thực trạng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại hải dương - Pdf 24

 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN SAU ĐẠI HỌC
***
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI 5 :
“ Thực trạng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại hải Dương”
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 - Lớp: CH 20HD
4.

GV hướng dẫn: TS. ĐỖ THỊ HƯƠNG
HẢI DƯƠNG NĂM 2012
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
1
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ………………………………………………………………… 4
NỘI DUNG ………………………………………………………………… 5
Chương 1: THỰC TRẠNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI
DƯƠNG …………
5
1.1. Sự ra đời và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương 5
1.2. Đánh giá những tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương
9
Chương 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TẠI HẢI DƯƠNG
14
2.1. Hoàn thiện công tác dự báo và quy hoạch phát triển các khu công nghiệp 14

UBND : Uỷ ban nhân dân
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
3
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
- Phát triển khu công nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn đầu tư
thúc đẩy công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện
bảo vệ môi trường sinh thái bảo đảm phát triển bền vững. Ở nước ta, năm 1991, Đảng và
Nhà nước có chủ trương triển khai thí điểm việc thực hiện giải pháp quan trọng này. Từ đó
đến nay, cả nước đã có gần 200 trăm khu công nghiệp với các quy mô, loại hình được
phân bổ hầu khắp các tỉnh, thành phố. Sự phát triển các khu công nghiệp đã góp phần to
lớn vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
Hải Dương là tỉnh mới được tái lập từ 1/1/1997, thuộc một trong tám tỉnh của
vùng kinh tế trọng điểm ở đồng bằng Bắc bộ với hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt
thuận lợi. Hải Dương trở thành địa bàn cung cấp hàng hóa quan trọng đồng thời tham gia
trung chuyển hàng hóa giữa hệ thống cảng biển với các tỉnh và thành phố lớn ở phía Bắc.
Trong tương lai, Hải Dương là trọng điểm thu hút, phát triển công nghiệp, du lịch thương
mại và trở thành một trong các đô thị lớn trong vùng. Trong xu thế phát triển chung của cả
nước, tỉnh Hải Dương đã có 10 khu công nghiệp với diện tích 3.915 ha (chiếm gần 4%
diện tích đất nông nghiệp). Sự phát triển khu công nghiệp ở Hải Dương trong thời gian
qua đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thu hút vốn và công nghệ hiện đại, kinh
nghiệm quản lý tiến bộ của nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, sự phát triển khu công
nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời các khu đô thị, nâng cao chất lượng đời sống dân cư.
Tuy nhiên, trong 17 năm qua, sự phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương đã bộc
lộ những bất cập trong giải quyết vấn đề môi trường sinh thái, việc làm, thu nhập của
người dân mất đất, sự quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng Những bất cập đó đang là lực
cản cho việc phát huy vai trò của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn, gây ra những bức xúc trong xã hội.
Nhằm góp phần vào giải quyết những bức xúc này, nhóm 5 chúng tôi đã được

Ngày 17/7/2002, UBND tỉnh ra Quyết định số 3149/2002/QĐ - UB ban hành quy định về
ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh đã quy định các ưu đãi về
giá thuê đất và miễn giảm tiền thuê đất, ưu đãi về thuế thu nhập, ưu đãi về vay vốn, về đầu tư các
công trình hạ tầng KCN, về thủ tục hành chính. Ngày 3/4/2003 UBND tỉnh lại có Quyết định số
920/2003/QĐUB ban hành quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các cụm công nghiệp và
làng nghề trên địa bàn tỉnh cùng với những nội dung ưu đãi như trên.
Quy hoạch thành phố Hải Dương trở thành khu đô thị loại 1 vào năm 2017, cơ bản trở
thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015.
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
5
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn của từng giai đoạn, điều kiện
phát trển KT - XH của các vùng, vị trí địa lý, khả năng thu hút đầu tư, dự kiến bổ sung
quy hoạch đầu tư xây dựng các KCN trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 và 2020 như sau:
Bảng 2: Các khu công nghiệp phát triển giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị tính: ha
TT
Tên khu công nghiệp
Diện tích đất
KCN đã được
thành lập
Diện tích
quy hoạch
đến năm
2010
Diện tích quy
hoạch đến năm
2015 - > 2020
Tổng
diện tích

Trường, KCN Việt Hòa - Kenmark, KCN Tàu Thủy - Lai Vu, KCN Phú Thái, KCN Cộng
Hoà, KCN Lai Cách, KCN Cẩm Điền - Lương Điền.
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
6
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
Trong 10 KCN đang đầu tư xây dựng có 8 KCN do nhà đầu tư trong nước đầu tư
xây dựng hạ tầng, 1 KCN do nhà đầu tư nước ngoài xây dựng (khu công nghiệp Việt Hòa
- Kenmark), 1 KCN do nhà đầu tư trong nước liên doanh với nước ngoài xây dựng (KCN
Cẩm Điền - Lương Điền).
- KCN Đại An: Là một trong những KCN đầu tiên tại tỉnh Hải Dương được Thủ
tướng Chính Phủ cho phép thành lập theo Văn bản số 317/CP- CN ngày 21/3/2003. KCN
Đại An có quy mô diện tích 664 ha với tổng vốn đầu tư khoảng 1300 tỷ đồng. Trong đó
diện tích khu I là 193,22 ha (174,22 ha đất KCN và 19 ha đất khu dân cư phục vụ công
nghiệp). Từ tháng 8 năm 2003 KCN đã sẵn sàng cho thuê đất để xây dựng nhà xưởng và
đầu tư sản xuất kinh doanh. Năm 2007 KCN Đại An đã mở rộng khu II là 474 ha, trong đó
diện tích đất công nghiệp là 403 ha, diện tích đất khu dân cư là 71 ha…
- KCN Phúc Điền: Được thành lập theo quyết định số 1305/2003/QĐ-UB ngày
8/5/2003 của UBND tỉnh Hải Dương. Địa điểm tại xã Cẩm Phúc và xã Cẩm Điền, huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương với tổng diện tích 170 ha.
Về hạ tầng kỹ thuật, nguồn điện cấp cho KCN được lấy từ đường dây 110KV tới
trạm biến áp tổng với công suất 110/35KV. Nguồn nước cung cấp cho KCN được lấy từ
nguồn nước sạch của Nhà máy nước Cẩm Giàng với công suất 4400m
3
/ngày đêm.
Các ngành nghề đầu tư trong KCN: Gia công cơ khí, lắp ráp và điện tử, chế biến
thực phẩm và sản xuất nông nghiệp, dệt, may và sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ truyền thống của địa phương và một số ngành nghề khác.
- KCN Nam Sách: Được thành lập theo văn bản số 18/CP-CN ngày 7/1/2003 của Thủ
tướng Chính phủ và Quyết định số 539/2003/QĐ-UB ngày 27/02/2003 của UBND tỉnh Hải
Dương. Tổng diện tích KCN là 63 ha, địa điểm tại xã Ái Quốc và Nam Đồng, huyện Nam

a. Bên Việt Nam góp
(03=04+05)
USD 03 2.702.711 1.017.496 1.471.299
- Bằng tiền mặt USD 04 1.219.250 480.000 764.399
- Giá trị quyền sử dụng đất, các
nguồn tài nguyên, giá trị quyền
sử dụng mặt nước, mặt biển
USD 05 1.003.461 537.496 706.900
b. Bên nước ngoài góp
(06=07+08)
USD 06 83.370.940 131.732.080 119.246.774
- Tiền mặt USD 07 81.507.856 127.356.731 62.837.322
- Máy móc, thiết bị USD 08 1.863.084 4.375.349 56.409.452
2. Vốn vay: (09=10+11) USD 09 8.362.674 93.196.783 117.270.571
- Vay trong nước USD 10 8.720.283 53.311.057 47.115.953
- Vay từ nước ngoài USD 11 464.148 39.885.726 70.154.618
II. Lao động có đến cuối tháng
báo cáo (12=13+14)
Người 12 8.996 18.711 33.491
1. Lao động Việt Nam Người 13 8.674 18.473 32.899
2. Lao động nước ngoài Người 14 318 238 383
III. Giá trị hàng nhập khẩu
(15=16+17)
USD 15 95.863.325 185.678.484 504.933.752
- Nhập khẩu để XDCB hình thành
doanh nghiệp
USD 16 15.681.208 45.329.243 74.301.601
- Nhập khẩu để sản xuất, kinh
doanh
USD 17 80.182.117 140.349.241 430.632.150

đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).
Hải Dương là một trong 10 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Đến nay, 10 KCN ở Hải Dương đã có chủ đầu tư nước ngoài vào xây dựng kinh
doanh hạ tầng kỹ thuật với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt 6.233 tỷ đồng. Trong năm
2008, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng trong các KCN của tỉnh đạt 1.251,7 tỷ đồng, luỹ kế
vốn thực hiện xây dựng hạ tầng là 2.429 tỷ đồng, đạt 38,96%. Cụ thể về tình hình hoạt
động và đầu tư tại các KCN trên địa bàn tỉnh như sau:
+ KCN Nam Sách: Hiện có 19 dự án trong và ngoài nước đầu tư với tổng số vốn
đăng ký là 219,77 triệu USD, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê là 47,82 ha, đã lấp đầy
100% diện tích đất cho thuê.
+ KCN Phúc Điền: Hiện có 25 dự án trong và ngoài nước đầu tư với tổng số vốn
đăng ký là 219,25 triệu USD, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê là 58,91 ha, đã lấp đầy
100% diện tích đất cho thuê.
+ KCN Đại An: Hiện có 31 dự án trong và ngoài nước đầu tư với tổng số vốn đăng
ký là 429,03 triệu USD. Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê giai đoạn 1 là 85,121 ha
với tỷ lệ lấp đầy đạt 77,9%, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê giai đoạn mở rộng là
19,8 ha với tỷ lệ lấp đầy đạt 14,7%.
+ KCN Tân Trường: Hiện có 20 dự án đầu tư nước ngoài đầu tư với tổng số vốn
đăng ký là 417,17 triệu USD…
- Tác động đến tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Đến nay, các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 34.500 lao động trực tiếp vào
làm việc, trong đó tuyển dụng mới 15.300 người.
Thu nhập của người lao động ở các KCN đạt mức khá với mức lương bình quân
của công nhân khoảng 1.500.000 – 3.000.000 đồng/tháng. Tuy so với mặt bằng tiền công
chung trong xã hội còn thấp, nhưng với mức thu nhập như vậy, người lao động đã có điều
kiện tốt hơn cho việc cải thiện nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của gia đình.
Lao động trong các KCN đã được đào tạo, nâng cao tay nghề, được rèn luyện trong
môi trường công nghiệp và được tiếp cận với công nghệ hiện đại. Với 62% số dân trong
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
9

2000 thành 70%- 16,4%- 13,6%.
Các KCN trên góp phần to lớn vào việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo…
- Tác động của KCN đến việc tăng quy mô xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
10
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
Một trong những tác động quan trọng của KCN ở tỉnh Hải Dương đối với sự phát
triển KT- XH là tăng xuất khẩu hàng hoá. Thời gian qua, lượng hàng hoá xuất khẩu ngày
càng có xu hướng tăng lên, mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng, cơ cấu xuất khẩu có
sự chuyyẻn dịch theo hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm.
- Tác động đến đời sống và thu nhập của dân cư
Sự hình thành và phát triển của các KCN có ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư
trong khu vực như tác động đến số dân cư bị thu hồi đất để dành cho KCN, tác động đến
việc làm và việc kinh doanh của dân cư trên địa bàn, tác động đến an ninh trật tự trong
khu vực
1.2.2. Tác động tiêu cực trong hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hải Dương
- Cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào các KCN còn bất hợp lý, công nghệ lạc hậu
Thời gian vừa qua, để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư vào các KCN, ngoài các ưu
đãi của Chính phủ, UBND tỉnh Hải Dương đã có rất nhiều chính sách ưu đãi đầu tư như:
Ưu đãi về giá thuế và miễn giảm tiền thuế đất (Miễn tiền thuê đất trong 10 năm và giảm
50% tiền thuê đất trong thời gian 5 năm). Ưu đãi về thông tin quảng cáo và khuyến khích
vận động đầu tư vào KCN. Thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một đầu mối. Thẩm
định và chấp nhận dự án giấy phép đầu tư không quá 5 ngày.
Mặc dù chính sách ưu đãi đúng đắn, nhưng do nóng vội trong việc lấp đầy diện tích
các KCN nên đã dẫn đến tình trạng chạy đua xây dựng KCN theo phong trào, các địa
phương không khai thác hết được những lợi thế của mình dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, do nôn nóng trong việc xây dựng nhanh các KCN nên chưa chú trọng trong
chọn lọc các dự án đầu tư, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp trong nước. Về lâu dài,
điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách phát huy nội lực và sự phát triển bền vững trên địa

doanh nghiệp không mặn mà với việc đảm bảo môi trường mà chỉ quan tâm đến lợi
nhuận. Thậm chí, doanh nghiệp còn có thái độ bất hợp tác với chính quyền trong việc thực
hiện nghiêm chỉnh các quy định về môi trường tại KCN.
Theo kết quả quan trắc phân tích nước thải từ các KCN cho thấy hầu hết các chỉ
tiêu đều vượt chuẩn cho phép nhiều chỉ tiêu gấp hàng chục lần. Nước thải xả trực tiếp ra
môi trường đã gây ra ô nhiễm cả một vùng rộng lớn ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân
dân. Nếu để cho các doanh nghiệp sản xuất thì gây bức xúc trong dân, nhân dân khiếu
kiện ngày càng nhiều. Ngược lại, nếu đóng cửa các doanh nghiệp thì người lao động mất
việc làm. Đây là bài toán khó giải quyết bởi không phải doanh nghiệp nào trong tỉnh cũng
có đủ năng lực để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
Điển hình như KCN Phú Thái tại thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành với 13 doanh
nghiệp lớn nhỏ. Những hộ dân sống tại đây đang phải đối diện với nguy cơ bệnh tật, có
người đã chết vì ung thư, có người đã bỏ nhà ra đi vì không thể chịu đựng thêm. Có
khoảng 2.500 người dân sống đang chịu ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường từ các nhà
máy trong khu công nghiệp Phú Thái. Khoảng 3,5 ha đất nông nghiệp xung quanh các nhà
máy không thể cấy trồng gì trong vòng 6 năm. Nước thải chảy xuống sông không những
ảnh hưởng đến nông nghiệp, mà cách đó không bao xa là điểm lấy nước của Nhà máy
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
12
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
nước sạch Phú Thái, cấp cho 7.000 người dân thị trấn và một phần dân số của xã Kim
Anh, Phúc Thành.
Theo số liệu của Phòng Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh (PC36), thời gian gần
đây đã điều tra phát hiện gần 600 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, làm rõ hơn
380 tổ chức và cá nhân, chuyển cơ quan điều tra khởi tố 8 vụ, 13 bị can, phối hợp với các
cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính tổng số tiền trên 1 tỉ đồng.
- Việc làm, đời sống và thu nhập của người có đất bị thu hồi cho phát triển các
KCN còn nan giải
Các KCN trên địa bàn tỉnh chưa phải hoạt động theo nguyên tắc tiết kiệm đất nông
nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp đã được thuỷ lợi hoá. Việc lựa chọn địa điểm xây

TẠI HẢI DƯƠNG
2.1. Hoàn thiện công tác dự báo và quy hoạch phát triển các khu công nghiệp
Công tác dự báo và quy hoạch là vấn đề vô cùng quan trọng. Để hoàn thiện công
tác dự báo và quy hoạch cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là, đảm bảo tính khoa học. Quy hoạch là dự báo cho một tương lai tương đối
dài nên phải sử dụng các phương pháp khoa học đặc biệt là phương pháp mô hình hoá,
phương pháp điều tra khảo sát thế mạnh của từng vùng, nhu cầu đầu tư để khai thác các
thế mạnh đó.
Hai là, quy hoạch phải đảm bảo tính mềm dẻo linh hoạt bởi quy hoạch chỉ là dự
báo cho tương lai nên có thể có nhiều nhân tố làm cho thực tế không diễn ra đúng như dự
báo. Do vậy, phải chuẩn bị các phương án điều chỉnh khi cần thiết và không nên coi dự
báo như là một mục tiêu bất di bất dịch nhất thiết phải đạt tới.
Ba là, quy hoạch phải đảm bảo tính đồng bộ, gắn quy hoạch phát triển các KCN
với quy hoạch phát triển các khu đô thị, quy hoạch phát triến các công trình hạ tầng ngoài
hàng rào.
Từ việc dự báo và quy hoạch các KCN nói chung, dự báo và quy hoạch các KCN
Hải Dương cần chú trọng vào những vấn đề cơ bản sau:
- Quy hoạch phát triển các KCN phải được xây dựng trên cơ sở quy hoạch phát triển
KT-XH của từng vùng, từng địa phương trong tỉnh với tư cách như là một trong những
giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu của quy hoạch phát triển vùng. Quy hoạch phát
triển các KCN là sự cụ thể hoá quy hoạch phát triển KT-XH thành các bước đi cụ thể trên
địa bàn tỉnh trong lĩnh vực phát triển công nghiệp.
- Quy hoạch phát triển các KCN phải gắn liền với quy hoạch phát triển khu dân cư, khu
đô thị, đảm bảo sự phát triển tương xứng giữa cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, giữa quy
hoạch trong hàng rào và ngoài hàng rào, cụ thể là:
+ Xây dựng KCN, khu dân cư, khu đô thị theo quy hoạch định hướng phát triển không
gian, mô hình tổ chức chung với cơ cấu doanh nghiệp sản xuất (có yêu cầu về tiêu chuẩn môi
trường) cộng với hệ thống dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất cộng với khu dân cư, nhà ở
và dịch vụ thương mại, khu vui chơi giải trí, theo đó các công trình kết cấu hạ tầng được thiết
kế và xây dựng.

liên quan đến thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh để tìm ra những nội dung không phù hợp,
xem xét, bãi bỏ hoặc sửa đổi bổ sung cho phù hợp đảm bảo chính sách đơn giản, dễ thực hiện
và không chồng chéo.
- Giải quyết, xử lý và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đang xây dựng hoặc
đang sản xuất kinh doanh. Thiết lập chính sách một giá không phân biệt nhà đầu tư nước
ngoài, nhà đầu tư tỉnh khác với nhà đầu tư địa phương về giá cước, chi phí, thuế, thuế thu
nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, phí sử dụng hạ tầng ….
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
15
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
- Thực hiện các chính sách nhất quán, điều kiện và môi trường đầu tư ổn định, thị
trường tài chính lành mạnh.
- Nâng cao chất lượng đánh giá thẩm định các dự án KCN. Sự thành công hay thất
bại của một dự án phụ thuộc vào tất cả các giai đoạn trong chu kỳ của dự án từ khâu chuẩn
bị đến khâu triển khai, vận hành dự án. Tuy vậy, giai đoạn chuẩn bị có ý nghĩa vô cùng
quan trọng vì nó tạo những điều kiện quyết định sự thành bại cúa dự án sau này. Để có dự
án tốt, trước hết cần có phương pháp đánh giá và thẩm định dự án đúng đắn, có các thông
tin trung thực, chính xác phục vụ cho việc đánh giá dự án, các dữ liệu thực tế là nguyên
liệu cho việc lập dự án, cần có các chuyên gia giỏi trung thực để đánh giá và thẩm định dự
án.
Muốn nâng cao chất lượng các dự án dầu tư vào các KCN cần thực hiện những giải
pháp sau:
Một là, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm dự án, nâng cao tính chuyên nghiệp
của hoạt động phân tích và thẩm định dự án thông qua việc thành lập các cơ quan tư vấn có
uy tín thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của dự án nói riêng
và chất luợng của dự án nói chung.
Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu, thường xuyên cập nhật dễ dàng, tiếp cận và có độ
chính xác cao phục vụ cho việc lập dự án. Cần quy định cụ thể trách nhiệm của các Sở,
ban ngành trong việc định kỳ cung cấp các số liệu thống kê nâng cao trình độ tin cậy của
các số liệu.

nảy sinh trong nhân dân địa phương trên cơ sở quán triệt phương châm “lấy dân làm gốc”.
Xử lý nghiêm minh những trường hợp cố tình vi phạm, chống đối gây cản trở tiến trình
phát triển các KCN nói riêng và tiến trình xây dựng các công trình của nhà nước nói
chung.
- Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cần nghiên cứu các biện pháp phù hợp như xây dựng nhà ở
với nhiều loại hình: hộ gia đình, khu chung cư, khu đô thị của các hộ trong vùng di dời,
giải toả.
2.4. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho các khu công nghiệp
Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động của các KCN dẫn đến
giảm hiệu quả KT - XH là thiếu lực lượng xã hội được đào tạo. Thông thường sau khi
được tuyển chọn, người lao động được tham gia những khoá đào tạo ngắn hạn tại doanh
nghiệp để làm quen với công việc và làm quen với thao tác dây chuyền.
Việc cung cấp lao động hiện nay cho các KCN còn nhiều mâu thuẫn. Các KCN
thiếu lao động kỹ thuật có tay nghề trong khi số lao động cần bố trí ở địa phương thì dư
thừa nhiều…
Để tổ chức hoạt động đào tạo lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động
của các nhà đầu tư,nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN phải có những giải pháp cụ
thể sau:
Nâng cao nhận thức và thực hiện tốt việc đào tạo nghề cho người lao động để đáp
ứng nhu cầu sản xuất hiện đại trong các KCN.
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
17
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
Nhanh chóng xây dựng và phát triển các trường dạy nghề dưới nhiều hình thức như
đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn. Khuyến khích và tạo điều kiện để các chủ đầu tư trong
và ngoài tỉnh, doanh nghiệp nước ngoài tổ chức đào tạo lại tại các doanh nghiệp, các trung
tâm.
Đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo nghề. Cần phát triển mô hình liên kết đào
tạo giữa nhà trường, trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề với cơ sở sản xuất để đào tạo
theo đơn đặt hàng, làm cho quá trình đào tạo gắn với yêu cầu ccủa các doanh nghiệp.

18
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
27/10/1992 và số 22/TB ngày 4/2/1993 đã mở đầu cho việc hình thành một cơ chế quản lý
mới, cơ chế “một cửa, tại chỗ”. Đó là cơ chế uỷ quyền để Ban quản lý các KCN giải quyết
nhanh chóng các thủ tục về đầu tư và các lĩnh vực quản lý khác.
Hai là, hoàn thiện khung pháp lý. Cần rà soát các văn bản pháp lý có liên quan đến
KCN. Kiểm tra lại toàn bộ chính sách liên quan đến thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh
nhằm tìm ra những nội dung không còn phù hợp để đề xuất Chính phủ xem xét, bãi bỏ
hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Chính sách ưu đãi phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo sự
bình đẳng giữa các nhà đầu tư, tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư. …
Ba là, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, hấp dẫn thông qua việc tạo sân
chơi bình đẳng đối với các doanh nghiệp, không thiên vị một doanh nghiệp nào.
Bốn là, cần có những quy định hợp lý nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các ngân hàng
trong việc cho các doanh nghiệp thuộc diện di dời được vay vốn. Vì hiện nay muốn sử
dụng tài sản này thế chấp để vay vốn thì doanh nghiệp phải làm xong thủ tục hoàn công
mới được giải ngân, mà thời gian để tiến hành thủ tục hoàn công diễn ra khá lâu.
Năm là, các khu vực có KCN cần được hưởng chính sách: có tỷ lệ để lại nguồn thu
từ KCN cho địa phương để giải quyết hạ tầng ngoài KCN và những vấn đề xã hội phát
sinh từ KCN như về đào tạo nhân lực, về y tế, về lao động nhập cư
Phối hợp tay ba với các ngân hàng thương mại cho vay vốn, tổ chức giám định thiết
bị máy móc, thiết bị thế chấp vay vốn, nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý và kinh tế của
các tổ chức giám định trong việc giám định máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình vay
vốn.
2.6. Tăng cường hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền với vấn đề môi
trường trong các khu công nghiệp
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, các cơ quan chức năng cần có giải
pháp tăng thêm đầu tư cho các công trình xử lý chất thải chung trong các KCN, buộc các
doanh nghiệp phải lắp đặt thiết bị xử lý chất thải và thực hiện chủ trương “ai gây ô nhiễm,
người đó phải chi trả”, cần kiểm soát chặt chẽ việc phát triển các KCN theo đúng quy
hoạch, ngăn chặn triệt để ngay từ đầu không để khu dân cư nằm xen lẫn với các nhà máy

khiếu kiện của người dân mất đất ngày càng có chiều hướng gia tăng, lòng tin của người
dân vào chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước giảm sút. Môi trường ô nhiễm
làm ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động trong các KCN và người dân sống xung
quanh. Các dự án vào KCN chưa được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ nên trong quá trình triển
khai còn nhiều vướng mắc làm lãng phí nguồn lực…
Trên cơ sở phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng và giải pháp trong quá trình xây
dựng và phát triển các KCN ở Hải Dương với sự phát triển KT- XH, Nhóm 5 chúng tôi đề
xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những
tiêu cực xảy ra của các KCN.
Nhóm 5- Lớp:CH 20HD Trang
20
 Bài tiểu luận môn kinh tế Quốc tế
Mặc dù nhóm đã cố gắng tập trung nghiên cứu song do năng lực và thời gian còn
hạn nên không thể tránh được những sai sót. Nhóm xin cảm ơn sự góp ý của thầy, cô và
các bạn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng môn Kinh tế quốc tế - TS. Đỗ Thị Hương.
2. Ban Quản lí dự án Hải Dương (2008),Báo cáo tổng hợp đầu tư các khu công nghiệp
2008.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Báo cáo tổng hợp đề án điều chỉnh quy hoạch phát
triển các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam thời kỳ 2005 – 2020, Tài liệu nội bộ.
4. Chính phủ (1997),Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Ban hành
kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ).
5. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2006), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, Nxb Thống
kê, Hà Nội.
6. Giáo trình kinh tế Quốc Tế - GS.TS.Đỗ Đức Bình và PGS.TS Nguyễn Thường Lạng.
- Nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân – Hà Nội – 2010.
7. Trần Thị Dung (2004), "Về việc phát triển các khu công nghiệp tại các khu vực Bắc
Bộ",Thông tin khu công nghiệp Việt Nam, (5) tr.14,15.

thuê
(ha)
Số LĐ
đăng ký
(Người)
Số LĐ đã
tuyển
dụng
(Ngươi)
Số
lượng
DN
DN
trong
nước
DN
Liên
doanh
DN
nư-
ớc
ngo
ài
Vốn
đăng

Vốn
điều
lệ
Năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status