O
NGUYỄN VĂN
XIÊM
(Trường
THCS
Hùng
Vương)
Giải
B
A.
PHẦN
MỞ
ĐẦU:
I.
ĐẶT VẤN
ĐỀ:
Ơ Û
bất
kì
một quốc
gia
nào, những đổi mới về giáo dục nói
chung,
giáo dục
phổ thông nói
riêng
cũng đều bắt đầu từ việc
xem
xét, điều chỉnh về mục tiêu
việc
thực
hiện đổi mới giáo
dục
phổ thông
nói
chung,
đổi mới
chương trình,
nội
dung
và
phương
pháp giảng dạy môn giáo dục công dân
(GDCD)
ơ û
cấp
trung
học
cơ
sơ û
(THCS)
nói
riêng
cũng không ngoài mục
đích
đó
đòi
hỏi
kiện
có
được
của mỗi
nhà
trường, mỗi
đòa phương
và kết quả
thu
được
đạt như
mong
muốn
-
nhất
là
đối
với
giáo viên, lực
lượng
có
vai
trò quyết đònh chất lượng
giáo dục và đào tạo
trong
các nhà trường
thì
chung,
môn
GDCD
ơ û
cấp
THCS
nói
riêng
thì
bất
cứ
người giáo viên nào
cũng
đều
có
thể
sử
dụng
những
phương
pháp
dạy học
phù
hợp
với đặc thù của mỗi bộ môn
nhiên, việc chuyển
tải
đó
có
gây
cho
các
đối tượng học
sinh
có
được những hứng thú
học
tập
cần
thiết hây không
thì
đây mới
là
vấn đề vô cùng
quan trọng trong
tiến
trình
thực hiện giờ
dạy
của
trình
nhận thức và
hình
thành
những
tri
thức mới ở
con người.
-
Hứng thú
chính
là động lực thôi thúc và giúp
con
người luôn có
những
hưng
phấn, năng động và
sáng tạo để
vươn
tới
những mục tiêu mới.
Thật vậy,
trong
quá
trình
giảng dạy bộ môn này
ở
khối lớp
những
suy
nghó, nghiên
cứu và quyết tâm thực hiện
nó. Đó là
lí do
mà tôi
mạnh
dạn
đăng
kí
nghiên cứu, trải nghiệm và đúc kết đề tài sáng kiến
kinh
nghiệm
(
SKKN )
về:
“
Một số
biện pháp
tạo hứng thú học tập
cho
học
sinh trong
giờ học môn
GDCD
ơ û
khối lớp
6, 7
chương trình,
nội
dung
các bài dạy môn
GDCD
lớp
6, 7
và
tích
cực
tìm hiểu
thêm những vấn đề về
đạo đức, pháp luật và xã hội có liên
quan
đến kiến thức bài học
trong
thực tế.
-
Nghiêm túc
thực
hiện việc đổi mới
phương
pháp giảng
dạy
và kiểm
tra
đánh giá học
sinh trong
tiến
trình
hiệu bất thường về đạo đức,
lối
sống
và
ý
thức chấp hành
trong
lời nói, hành
vi giao
tiếp, ứng xử.
-
Thực hiện đầu
tư
thiết kế và
biên soạn nội
dung
các tiết dạy
theo
hướng
gắn kết nội
dung
tiết
dạy
với những hoạt động để tạo
cho
các đối
tượng học
sinh
…
để tiết dạy
sau
đạt hiệu quả
hơn.
III.
PHẠM
VI
NGHIÊN
CỨU, TRẢI
NGHIỆM
ĐỀ TÀI
SKKN
:
Do
thời
gian
tiếp cận, giảng dạy môn
GDCD
ơ û
trường phổ thông không lâu
so
với các đồng
nghiệp
khác
trong
trường và được trường sắp xếp, tạo điều kiện
cho
tôi
được giảng dạy liên tục môn học này
từ đầu học
kì II
năm học
2008 – 2009
đến
nay
mà
thôi.
B.
PHẦN
NỘI
DUNG :
I.
NHỮNG CĂN
CỨ
NGHIÊN
CỨU,
TRẢI
NGHIỆM
ĐỀ
TÀI
SKKN :
1. Cơ
sở
lí
luận:
Mục tiêu của môn
GDCD
quốc tế của đất nước. Từ những hiểu biết đó của học
sinh,
bằng khả năng
sư
phạm
của
mình
mà người giáo viên tiến hành các hoạt động giáo dục nhằm
hình
thành và
xác lập
cho
các đối
tượng
học
sinh
có ý
thức và hành
vi sinh
hoạt, học tập đúng
đắn;
tích
cực, tự giác
trong
thực hiện những chuẩn
mực,
những
qui
đònh mà các
em
những chủ
trương,
đường lối,
chính
sách,
pháp
luật của Đảng
-
Nhà nước
ta trong
chiến lược chăm
lo
phát
triển nhân tố
con
người. Mặt khác, nội
dung
môn
GDCD
cấp
THCS
còn
tích
hợp giáo dục
cho
học
sinh
có
nào
đi
nữa
thì
vấn đề xuyên suốt và có
tính
xâu chuỗi các nội
dung
giáo dục này
lại
với
nhau
là
sự
gắn kết chặt chẽ giữa kiến thức học tập với thực tiễn cuộc sống
theo
những chuẩn mực đạo đức và
pháp
luật được mọi người
quan
tâm thực
hiện.
Mục
đích
cuối cùng của việc dạy và học môn
GDCD
ở cấp
THCS
chương trình
và
nội
dung trong
dạy học
môn
GDCD
cấp
THCS
nói
chung,
khối lớp
6, 7
nói riêng
thì
vấn đề trước tiên được các cấp quản
lí
giáo dục
quan
tâm chỉ đạo và tổ chức thực
hiện
là phải đổi mới có hiệu quả về
phương
pháp giảng dạy
ở
bộ môn này
nhằm
đảm
– sai
“, “
tốt
–
xấu
“ trong
từng
lời nói, việc làm
…
của bản thân và của những người
xung
quanh
trong
thực hiện
những chuẩn mục,
qui
đònh đó. Từ
đo,
giúp các
em
có
những điều chỉnh về cách ứng xử
của
mình
phù hợp với những
quy
đònh của pháp luật và những truyền thống, đạo
lí
của dân tộc.
Song,
phương
pháp dạy học này
trong
điều kiện xã hội và
các
phương
tiện dạy học mới ngày
nay
thông
qua
lăng
kính
và các kó năng
sư
phạm của người thầy
để giúp
cho
từng
học
sinh
có những hứng thú,
ham thích
và
say
mê học tập một cách
tích
cực,
tự giác và chủ động
hơn. Như Đai-ri (
chép
rồi
trả lại
”.
Như
vậy, mục
đích
của việc đổi mới
phương
pháp giảng dạy
ơ û
các
môn học nói
chung,
môn
GDCD
nói
riêng không
gì
khác
hơn
là
tạo
cho
học
sinh
một
cách
thông minh
và sáng
tạo.
2. Cơ
sở
thực tiễn:
Ơ Û
trường
THCS
Hùng
Vương đa
số học
sinh
là
con em
của nhân dân
lao
động
nghèo,
cha
mẹ
của
các
em
phải
bươn
chãi để có miếng ăn hằng ng
gia đình, …
nên về đạo đức, lối sống,
tình
cảm
và
suy
nghó của các
em ít
nhiều đã bò những tiêu cực, lối sống thiếu lành
mạnh
tác
động. Từ đó, làm
cho
một
bộ
phận
học
sinh
của trường luôn có những biểu hiện
không đúng đắn về động
cơ,
thái độ học tập; một số thói
hư,
tật xấu
như :
chửi thề,
nói tục, dối trá với thầy cô, thô tục bạo hành với bạn bè …
thân và các giáo viên chủ
nhiệm
lớp có giải
thích nhưng
vẫn còn nhiều
ý
kiến
chưa
thật sự đồng
tình, vì
theo
họ
:
nếu gọi là môn học
quan
trọng
thì
tại
sao
Nhà nước không
đưa
môn
GDCD
vào hệ
thống các môn
trong
các
kì thi
tuyển
biểu hiện dễ
thấy
ở
những
em
này là
thường nói chuyện
trong
giờ học,
không
ghi
chép bài,
lơ
là với lời
giảng, câu hỏi
của giáo viên
Một số
khác thường
xuyên
có thái độ bỏ
ngoài
tai
ở
những nội
dung mang tính
giáo dục về
đạo
đức và
như
đã vừa nêu
thì trong
giảng dạy
do
nhiều yếu
tố
khác
nhau,
bản thân cũng
như
một số
giáo viên
cùng giảng dạy bộ môn đôi
khi
cũng
chưa
thật sự tạo được
sự hứng thú học tập cần thiết
cho
học
sinh trong
từng
giờ
dạy.
Sự rập khuôn,
sơ
cứng
Từ thực trạng dạy
và học
ơ û
môn
GDCD
nói
chung,
khối lớp
6, 7
nói riêng
như
đã nêu trên, bản thân
tôi đôi lúc cũng thấy bò
“
sốc
“ -
nhất là
khi
mới về trường.
Nhưng do
xác đònh đúng đắn trách nhiệm của
một giáo viên dạy môn
GDCD :
một
môn
học
có
hành,
ghi
chép
… ?
Với những trăn trở
như
vậy,
từ đầu học
kì II
năm học
2008 – 2009
đến
nay
bản thân đã
không ngừng nghiên cứu, mày mò,
trãi
nghiệm
ơ û
đề tài
: “
Một số
biện pháp tạo hứng thú học tập
cho học sinh trong
giờ
học môn giáo dục công dân lớp
6, 7
“
đã
thu
đảm bảo
tính khoa
học, chuẩn xác,
sinh
động và dễ
hiểu
:
Đây là
phương
pháp giảng dạy có
nhiều
ưu
thế được hầu hết các giáo viên
sử
dụng
trong
quá
trình
dạy học
ơ û
các nhà trường.
Tuy
nhiên,
do tính đa
dạng về nội
dung
giáo dục của môn
GDCD
là
ơ û
bộ môn này
như
các môn học khác. Để có
được những loại
phương
tiện, đồ dùng giảng dạy trực
quan
cần thiết
theo
yêu cầu tối thiểu của từng
bài dạy, bản thân cũng
như
hầu hết các giáo viên cùng dạy bộ môn
phải tự làm hoặc
tự
sưu
tầm
theo
những
tính
toán dạy học chủ
quan
nên đôi lúc có những thiếu sót
về
tính chính
xác,
chưa
tri
thức của học
sinh.
Thấy được những
ưu v
a ø
hạn chế
trong
sử
dụng
phương
pháp dạy học này, bản thân
đã tiến hành những
điều
chỉnh để khắc phục những
sai
sót,
hạn
chế từ
khâu chuẩn
bò đến kó năng
trình
diễn các loại đồ dùng,
phương
tiện giảng dạy này
như : tranh
ảnh,
sơ
đồ, mẫu chuyện
thiệu bài tôi
cho học sinh xem hình
một bạn sáng thức dâïy đúng giờ, tập thể dục
và
hình
một bạn ngủ trễ,
đi
học muộn mà tỏ vẻ
không
lo
lắng
gì
và yêu cầu học
sinh
nhận x
ét
v
a ø
cho
ý
kiến v
ề
y ù
thức “rèn luyện thân thể v
a
ø
tự chăm sóc”
quan
sát, trả lời.
Cách dạy
này, nếu nhà trường hoặc giáo viên
có
điều
kiện v
ề
công nghệ thông
tin ( CNTT ) thì
việc
trình
chiếu những
hình
ảnh này bằng máy hoặc đoạn vidéo
clip thì
học
sinh
lại
càng hứng thú
hơn
và việc vào bài mới hiệu quả và hấp dẫn
hơn.
O
Tương
tự
như
vậy,
khi
gọn,
rõ ràng đã
kích thích
được sự hứng thú của nhiều
học
sinh giơ tay
trả lời chuẩn xác
là
: Vì
người bán v
é
số có lòng “tự
trọng”.
Song, khi
sử dụng
phương
pháp dạy này giáo viên cũng cần chú
ý là
những
hình
ảnh không
được
quá nhỏ (tối thiểu bằng khổ giấy
A4
đối với những ảnh
đơn
giản) và tránh
đưa ra
những
sát hợp với nội
dung,
phù hợp
cho
từng đối
tượng học
sinh
:
Hệ thống các câu hỏi là một
phương
tiện không thể thiếu
trong
quá
trình
giảng dạy trên lớp
của người giáo viên và được người giáo viên
sử
dụng
nó một
cách
linh
hoạt, sáng tạo cùng với các
phương
pháp dạy học khác
theo
đặc
trưng
của từng bộ môn. Xác đònh được tầm
quan
một bài
dạy dưới nhiều dạng, loại
khác
nhau
gồm
:
loại các câu hỏi
chính đưa
vào bài soạn
( do
bản thân đặt
ra theo
nội
dung
từng
mục của bài học hoặc có
trong SGK );
loại các câu hỏi
phụ
để giúp học
sinh
phát hiện vấn đề;
dạng câu hỏi
mang tính
đònh hướng, dẫn dắt học
sinh
tiếp cận,
nhận thức các
tri
đọc lên câu
ca
dao:
“Một cây làm chẳng nên
non,
Ba
cây chụm lại nên hòn núi
cao”
rồi đặt câu hỏi vừa
mang tính
đònh hướng nhận thức, vừa có
ý
khêu gợi sự hứng thú
và
trí
thông
minh
của
học
sinh như sau : “ Em
hãy
cho
biết
y ù
nghóa của câu
ca dao
trên là đề
cao tinh
ta.
O
Hoặc để giúp học
sinh tìm
hiểu sâu
hơn
về ý
nghóa của sự
“
đoàn kết,
tương
trợ
“ trong
bài
dạy
này, bản thân tổ chức
cho
học
sinh
từng lớp tiến hành thảo
luận
nhóm xoay quanh
các dạng câu hỏi
sau . Ví
dụ
cho
học
sinh:
+
Nhóm
qua
khó khăn hoàn thành tốt mục tiêu
đã
đònh?
+
Nhóm
3:
Thảo luận
tìm ra
những sự kiện, những việc làm
trong
lòch sử và
trong
thực tế để
chứng
tỏ
“
đoàn kết,
tương
trợ
“
là
truyền thống quý báu của dân tộc
?
Do
những nội
dung
của những câu hỏi này đã có
trong
những dạng, loại câu
hỏi
này vừa
kích thích
sự
tái
hiện những kiến thức,
những việc làm
nói
về
“
đoàn kết,
tương
trợ
“
mà các
em
đã học, đã biết và vừa gây
cho
các
em
có
sự hứng thú cần thiết
trong
rèn luyện kó năng lập luận, thuyết
hơn
về
trách nhiệm của người công dân
ở
tương lai trong
giữ
gìn v
à
phát
huy truyền
thống
quý báu
này
.
Việc
sử
dụng những dạng, loại câu hỏi này, vấn đề cần
lưu
ý là ở
những câu
hỏi có yêu cầu
học sinh
tái hiện lại những việc làm đã
qua hay
những sự kiện lòch
sử
thì
có thể học
sinh
ở
GDCD.6.
Nhằm
để phát
huy tính tích
cực, chủ động học tập của học
sinh sau khi cho
học
sinh tìm
hiểu nội
dung v
à
ý
nghóa
của truyện
đọc v
e
à
”
Tấm
gương
của một học
sinh
nghèo
vượt khó
“ trong SGK thì
bản thân nêu
ngay
câu
à
mục
đích
học tập của
mình
cộng
với
những
lời
ngợi
khen,
nhận xét
và chuyển mạch
rõ
ràng của giáo
viên
tạo
cho
lớp học
có
bầu không
khí
phấn khởi
bước vào
bài
học
trong
giảng
dạy
môn
GDCD
thường
ơ û
các dạng, loại
sau:
Thứ nhất
là loại câu hỏi dẫn dắt học
sinh tìm
hiểu khái niệm của một chuẩn
mực đạo đức
hay qui
đònh nào đó của pháp luật. Loại câu hỏi này thường được xây
dựng dưới
1 trong 3 hình
thức
sau :
Hình
thức
thứ nhất
là yêu cầu học
sinh
hãy
trình
bày khái niệm về một chuẩn mực đạo đức
hay qui
hay quy
đònh
của pháp luật mà người
ta
sẽ sử
dụng
1 trong 3
loại câu
hỏi này.
Ví dụ:
O
Khi
dạy
bài
10: “Tích
cực, tự giác
trong
hoạt động tập thể và hoạt động xã
hội”
(GDCD. 6 ) thì
hỏi
: Em
hãy
trình
bày khái niệm về
tích
cực, tự giác
trong …
xã
hai
là loại câu hỏi dẫn dắt học
sinh tìm
hiểu
ý
nghóa về một chuẩn mực
đạo đức
hay qui
đònh
của pháp luật. Loại câu hỏi này thường được thể hiện dưới
1
trong 3 hình
thức
sau:
O
Hình
thức thứ nhất
là hãy
trình
bày
ý
nghóa.
Ví
dụ: Hãy nêu
y ù
nghóa của
việc
“
Giữ
tư tin?
(Bài
11 – GDCD.7). Hay:
Tại
sao
chúng
ta
phải sống v
à
làm việc
có
k
ế
hoạch? (Bài
12
- GDCD.7)
O
Hình
thức thứ
ba
là hỏi về sự
ích
lợi của việc thực hiện về một chuẩn mực
đạo đức
hay qui
đònh
của pháp luật nào đó.
thức trách nhiệm của người
công dân, của người
học
sinh trong
việc thực hiện những vấn đề về một chuẩn mực
đạo đức
hay qui
đònh của pháp luật.
Ví
dụ
:
Dạy bài
16:
“Quyền tự
do tín
ngưỡng
v
a
ø
tôn giáo”
(GDCD.7)
hỏi:
“
Mọi người phải làm
gì
để thể hiện đúng
đắn về quyền
tự
tập tạo
cho
học
sinh
có
những hứng
thú
trong
giờ
học GDCD
:
Xác đònh
thi đua
là động lực thúc đẩy mọi nỗ lực của
con
người hướng
tới
mục tiêu một cách
hoàn thiện v
à
nhanh
nhất.
Vì
thế, bản thân luôn chú trọng
tổ
chức tốt các
hình
thức
thi đua
tư
tốt
cho
từng khâu
chuẩn bò
từ nội
dung chương trình
đến
hình
thức, thời
gian
thực hiện
sao cho
phù hợp với từng loại
hình,
thực hiện tốt khâu
giao
nhiệm vụ
và dặn dò cụ thể
cho
từng nhóm học
sinh
chuẩn bò trước
ơ û
nhà.
Trong
mỗi giờ
dạy,
bản thân thường
sử
ở o â
dành
cho
đội
mình
một
biểu
hiện nói về
giao
tiếp, ứng xử có lễ độ và văn
minh trong
vòng
5
phút đội nào
viết được nhiều biểu hiện đúng
thì
đội đó thắng, những
em tham gia
trò
chơi thì
được cộng
1
điểm vào cột điểm thực hành.
Do tính
ràng buộc
của việc được cộng
thêm điểm nên học
sinh
ơ û
nghóa
của
những câu
cao dao,
tục ngữ
để
làm tăng thêm
tính
hấp dẫn
trong
giáo dục
tư
tưởng
và
hình
thành nhân cách tốt đẹp
cho
các đối
tượng học
sinh
:
Như
chúng
ta
đã biết, vấn đề xuyên suốt
trong
nội
dung
của môn
Vì
thế,
trong
tiến
trình
chuẩn bò và
giảng dạy
bản thân
tôi
luôn chú trọng
khai
thác đúng mức
những lợi thế của các
bài
tập
tình
huống và
ý
nghóa
của những câu
ca dao,
tục ngữ
có
trong SGK
và
trong
đời
hai
bạn thân học cùng lớp
6A,
Hải là
con
nhà nghèo và
luôn được sự giúp
đỡ của
Bình như:
quá
giang xe,
hỗ
trợ bút, tập
…
Một hôm vào
giờ kiểm
tra
môn toán,
Bình
không làm được bài, đến lúc sắp hết giờ
Bình
giật
bài
của Hải chép, Hải
cương
quyết không
cho. Khi tan
học về,
là
Hải
thì
cần phải làm những
gì
để
Bình
hiểu
mình
là
không vô
ơn?
Từ những
tình
tiết
của câu chuyện và
hai
câu hỏi được nêu
ra
đã tạo
trong
học
sinh
có
ngay 2
luồng
suy
tra
của nhà
trường đối
với học
sinh. Qua
việc vận dụng
tình
huống
trong
giảng dạy môn
GDCD
lớp
6, 7
bản thân đã
thấy
rõ ở
đa
số các học
sinh
là
thấy được những lợi
ích
của việc học tập
ơ û
bộ môn này và luôn cố
gắng học tập tốt.
O
Cũng
ai đi
ngược
về xuôi; Nhớ ngày giổ Tổ mùng mười, tháng
ba
”
Tục ngữ
: “
n
trái nhở
kẻ
trồng cây
”;
Hay:
“
Uống nước nhớ nguồn
”
.v.v. Qua
việc
khai
thác về
y ù
nghóa
và
tính tươi
mát,
êm dòu,
nhẹ
việc làm các bài tập, hoạt động sắm
vai, sưu
tầm
tư
liệu và
giới thiệu về
gương
người
tốt, việc tốt để
các
em
tự rèn luyện, phấn đấu
vươn
lên
:
T
ổ
chức
cho
học
sinh
thực hành các nội
dung
bài học là một yêu cầu không
thể thiếu
trong
bất
kì hình
thức
đức và các
qui
đònh của pháp luật mà các
em
đã học
la
ïi
càng
có ý
nghóa
và
vai
trò
đặc biệt
vô cùng. Bởi
vì
đây là một môn học có
chức năng, nhiệm vụ rèn
luyện
và
hình
thành
nhân
cách các
đối
tượng
học
thì
người giáo viên mới có đủ
cơ
sở để đánh
giá đầy đủ về
ý
thức và sự hiểu biết của
học
sinh
về các vấn đề đã học. Đồng
thời thực hành cũng là thước
đo
để người giáo viên nắm biết
được
thái độ,
tình
cảm và lối sống của mỗi học
sinh trong
thực hiện các chuẩn mực đạo đức và các
qui
đònh của
pháp luật một cách
trung
thực
v
à
tế nhò nhất. Với
học
sinh
các lớp hoặc
trong
cùng khối
thi đua trình
bày, giới
thiệu v
ề
những sản phẩm tự làm, tự
sưu
tầm được
như : tranh
ảnh; mẩu chuyện
“
người tốt
–
việc tốt
“;
các sự kiện, thông
tin,
hò, vè và các
tư
liệu
khác có liên
quan
đến nội
dung
sinh
mỗi nhóm
(6 - 8
em)
về nghiên cứu, luyện đọc diễn cảm nội
dung
phần
tình
huống
trong SGK
(trang 21) theo
cách phân
vai (1 em
đọc lời dẫn,
1 em
đóng
vai
thầy Hùng,
1
em
đóng
vai
bạn Tuyết v
a ø
những
em
còn lại đóng
vai
các bạn
của
mình
và
khi
vào tiết học
thì
tất cả học
sinh
đều phấn khởi và đại
diện mỗi nhóm hăng hái lên bốc
thăm.
Một ràng buộc khác là các thăm chỉ được mở
ra
cùng lúc làm
cho khí
thế lớp học lại càng
vui
nhộn lên.
Khi
đến phần trả lời câu hỏi
gợi
ý,
do
từng
em
có sự chuẩn bò trước
nên không
khí xung phong,
hồ hởi
xin
hợp
với chủ điểm tuyên truyền “Tháng hành động về phòng chống
HIV/AIDS”
và
“Tháng bộ môn Sử, Đòa,
GDCD”
của nhà trường tổ chức bản thân tôi cũng
cho
học
sinh thi tìm
hiểu về
HIV/AIDS
bằng
sưu
tầm những
hình
ảnh và
sinh
hoạt dưới cờ
tạo
ra
không
khí
thực hành sôi nỗi
trong
thầy
v
a ø
trò nhà trường. Nhân việc đúc k
từng nội
dung
bài
dạy được
kết quả tốt
thì
điều trước tiên của người giáo viên
dạy môn
GDCD
phải có sự đầu
tư thích
đáng
trong
từng khâu chuẩn bò. Biết lường
trước những khó khăn, những
tình
huống
có
thể dẫn đến sự kém hiệu quả của
việc tổ
chức học
sinh
thực hành để có những
phương
án dự phòng, xử
lí.
III.
KẾT
phu v
a ø
v
ất
vả
hơn nhưng hiệu
quả trên từng tiết dạy trên lớp là rất
khích
lệ;
ít hao
tốn
công sức
cho
việc ổn đònh và nhắc nhở học
sinh,
sự
thể
hiện một tiết dạy luôn được
trôi chảy, nhẹ nhàng
hơn;
tâm
lí
lên lớp không bò
“
sốc
“
và bớt căng thẳng
so
quá
trình
đònh hướng nghiên
cứu và trải
nghiệm
đề tài; phải thường xuyên cập
nhật tiến độ
thực
hiện và những
thành công, những việc làm
chưa
hiệu quả để kòp thời
xem
xét điều
chỉnh,
bổ
sung
các biện pháp phù hợp với thực tiễn dạy và
học.
O
Nắm vững nội
dung,
mục tiêu của từng bài dạy, tiết dạy v
à
mục dạy; chăm
chút và đầu
tư thích
đáng
tình
huống
O
Việc tổ chức các
hình
thức học tập
cho
học
sinh
phải có sự hướng dẫn
rõ ràng, cụ thể
-
nhất
là
việc tự học, tự hành của học
sinh
ở
nhà. Không nên thực
hiện cách dặn dò
theo
cách
chung chung, chẳng
hạn
:
Các
em
về
theo
yêu cầu của từng
bài dạy
thì
phải có sự chắc lọc,
linh
hoạt và
nhẹ nhàng gắn kết với những câu
ca dao, tục
ngữ, với việc thật, người thật gần
gũi với cuộc sống v
a ø
sinh
hoạt của các
em.
Tránh
đưa
các
em v
ào
những
vấn đề mà
đa
số
chưa
hiểu biết
hay chưa
trung
thực, lành mạnh và gần
gũi,
thân thiện
với
học
sinh
và mọi người. Tận tụy
lao động,
sáng tạo và nhiệt
tình dìu
dắt giúp
đỡ
các
em.
2.
Những
yếu tố
dẫn đến những hạn chế,
chưa
thành công:
Việc tạo hứng thú học tập
cho
học
sinh trong
giờ học môn
GDCD
ơ û
dung
bài học cùng
lúc phải giải
quyết
nhiều vấn đề
hay
nhiều lónh vực
trong
một khái niệm
hay
một ý
nghóa của bài.
-
Khó phát
huy tính
hứng thú
ở
học
sinh
về những vấn đề
mang tính
giáo dục
để sửa
chữa nhận thức,
thái độ, uốn nắn và điều chỉnh các hành
vi sai
trái.
-
Rất khó thành công
mở rộng và phát triển
SKKN:
Do
đặc thù “hứng thú” là
trạng thái tâm
lí
phấn khởi của
con
người trước các
sự vật, hiện
tượng
khách
quan.
Nó tạo
ra trong
mỗi
con
người một cảm giác
hưng
phấn
và trở thành động lực thôi thúc
trong
mỗi
con
người vượt
qua
những giới hạn để hành
động
vươn
tới những
môn học khác
ơ û
trường phổ
thông
–
nhất
la ø ở
môn
GDCD
với những mức
độ
cao
thấp,
rộng hẹp khác
nhau
tùy vào khả năng, nghệ thuật của mỗi người thầy và các điều
kiện,
phương
tiện
cũng
như thực trạng
học tập của học
sinh
ở
mỗi trường
nếu
như
người giáo viên chòu khó đầu
“Một
số
biện pháp tạo
hứng thú học tập
cho
học
sinh trong
giờ học
GDCD
lớp
6, 7”
mà bản thân đã thực
hiện
trong hơn 2
học
kì qua
ơ û
trường
THCS
Hùng
Vương - TPLX
bước đầu đã
thu
được những kết quả khả
quan
và đầy
khích
lệ. Nó không chỉ có tác
dụng
bão
học
tập để trở
thành những người công dân tốt của quê
hương
Bác T
ôn
v
à
của đất nước
sau
này.
V
iệc
thực hiện các biện pháp dạy học tạo hứng thú học tập
trong
giờ học môn
GDCD
ở
khối lớp
6, 7
của bản
thân
trong
thời
gian qua
còn thể hiện khá
sinh
giáo viên
cung
cấp.
Với
SKKN
này, tôi
hy
vọng sẽ góp phần nhỏ bé của
mình v
ào
phong
trào
chung
về đổi mới
phương
pháp giảng dạy và tổ
chức học tập của nhà trường
–
nhất
là
ở
bộ môn
GDCD. Qua
đó, từng giáo
viên tích
cực
chung tay đưa
chất lượng dạy
và học cũng
như
tổ
chuyên môn
và
q
đồng nghiệp
trong
cụm,
trong
hội đồng bộ môn đã
cho
tôi nhiều
kinh
nghiệm
q
báu
trong
thời
gian
qua.
Xin
cảm
ơn Ban
giám hiệu trường
THCS
Hùng
Vương
đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cho
tôi
này
trong
thời
gian
tới./.