dư luận xã hội và tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật. - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I) Dư luận xã hội 2
1/ Khái niệm
2/ Vai trò của dư luận xã hội
II) Tính chất của dư luận xã hội 4
1/ Tính khuynh hướng
2/ Tính lợi ích
3/ Tính lan truyền
4/ Tính bền vững và tính dễ biến đổi
5/Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội
của dư luận xã hội
III) Tác động của dư luận xã hội tới ý thức pháp luật 9
KẾT THÚC 12
MỞ ĐẦU
Trong số các công cụ quản lí xã hội ở Việt Nam thì dư luận xã hội chưa
được coi trọng đúng mức. Chỉ những năm gần đây khi nền dân chủ của xã hội
mới được phát huy và mở rộng, vai trò của thông tin đại chúng được nâng cao thì
1
dư luận xã hội mới từng bước được coi trọng và phát huy được vai trò của mình
trong đời sống xã hội.
Dư luận xã hội xuất hiện mang theo những tính chất đặc trưng của nó đã có
tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong phạm vi bài viết
này, em xin đi sâu vào việc phân tích những tính chất của dư luận xã hội và tác
động của nó đối với ý thức pháp luật.
NỘI DUNG
I) Dư luận xã hội
1-Khái niệm:
Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.

nhân bởi sự đánh giá của dư luận đối với hành vi ứng xử của một thành viên nào
đó thường được dựa trên những chuẩn mực, khuân mẫu có sẵn càng được thừa
nhận rộng rãi trong cộng đồng xã hội.
Dư luận xã hội là một hiện tượng xuất hiện rất sớm trong xã hội và luôn giữ
vai trò quan trọng trong đời sống xã hội dù ở bất kì thời đại nào, xã hội nào. Mặc
dù chỉ tồn tại là những ý kiến, tư tưởng, quan điểm của các tập hợp chủ thể khác
nhau trong xã hội nhưng dư luận xã hội đã là một trong những phương tiện điều
chỉnh xã hội quan trọng, đồng thời là phương tiện định hướng giáo dục, tác động
về mặt nhận thức và hành vi của con người.
Ngày nay khi mà vai trò của quần chúng nhân dân được coi trọng, nền dân
chủ xã hội được mở rộng thì vai trò và hiệu lực của dư luận xã hội ngày càng
được nâng cao.
II) Tính chất của dư luận xã hội:
3
Khi nghiên cứu dư luận xã hội với tư cách là một hiện tượng thuộc lĩnh vực
tinh thần của đời sống xã hội, các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra những
tính chất cơ bản của nó như sau:
1-Tính khuynh hướng:
Đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, thái độ chung của dư luận xã hội có thể
khái quát theo các khuynh hướng nhất định. Đó có thể là tán thành, phản đối hay
lưỡng lự (chưa rõ thái độ). Cũng có thể phân chia dư luận xã hội theo các khuynh
hướng như tích cực hoặc tiêu cực, tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗi khuynh hướng.
thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia thành các mức độ cụ thể như
rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối. Tính khuynh hướng
biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư luận xã hội.
Chẳng hạn một ví dụ như sau: Ngày 15 tháng 9 năm 2007 theo nghị quyết
32/2007 NQ-CP của chính phủ bắt đầu có hiệu lực, theo đó bắt buộc phải đội mũ
bảo hiểm khi tham gia giao thông trên các tuyến quốc lộ. Trước khi nghị quyết
này có hiệu lực thì dư luận xã hội đã có nhiều ý kiến trái chiều nhau như “ tán
thành hay không tán thành” việc phải đội mũ. Có ý kiến cho rằng không nên đội

đến đâu, điều ấy cũng có nghĩa rằng nhu cầu công bằng xã hội luôn được dư luận
xã hội ủng hộ. Hay mới đây nhất đó là việc nhà nước quyết định về việc tăng giá
điện và giá xăng được rất nhiều người chú ý đến vì nó động chạm đến lợi ích
kinh tế. Khi xăng và điện tăng lên kéo theo đó là sự ra tăng của các loại mặt hàng
sinh hoạt hàng ngày cuộc sống của người dân ít nhiều sẽ có sự thay đổi, chi tiêu
tăng lên và cuộc sống của những người nghèo sẽ gặp khó khăn hơn. Điều đó tất
yếu sẽ dẫn tới việc dư luận xã hội lên tiếng ủng hộ hay không ủng hộ quyết định
đó của nhà nước.

3- Tính lan truyền:
5
Cơ sở của hành vi tập thể là hiệu ứng phản xạ quay vòng, trong đó khởi
điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của các cá
nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì được chuỗi kích thích này luôn cần có
các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lí của cá nhân và nhóm xã hội. Đối
với dư luận xã hội các nhân tố tác động đó có thể được coi là các thông tin bằng
các hình ảnh, âm thanh sống động trực tiếp, có tính thời sự. Dưới tác động của
các luồng thông tin, các nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào
quá trình bày tỏ quan tâm của thông tin, cùng chia sẻ trạng thái tâm lí của mình
với người xung quanh. Cá nhân trong xã hộicó thể theo dõi và ghi nhận được ảnh
hưởng của các luồng thông tin đến các hành động quan tâm của công chúng.
Ví dụ, đối với vụ việc làm ô nhiễm sông Thị Vải do công ti Vedan gây ra
vào thời gian gần đây, vụ việc này đã có thời kì gây xôn xao dư luận bởi hậu quả
do vụ việc ấy gây ra. Trước những “yêu sách” mà Vedan đưa ra nhằm mục đích
không chịu bồi thường cho người dân sống xung quanh sông Thị Vải, người dân
đã cùng nhau không sử dụng sản phẩm do Vedan sản xuất ra trên khắp các siêu
thị và đại lí cơ sở, ban đầu chỉ là những người dân địa phương nơi chịu hậu quả
về sau dưới tiếng nói dư luận dần dần đã lan truyền ra cả nước. Trước thái độ của
người dân và sức ép dư luận từ nhiều phía cuối cùng Vedan cũng chịu thỏa hiệp
chịu bồi thường. Điều đó cho thấy tính lan truyền mạnh mẽ trong dư luận xã hội

có tổ chức để thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối của mình.
Ví dụ như việc có thai trước khi kết hôn ở nước ta, nếu như đặt trong thời
gian 10 năm về trước vấn đề nay bị dư luận xã hội lên án gay gắt thậm chí là có
nơi không thể chấp nhận được đặc biệt là cách nhìn về nhân cách của con người.
Ở một số địa phương khi vụ việc như vậy bị phát hiện thì người phụ nữ còn bị
đuổi ra khỏi nơi mình sinh sống. Ngày nay, với sự giao thoa giữa các nền văn hóa
và cái nhìn thoáng hơn của dư luận xã hội vấn đề này đã không còn nhận sự trì
7
triết nặng nề như trước nữa, mặc dù không phải là nhận được sự chấp nhận của
tất cả mọi người trong cộng đồng nhưng nó cũng phần nào làm thay đổi thái độ
của mội người trước một vấn đề nhạy cảm như vậy.
Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm
ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong xã hội thiếu dân
chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn.
5- Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã
hội
Sự phản ánh thực tế- xã hội của dư luận xã hội có thể đúng (đúng nhiều hoặc
đúng ít) cò thể sai (sai nhiều hoặc sai ít). Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội
vẫn có những hạn chế, do đó, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của dư
luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp
lí không thể coi thường được. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào
tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn
dư luận của thiếu số. Cái mới lúc đầu thường có một số người nhận thấy, do đó
dễ bị đa số phản đối. đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới
trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với
những người có trình độ học vấn thấp.
Như ví dụ về vấn đề đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Ban đầu đa
số dư luận xã hội không đồng tình bởi sự phiền phức khi đội mũ bảo hiểm như là
vướng, nóng….khi vừa triển khai đã vấp phải sự phản đối buộc các cơ quan phải
cưỡng chế thực hiện. Nhưng về sau khi nhận ra lợi ích của nó người dân đã tuân

phải kể tới đó sự tác động tới hệ tư tưởng pháp luật. Dư luận xã hội tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp tới sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng pháp luật. Với
tư cách là một hiện tượng xã hội dư luận xã hội phản ánh tồn tại xã hội nói chung
và các hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý
9
kiến giữa các thành viên trong xã hội về các hiện tượng pháp lí đưa đến kết quả là
họ đạt được tới sự nhận thức chung thống nhất trong sự phán xét, đánh giá về sự
kiện, hiện tượng pháp lí.
Dư luận xã hội rất gần gũi và trong nhiều trường hợp nó là một phần của ý
thức pháp luật khi nó đánh giá, phán xét những vấn đề liên quan đến pháp luật và
các hành vi pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Dư luận xã hội về
một vấn đề, hiện tượng pháp lí nào đó đã chứa đựng trong đó những quan điểm,
tư tưởng pháp luật của chủ thể đối với điều đó. Những phán xét của dư luận xã
hội là thái độ, tình cảm của họ đối với hiện tượng pháp lí đó. Sự gắn bó khắng
khít không thể tách rời giữa dư luận xã hội và ý thức pháp luật cho thấy nếu ý
thức pháp luật xã hội cao, trình độ hiểu biết và đánh giá các hiện tượng chính trị-
pháp luật cao, chính xác, đầy đủ, thì sẽ góp phần hình thành trong xã hội những
dư luận đúng đắn đối với các quy định pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp
luật. Ngược lại nếu ý thức pháp luật xã hội thấp thì có thể dẫn tới hình thành
trong xã hội những dư luận xã hội không đúng về hiện tượng pháp lí đó.
Mặt khác dư luận xã hội cũng tác động tới tâm lí pháp luật. Tâm lí pháp luật
hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc tâm trạng, của các cá
nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật. Cũng như các hiện tượng pháp lí diễn
ra trong đời sỗng xã hội, tâm lí pháp luật cũng biểu hiện mức độ nhận thức thông
thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thông, kinh nghiệm sống, tập
quán và tâm lí xã hội.
Dư luận xã hội, tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật. Trong thực tế đời
sống pháp luật, trước những diễn biến của một sự kiện hay một hiện tượng pháp
luật,dư luận xã hội thường nảy sinh và biểu hiện ở hai xu hướng:
Thứ nhất là khen ngợi, biểu dương, ủng hộ, thứ hai là phê phán, lên án. Về

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Tập bài giảng xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND năm
2009.
• Tập bài giảng xã hội học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb
Thống kê năm 2004.
• Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010.
• www.talieu.vn
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status