lĩnh vực này, hầu hết nam giới giữ vị trí
lãnh đạo, có vùng tỷ lệ nữ dưới 10%. Tỷ lệ nữ ở khu vực đặc biệt khó khăn
tham gia HĐND cấp huyện và xã thấp hơn nhiều so với bình quân của toàn
quốc (6-7%, có vùng 12%).
2.1.2. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo.
Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trong
nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn. Tỷ lệ phụ nữ so với nam giới
trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể. Chênh lệch về tỷ lệ học sinh
nam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp: Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi
từ 15 đến dưới 40 bị mù chữ đã giảm dần qua các năm, tỷ lệ đi học cấp tiểu
học của cả nước hiện nay đạt rất cao, năm học 2009 – 2010, tỷ lệ này đạt
100%. Tỷ lệ học sinh nữ cấp tiểu học trong tổng số học sinh hiện ở mức từ
47% đến xấp sỉ 49%, học sinh dân tộc cấp tiểu học cả nước đạt 17,82%. Về
cơ bản, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp
học trước năm 2015. Có 4 loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành
cho người lớn, trong đó có phụ nữ. Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội
học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước.
Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc

bị buộc nghỉ học cao hơn bé trai khi điều kiện gia đình khó khăn.
2.1.3. Trong lĩnh vực kinh tế và lao động.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ phụ nữ trong tổng số lao động có việc
làm là 49,4% so với tỷ lệ 50,6% của nam giới, tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham
gia hoạt động kinh tế ở mức gần bằng nhau với 83% của phụ nữ so với mức
85% của nam giới. Lao động nữ đã tham gia ngày càng nhiều trong khu vực
phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành và lĩnh vực kinh tế có yêu cầu kỹ
thuật, công nghệ cao và khu vực dịch vụ, khu vực kinh tế phi chính thức. Tỷ
lệ lao động nữ đã chiếm trên 46% trong số người làm công ăn lương trong
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh so với 54% của nam giới; hơn 41% số chủ
cơ sở sản xuất kinh doanh là nữ so với 59% nam giới. Tỷ lệ lao động nữ
tham gia xuất khẩu lao động hàng năm chiếm khoảng 33 – 34%. Sau khi có
luật đất đai sửa đổi năm 2003, đã có gần 90% giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cấp mới có tên cả vợ và chồng. tạo thuận lợi cho phụ nữ bình
12

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 12
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

đẳng với nam giới trong việc thế chấp vay vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh
doanh
Tuy nhiên, do tình trạng mù chữ và tái mù chữ, rất ít phụ nữ sinh sống
trong các bản làng dân tộc thiểu số tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh,
hoặc làm việc trong các nhà máy, hay trở thành công chức Nhà nước. Tỷ lệ
phụ nữ vùng dân tộc thiểu số có việc làm rất thấp, lao động nữ làm nông
nghiệp là chủ yếu. Lao động nữ trong mọi loại hình doanh nghiệp đều có
mức lương cơ bản thấp hơn so với lao động nam, chiếm khoảng 68% lương
cơ bản của lao động nam, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao, khoảng 5,8%…
2.1.4. Trong lĩnh vực y tế.
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai trên 3 lần đạt tỷ lệ khá cao. Tỷ

vàng, 30 huy chương bạc và 22 huy chương đồng. Hầu hết các môn thi đấu
tại AIG 3 đều có sự góp mặt của các vận động viên nữ. Trong tổng số 8 vận
động viên của Việt Nam được ghi nhận phá kỷ lục tại SEAGAME 25 và AIG
3 có sự góp mặt của 2 nữ vận động viên do những thành tích xuất sắc mà các
chị đã đạt được.
Hiện nay, phụ nữ được giao lưu, tiếp xúc, gặp gỡ với bên ngoài để mở
mang kiến thức, hoàn thiện bản thân…tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều hạn chế
trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, do sự chênh lệch về điều kiện sống mà tỷ lệ
phụ nữ ở thành thị được tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng cao
hơn phụ nữ ở nông thôn ( 38,3% phụ nữ thành thị được tiếp cận 3 loại hình
cơ bản của truyền thông: tivi, đài, báo in) nhưng tỷ lệ này ở nông thôn chỉ có
15,5%.
2.1.6. Trong gia đình.
Hiện nay, vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các
quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình, có quyền, nghĩa vụ ngang
nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập
chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình. Đồng thời
bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện
pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con
ốm theo quy định của pháp luật. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc,
giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và
phát triển.
Tuy nhiên, vẫn còn nạn bạo hành trong gia đình, phụ nữ bị buôn bán
điều này thể hiện rõ trong chính sách xây dựng nhà tạm lánh của Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam cho những nạn nhân của bạo lực gia đình, bị buôn
bán. Hiện nay, cả nước có 10 nhà tạm lánh, trong đó có 2 nhà dành cho nạn
nhân của bạo lực gia đình và con cái của họ (tại Hà Nội và Huế), số còn lại
là dành cho phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân bị buôn bán trở về (tại Hà Nội,
Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, An Giang, Cần Thơ và Tp. Hồ Chí Minh).
Các nhà tạm lánh là nơi giúp cho phụ nữ và trẻ em gái có thể tiếp cận các

trong đó 62% lao động nữ cho rằng làm việc nhà cũng là một nghề nghiệp,
trong khi chỉ có 32.2% tự xác nhận là chủ sử dụng lao động; số lao động là
nông dân làm việc tự do ở nam chiếm 54%, trong khi đó ở lao động nữ là
61%; số lao động nam được trả công cũng cao hơn phụ nữ: 37% lao động
nam được trả công, trong khi đó phụ nữ chỉ có 28%; nếu có 30% lao động
nam làm việc trong khu vực chính thức thì phụ nữ chỉ xấp sỉ 20%; 17% lao
động nam và 21% lao động nữ là lao động tự do trong các ngành kinh tế phi
nông nghiệp. Theo kết quả Điều tra lao động và việc làm 1/9/2009, tỷ số
15

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 15
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

việc làm trên dân số thành thị là thấp hơn so với nông thôn khoảng 10%.
Điều này có thể dễ lý giải bởi ở nông thôn có nhiều ngành nghề thủ công
nghiệp, chăn nuôi, trồng lúa…nên người dân ở đây sẽ có nhiều việc làm hơn
lao động thành thị.
Phụ nữ Việt Nam hiện nay đang phải chịu áp
lực lớn khi vừa phải cân đối giữa công việc và
trách nhiệm gia đình. Khi phụ nữ đã dành quỹ
thời gian cho công việc kiếm sống tương
đương với nam giới. Ngoài ra, họ còn phải
làm việc nhà, chăm sóc các thành viên trong
gia đình vì vậy kéo dài thời gian làm việc nhà
từ 1,5 – 3 giời mỗi ngày, hoặc từ 9 – 15 giờ/
tuần trong khi nam giới chỉ dành 12 phút/ngày
cho công việc này. Theo số liệu điều tra mức
sống hộ gia đình Việt Nam, lao động nữ cũng phải làm việc nhà với thời
lượng gấp đôi nam giới, và điều này cũng khớp với mức bình quân chung
của phụ nữ ở độ tuổi 25- 64, phụ nữ dành 700 giờ/ năm cho lao động tại nhà,

(41.66%) hoặc quản lý doanh nghiệp 20.83%.
Cơ cấu lao động cũng có sự khác biệt rõ ràng, số lao động đang làm
việc trong cá thể chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các thành phần kinh tế trong
đó nam là 67.8%, nữ chiếm tỷ trọng cao hơn với 75.2%. Thấp nhất là lao
động trong vốn đầu tư nước ngoài, tuy cơ cấu của nam gần gấp đôi nữ
nhưng đều chiếm tỷ trọng thấp với 9% của nam và nữ là 5.3%.
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện số lao động trong các thành phần
kinh tế năm 2009
Nam Nữ

Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy được sự chênh lệch về giới trong các
thành phần kinh tế khá rõ: nam giới trong thành phần kinh tế trong kinh tế
tập thể nam chiếm 9%, trong khi đó nữ chỉ 5.3%, vậy là số lao động nam
trong thành phần kinh tế tập thể gần gấp đôi lao động nữ; thành phần kinh tế
17

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 17
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

tư nhân cũng vậy, nam chiếm 9.7% nhưng nữ chỉ chiếm 6.2%; tuy nhiên, số
lao động trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nữ lại chiếm ưu
thế với 3.8% trong khi đó nam có 2.0%. Nhìn chung, đang có sự thay đổi cơ
cấu lao động trong các thành phần kinh tế, thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài và tư nhân đang thu hút lực lượng lao động, đặc biệt là lao động
trẻ. Bởi ở khu vực nhìn chung có diều kiện làm việc tốt.
2.1.2. Bình đẳng giới trong đối xử, cơ hội và thu nhập.
Bình đẳng giới còn thể hiện ở sự phân bố giới
theo cấp bậc trong việc làm, nam giới có xu
hướng được hưởng lợi nhiều hơn từ những

nghiệp còn căn cứ vào tính chất đặc thù của từng ngành để thực hiện tuyển
dụng lao động nữ. Tuy nhiên cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, nắm bắt
thông tin và giao tiếp xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới. Điều này
gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển năng lực nghề nghiệp của phụ nữ.
Chẳng hạn, đào tạo đầu vào của lao động nữ thường thấp hơn nam giới.
Trong quá trình làm việc, họ cũng ít được tham dự các khoá bồi dưỡng nghề
nghiệp. Bồi dưỡng chức nghiệp công chức đối với nữ cũng chỉ chiếm tỷ lệ
30%. Lý do là các chủ doanh nghiệp không muốn cử nữ đi bồi dưỡng thêm
nghiệp vụ vì phụ nữ ngoài công việc cơ quan còn công việc nhà, trách nhiệm
khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ…42% chủ sử dụng lao động cho rằng họ gặp
khó khăn khi tuyển lao dộng nữ vì những lý do trên.
Công việc đặc thù của phụ nữ thường bị đánh giá thấp hơn công việc
của nam giới. điều này thể hiện rất rõ qua việc chọn công việc của nam và
nữ: nữ thì làm trong lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp nhiều hơn nam,
nam thì đi làm thuê nhiều hơn, còn nữ thì tự sản xuất, kinh doanh nhiều hơn
nam…và những công việc này phụ nữ vẫn có thể thực hiện tại nhà được.
Nhìn vào biểu đồ 2, ta thấy rõ sự chênh lệch khi tham gia vào hoạt
động kinh tế của lao động nam và lao động nữ: trong khi lao động nữ chủ
yếu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và thương nghiệp thì lao động nam
lại rất ít, số lao động nữ trong nông nghiệp là 61.6% thì nam giới là 56.5%,
trong thương nghiệp lao động nữ gần gấp đôi lao động nam với 13%, nam
giới là 7.5%.
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ nữ tham gia vào nông nghiệp và thương
nghiệp cao hơn nam giới ở Việt Nam
Đvt:%
19

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 19
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển


nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã và
công ty trách nhiệm hữu hạn. Tính gộp cả tiền lương và các khoản trợ cấp
bằng tiền của lao động nữ thì tổng thu nhập của họ cũng chỉ tương đương
với 87% so với tổng thu nhập của lao động nam. Nhìn chung lao động nữ
trong mọi loại hình doanh nghiệp đều có mức lương cơ bản thấp hơn so với
nam giới.
Bảng 1: Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động theo nhóm
tuổi và giới tính năm 2009
Đvt: đồng
Độ tuổi Nam Nữ
Dưới 30 2.094,700 1.727,300
30 – 39 2.392,100 1.983,100
40 – 49 2.304,500 2.093,800
50 – 59 2.459,600 2.237,700
60 trở lên 1.396,600 976,900
Nguồn: Bộ Lao động thương binh – xã hội. Tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng số liệu này, ta càng thấy rõ được sự chênh lệch trong
thu nhập của lao động nam và lao động nữ, trong khi đó thời gian và sức lao
động là như nhau. Ngoài ra, 51% lao động nữ trong cac doanh nghiệp có
đông loa động nữ phải làm thêm giới vớithời lượng nhiều hơn 4 giờ một
ngày, tỷ lệ này ở nam giới là 40%. Trong các cơ sở sản xuất nhỏ, 3/4 lao
động nữ và 1/3 lao động nam không được trả lương làm thêm giờ. Còn trong
khu vực không chính thức thì toàn bộ lao động phải làm thêm việc 47 – 48
giờ/ tuần. Đây chính là những bất công với phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt
Nam nói riêng.
21

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 21
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển


Đa số hiện nay, các đội tượng lao động đều áp dụng bảo hiểm xã hội
chiếm 10% lao động nữ. Ngoài ra, phụ nữ còn phải thực hiện chức năng sinh
sản, nhưng hiện nay, Luật lao động vẫn chỉ quy định chế độ nghỉ thai sản
mới có 4 tháng. Thiết nghĩ, với thời gian này thì phụ nữ vẫn chưa yên tâm
công tác, làm việc bởi con họ còn quá nhỏ. Họ không yên tâm khi gửi con ở
22

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 22
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

các nhà giữ trẻ…điều này cũng ảnh hưởng đến thời gian nghỉ nghơi của phụ
nữ.
Phần lớn cả lao động nam và lao động nữ được khám bệnh định kỳ.
tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Bộ lao động thương binh xã hội thì số
lao động nữ khám bênh định kỳ vẫn thấp hơn nam, cụ thể: 52.8% lao động
nữ và 62.7% lao động nam trong các doanh nghiệp đã được khám sức khỏe
định kỳ. như vậy, vẫn còn một tỷ lệ lớn chưa được sự chăm sóc này. Đặc biệt
là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, các cơ sở sản
xuất nhỏ vẫn còn lao động chưa được khám sức khỏe định kỳ, nhất là lao
động nữ. Bảng 2 cho ta thấy rất rõ điều này.
Bảng 2. Tỷ lệ lao động chưa được khám sức khỏe định kỳ
Đvt:%
Loại doanh nghiệp Chung Nam Nữ
DN nhà nước 10.17 6.67 11.36
DN đầu tư NN 40.00 37.50 40.91
DN cổ phần 6.67 0.00 12.50
23

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 23
GVHD: HOÀNG THỊ THU HOÀI Giới và phát triển

của nam là 3.5%, nữ là 9%. Nhìn chung, các doanh nghiệp đã quan tâm hơn
tới vấn đề an toàn lao động cho người lao động.
Bộ luật lao động nước ta được sửa đổi và bổ xung vào năm 2002 và
có hiệu lực vào năm 2003 đã sửa đổi một số quy định liên quan đến tuổi
nghỉ hưu của lao động nữ. tuổi nghỉ hưu của lao động nữ là 55 tuổi và hưởng
mức lương hưu tối đa (75%) nếu đóng bảo hiểm đủ 25 năm. Trong khi đó
luật quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 60 tuổi. Mặc dù đây là một
nỗ lực lớn của Nhà nước ta trong việc thực hiện các chính sách đối với lao
động nữ và đáp ứng được đa số nguyện vọng của lao động nữ. Tuy nhên nó
chưa thể đáp ứng hết tất cả lao động nữ trong mọi lĩnh vực. Bởi vì, rất nhiều
phụ nữ làm công tác khoa học, công tác quản lý, lãnh đạo…còn sức khỏe và
khả năng, muốn được làm việc và nghỉ hưu như nam giới. Như vậy, nó đã
gián tiếp củng cố các mô hình dập khuôn giới theo truyền thống. Từ đó dẫn
đến sự khác biệt về đối xử với phụ nữ trong việc tiếp cận, hưởng lợi và ngăn
cản cơ hội thăng tiến.
III: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ NGUYÊN
NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
25

SVTH: ĐẶNG THỊ YẾN 25

Trích đoạn KHUYẾN NGHỊ LỜI GIỚI THIỆU DỰ ÁN: CHỒNG ƠI! EM MUỐN…
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status