Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học phần văn bản Nhật dụng (Ngữ văn 12 - Chương trình nâng cao - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
o0o TRIỆU THANH HƢƠNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG
(Ngữ văn 12 – Chƣơng trình nâng cao)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN


Chuyên ngành: SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Mã Số: 60 14 10

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ban HÀ NỘI - 2010 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Ban, người
đã tận tâm chỉ dạy tôi trong quá trình học tập và quá trình hoàn thành luận
văn.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới những tấm lòng, sự nhiệt thành của
các thầy cô giáo đang công tác tại Đại học Giáo Dục, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Đại học Sư Phạm I, những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo chúng
tôi trong suốt khóa học. Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới những người thầy dù không
trực tiếp giảng dạy tôi trên giảng đường nhưng đã để lại nhiều bài học sâu
đậm trong tôi.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em

THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
VBND: Văn bản nhật dụng
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử nghiên cứu 10
3. Mục đích nghiên cứu 13
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 13
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 14
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
7. Giả thuyết khoa học 14
8. Hƣớng triển khai nghiên cứu và cấu trúc luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT BIỆN
PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG CHO
HỌC SINH LỚP 12 18

2.2.2. Quy trình vận dụng PPDH theo nhóm trong dạy học các VBND, bài
học về VBND 78
2.3. Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học các bài học về VBND 93
2.3.1. Bản chất của dạy học nêu vấn đề và việc tạo hứng thú cho HS trong dạy
học các bài học về VBND 93
2.3.2. Các nội dung của dạy học nêu vấn đề trong dạy học các bài học về
VBND 97
2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các bài học về VBND 105
2.4.1. Công nghệ thông tin với việc tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy
học các bài học về VBND 105
2.4.2. Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các bài học về
VBND 109
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 115
3.1. Mục đích thực nghiệm 115 7
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm 115
3.3. Nội dung thực nghiệm 116
3.4. Phƣơng pháp tiến hành và cách tiếp cận 128
3.5. Kết quả thực nghiệm 129
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 133
CÁC PHỤ LỤC 137

8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

vấn đề này (Chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn trong phần: Lịch sử nghiên cứu)
hầu nhƣ chỉ tập trung vào các VBND và bài học nhật dụng trong chƣơng
trình Ngữ văn trung học cơ sở mà chƣa đề cập tới các VBND và bài học nhật
dụng trong chƣơng trình trung học phổ thông. Mức độ nghiên cứu cũng chỉ
dừng lại ở việc đƣa ra các khái niệm, các đặc trƣng và bƣớc đầu đƣa ra một
cách khái quát về các bƣớc dạy học các văn bản, bài học này mà chƣa thực sự
đi sâu vào thiết kế các biện pháp cụ thể, rõ ràng nhằm tạo hứng thú cho HS
trong khi học.
1.3. Tạo hứng thú cho ngƣời học luôn là một vấn đề quan trọng trong
hoạt động dạy - học. Nghị quyết Bộ Chính Trị về cải cách giáo dục nhấn
mạnh: Chú trọng hơn nữa đến việc phát huy sở trường và năng khiếu cá
nhân, cần coi trọng và bồi dưỡng hứng thú cho HS. Dạy - học là một hoạt
động phức tạp, trong đó chất lƣợng, hiệu quả cơ bản phụ thuộc vào chủ thể
nhận thức - ngƣời học. Điều này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhƣ: năng
lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết tâm (các yếu tố chủ quan); nó còn
phụ thuộc vào: môi trƣờng học tập, ngƣời tổ chức quá trình dạy học, trong đó
sự hứng thú trong học tập nhƣ là hệ quả của các yếu tố tƣơng tác… Một yêu
cầu cơ bản cần đạt đƣợc khi dạy học các văn bản và bài học về VBND là HS
phải ứng dụng đƣợc kiến thức vào thực tế đời sống, kết nối kiến thức chiếm
lĩnh đƣợc với công việc thực tế trong cuộc sống thƣờng ngày. Yêu cầu này
chỉ thực sự đạt đƣợc khi mà HS có thái độ say mê học tập, tập trung cao độ,
nảy sinh khát vọng chiếm lĩnh kiến thức, từ đó hoạt động, khám phá để chiếm
lĩnh kiến thức. Đƣa ra các biện pháp tạo hứng thú cho HS trong các giờ học 10
về VBND và bài học về VBND là cách tạo ra một cơ hội lớn cho ngƣời dạy
và ngƣời học trong việc thiết kế quy trình các bài học về VBND, các VBND
nhằm đạt tới mục đích cao nhất: chiếm lĩnh và vận dụng các kiến thức nhật
dụng.

- Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Bá Cƣờng,
ĐHSPHN, 2003, với tên đề tài: Một số biện pháp bồi dưỡng, phát triển hứng
thú, nhu cầu, thị hiếu, năng lực đọc tác phẩm văn chương của HS lớp 9 miền
núi Lai Châu đã hƣớng đến nghiên cứu một số biện pháp tạo hứng thú cho
HS lớp 9 khi học văn nhƣng hệ thống biện pháp đƣa ra còn quá nhỏ nhặt và
chỉ mang tính chất nhƣ là những thủ pháp, những kĩ thuật của GV trong giờ
học mà thôi.
Ngoài các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề tạo hứng thú
cho HS trong giờ học môn Ngữ văn còn có rất nhiều các bài viết đăng trên
các báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề này. Đối với việc tạo hứng thú trong
giờ học các VBND, các bài học về các VBND thì hầu nhƣ chƣa có một công
trình nào chính thức đƣợc công bố cho tới thời điểm này.
2.2. Việc quốc tế hóa chƣơng trình giáo dục, đƣa nền giáo dục Việt
Nam tiến kịp và hòa nhập với nền giáo dục thế giới là một việc làm cần thiết.
Việc đƣa các VBND cũng đã góp phần phát triển chƣơng trình giáo dục phổ
thông nói chung và chƣơng trình Ngữ văn nói riêng theo định hƣớng quốc tế
hóa. Trên thế giới, xu hƣớng đƣa nội dung kiến thức mang tính ứng dụng, cập
nhật, gắn liền với thực tiễn vào các bài học trong nhà trƣờng là một việc làm
đã đƣợc thực hiện từ lâu và tỏ ra có hiệu quả. Ở Việt Nam, việc đƣa VBND
và bài học nhật dụng vào chƣơng trình trung học phổ thông mới thực sự đƣợc
thực hiện trong 10 năm trở lại đây. 12
Từ sau khi các VBND và bài học nhật dụng đƣợc đƣa vào chƣơng trình
Ngữ văn trung học phổ thông, nhiều bài báo khoa học, các bài nghiên cứu
xuất hiện đề cập tới PPDH hiệu quả nội dung kiến thức này nhƣng số lƣợng
các công trình nghiên cứu chƣa thực sự đông đảo. Có thể kể ra đây một số
công trình tiêu biểu nhƣ: Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng
phương thức biểu đạt, Trần Đình Chung, NXB giáo dục, 2006; Phát huy tính

trên đề cập đến đã dẫn chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng các nội dung lí luận
trong các công trình trên làm cơ sở lí luận và hệ quy chiếu cho đề tài của
mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu lí thuyết về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập;
các điều kiện, nguyên tắc và tác dụng khi vận dụng lí thuyết về hứng thú và
tạo hứng thú trong học tập vào dạy học các bài học về VBND; luận văn đề
xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học VBND
nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học VBND nói riêng, dạy học tiếng Việt nói
chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Quá trình dạy học các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn
lớp 12 nâng cao có vận dụng các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS.
- Mẫu khảo sát:
Các VBND và bài học về VBND, chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao.
Mẫu thực nghiệm:
Lớp 12A1, 12A2 trƣờng THPT Nguyễn Bính; Lớp 12A2 – THPT
Nguyễn Đức Thuận và lớp 12A2, trƣờng THPT Hoàng Văn Thụ, Nam Định. 14
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của
việc đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học phần
VBND (Chƣơng trình Ngữ văn 12 – nâng cao)
- Đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học phần
VBND (Chƣơng trình Ngữ văn 12 – nâng cao)
- Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp tạo

THPT về vấn đề: Xây dựng các biện pháp tạo hứng thú cho HS trong dạy học
các bài học về VBND.
+ Phƣơng pháp thực nghiệm: Thực nghiệm đối chứng quy trình dạy học
cụ thể có vận dụng hệ thống biện pháp tạo hứng thú cho HS trong dạy học
các bài học về VBND chƣơng trình ngữ văn 12 nâng cao đối với 2 lớp 12.
+ Phƣơng pháp điều tra qua phiếu hỏi đối với học sinh các lớp trong mẫu
khảo sát.
- Phƣơng pháp xử lí thông tin: Xử lí thông tin định lƣợng và thông tin
định tính thu đƣợc.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu đề xuất đƣợc biện pháp dạy học tạo hứng thú học tập
cho HS trong dạy học VBND ở lớp 12 THPT thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng
dạy học VBND, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học tiếng Việt, giúp HS
yêu thích môn học hơn.
8. Hƣớng triển khai nghiên cứu và cấu trúc luận văn 16
8.1. Hướng triển khai nghiên cứu
Nghiên cứu những lí thuyết tâm lí về hứng thú và tạo hứng thú trong
học tập và đặc trƣng của các bài học về VBND, điều kiện để tạo hứng thú
trong khi dạy học các bài học này đƣợc xét từ các mặt: chủ thể HS; nội dung
dạy học của các bài học VBND; phƣơng pháp, phƣơng tiện trong dạy học
VBND; môi trƣờng học tập; hình thức và phƣơng pháp kiểm tra đánh giá.
Giữa các đặc trƣng của bài học về VBND và tâm lí HS trong khi học
các bài học VBND có thể tạo ra những lợi thế về nội dung dạy học; về chủ
thể nhƣng cũng gây ra những khó khăn trên những mặt này khi xét tới điều
kiện tạo hứng thú cho HS trong dạy học các bài học về VBND.
Một số biện pháp tạo hứng thú cho HS trong dạy học các bài học về
VBND có thể bao gồm các nhóm: các biện pháp dựa trên điều kiện tâm lí của

12
Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC CÁC BÀI HỌC VỀ VĂN BẢN NHẬT DỤNG – CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
NÂNG CAO
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 18
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG CHO HỌC SINH LỚP 12
1.1. VBND và các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. VBND
Khái niệm VBND tạm dịch từ chữ everyday tets. Khái niệm VBND
nhiều khi còn đƣợc dịch là văn bản ứng dụng [37, tr.35].
VBND không phải là một khái niệm chỉ loại thể hoặc chỉ kiểu văn bản.
Nói đến VBND trƣớc hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản. VBND là
những văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết với cuộc sống trƣớc mắt con
ngƣời và cộng đồng xã hội hiện đại nhƣ: Thiên nhiên, môi trƣờng, năng
lƣợng, dân số, ý thức trách nhiệm công dân…

Truyện An Dƣơng Vƣơng – Mỵ Châu, Trọng Thủy, tính nhật dụng của bài
học này nằm trong văn bản có tính nhật dụng: Truyện An Dƣơng Vƣơng –
Mỵ Châu, Trọng Thủy và nằm trong hệ thống câu hỏi hƣớng HS liên hệ tới
vấn đề mang tính thời sự hiện nay: vấn đề cảnh giác với giặc ngoại xâm; vấn
đề bảo vệ, giữ vững an ninh chủ quyền đất nƣớc.
1.1.2. Những đặc trưng của VBND
Hầu hết các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông
nói chung và chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao nói riêng đều lấy các VBND
làm ngữ liệu, đối tƣợng để tìm hiểu. Ở các bài học đọc hiểu về VBND thì nội
dung của VBND cũng là nội dung dạy học ngƣời GV cần hƣớng tới. Vì vậy,
việc tìm hiểu những đặc trƣng cơ bản của VBND là rất cần thiết , qua đó có 20
thể tạo cơ sở xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho HS trong giờ
học các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao.
VBND có những đặc trƣng sau:
1.1.2.1. Tính thực tiễn
Đây là đặc trƣng cơ bản nhất và cũng là dấu hiệu để nhận biết các
VBND và bài học về VBND. Nội dung của các VBND gần gũi, bức thiết với
cuộc sống xã hội, với bản thân mỗi ngƣời học. Tiếp xúc với các VBND,
ngƣời học biết đến những vấn đề thời sự gần gũi hằng ngày mà mỗi cá nhân
và cộng đồng đều quan tâm, chẳng hạn nhƣ vấn đề môi trƣờng, dân số, thị
trƣờng hoặc những vấn đề lớn lao hơn nhƣ quyền trẻ em, bản sắc văn hóa dân
tộc, giáo dục, vấn đề nhân tài, ý thức trách nhiệm của công dân đối với đất
nƣớc.
Ở các bài học hƣớng dẫn HS cách tạo lập VBND (các bài học Làm
văn), thì chính các VBND sẽ trở thành công cụ giao tiếp cho bản thân các em
trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng hạn, một văn bản thuyết minh về một vấn
đề nào đó trƣớc đám đông, một văn bản kế hoạch cá nhân hay một văn bản

giới thiệu với ngƣời đọc về di tích Đền Ngọc Sơn của Hà Nội.
 Văn bản biểu cảm. Ví dụ, VBND, đoạn trích trong bức thƣ của tổng
thống Mỹ A.Lincoon gửi thầy hiệu trƣởng của con trai mình: Xin thầy
hãy dạy cho con tôi. Văn bản này đƣợc sử dụng làm ngữ liệu đọc thêm
sau bài học Các thao tác nghị luận trong phân môn Làm Văn chƣơng
trình Ngữ Văn 10.
 Văn bản khoa học, một bài báo thuyết minh khoa học. Ví dụ văn bản
Môi trường và cơ thể con người trong bài học Văn bản – Sách giáo
khoa Ngữ văn 10 tập I, bộ cơ bản là một văn bản khoa học.
 Văn bản nghị luận. Ví dụ các VBND trong chƣơng trình Ngữ văn 12 bộ
nâng cao: Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại (Nguyễn Khắc Viện);
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hƣợu)… 22
Từ những hình thức đó, những vấn đề cập nhật của đời sống cá nhân và
của cộng đồng hiện đại đƣợc khơi dậy…Các bài học về các vấn đề đó sẽ đánh
thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi ngƣời
học giúp các em hòa nhập hơn vào cuộc sống xã hội.
1.1.2.4. Đảm bảo về giá trị nghệ thuật
Dù có đề cập đến vấn đề bức thiết đến đâu thì các VBND khi đã đƣợc
đƣa vào chƣơng trình Ngữ văn đều đạt đến một giá trị nghệ thuật nhất định.
Hầu hết các VBND đều thuộc các thể loại, các kiểu văn bản khác nhau và đã
đƣợc cân nhắc lựa chọn kĩ càng, có nội dung nổi bật và đảm bảo cả về mặt
nghệ thuật. Ví dụ: văn bản Thông điệp nhân ngày Thế giới phòng chống
AIDS của Cô-Phi-An-nan là một văn bản đề cập đến vấn đề hết sức cấp thiết:
vấn đề phòng chống AIDS, nhƣng nó cũng đồng thời là một văn bản, một bài
báo cáo có lập luận chặt chẽ, một thông điệp gửi tới bạn đọc đầy sức thuyết
phục hợp tình, hợp lí.
Nhận biết các đặc điểm trên của VBND sẽ giúp cho GV và HS có thể

hƣớng quốc tế hóa.
Trong chuẩn môn tiếng Anh nghệ thuật của bang NiuOc (Mĩ) công bố
tháng 3 năm 1996, ngƣời ta có nêu một hồi kí về vụ thảm sát Mĩ Lai ở Việt
Nam.
Ở Anh, trong quy định mới của Chƣơng trình quốc gia công bố năm
1995 có ghi rõ yêu cầu cho HS tiếp xúc một phạm vi văn bản rộng rãi mà
mục tiêu là HS cần được dạy nhận biết, phân tích và đánh giá đặc điểm của
những loại văn bản khác nhau trong các ấn phẩm và trên các phương tiện
thông tin đại chúng khác”[29, tr.54].
Ở Pháp, chƣơng trình Ngữ văn chủ trƣơng dạy văn bản thuộc thể loại
báo chí (presse) nhƣ tất cả các thể loại văn học khác. Ở Trung Quốc, trong 24
thể loại văn thơ cổ có những bài mang màu sắc khoa học tự nhiên của Thẩm
Quất đời Tống. Trong văn thơ hiện đại có những bài đề cập tới phƣơng pháp
toán học của Hoa La Canh.
Ở Việt Nam, xu hƣớng đƣa VBND, bài học về VBND vào chƣơng
trình giáo dục đã xuất hiện từ trƣớc năm 1945. Trong phần cuối cuốn Văn học
sử yếu xuất bản trƣớc năm 1945, tác giả Dƣơng Quảng Hàm đã đƣa vào trên
10 văn bản giống nhƣ VBND theo quan niệm hiện nay. Nhƣng kể từ sau lần
đó, VBND mới đƣợc đƣa trở lại vào chƣơng trình giáo dục kể từ 10 năm gần
đây.
Để tiến kịp và hòa nhập cùng nền giáo dục thế giới, cần xác định việc
đƣa VBND vào sách giáo khoa Ngữ văn ở chƣơng trình trung học của Việt
Nam là một việc làm hợp lí và cần thiết.
1.2. Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của học sinh
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Hứng thú
Hứng thú là một cấu tạo tâm lí phức tạp của cá nhân. Vấn đề hứng thú

thú nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu, hay nói cách khác nhu cầu là cơ sở để
hình thành hứng thú.
Thế nhƣng hứng thú lại không đồng nhất với nhu cầu, có nhiều khi
hứng thú không chỉ dừng lại ở nhu cầu. Trong thực tế có nhiều trƣờng hợp
hứng thú và nhu cầu không trùng khớp với nhau. Nhu cầu là sự cần thiết và
trong cuộc sống có những cái ta cần mà ta không thích nó. Chẳng hạn, có HS
không thích học Văn học Trung Quốc nhƣng vì nhu cầu cần đạt điểm cao

Trích đoạn Các nội dung của dạy học nêu vấn đề trong dạy học các bài học về Công nghệ thông tin với việc tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các bài học về Nội dung thực nghiệm Phƣơng pháp tiến hành và cách tiếp cận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status