O
VÕ THỊ
NỢ
(Trường
THCS
Nhơn
Mỹ
- Chợ Mới)
Giải
B
I.
ĐẶT VẤN
ĐỀ:
* Lí do
có sáng kiến
kinh nghiệm:
Hóa học là môn học rất mới mẽ đối với học
sinh
lớp
8.
Những khái niệm hóa học rất khó
hiểu, nó
trừu tượng, khô
khan
dễ làm
cho
người học chán nản, khó tiếp
thu
kiến thức v
à
Bản thân yêu nghề mến trẻ,
thích tìm
tòi sáng tạo và học hỏi để nâêng
cao tay
nghề.
Luôn ước
muốn
đem
lại
cho
các
em
những kiến thức bổ
ích
và nhiều niềm
vui trong
giờ học
hóa
học.
Từng bước xây dựng nên trường học thân thiện
theo
yêu cầu của ngành đề
ra.
Một số học
sinh
có
hoàn cảnh khó khăn mồ côi
cha
mẹ không
kết bạn bè. Đồng thời biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống
gia đình
hằng
ngày.
* SKKN
đã giải quyết khó khăn
trong
công
tác
:
Xóa dần khoảng cách giữa thầy và
trò,
xây dựng lớp học đoàn kết,
vui
vẻ,
thoải mái, biết
thương
yêu
giúp đỡ
nhau.
Luôn tạo
cơ
hội
cho
học
sinh
học
của học
sinh.
Khuyến
khích
sự chuyên cần,
tích
cực chủ động sáng tạo và
ý
thức
vươn
lên, rèn luyện
khả
năng
tự học của học
sinh.
Thực hiện tốt tiết học thân thiện học
sinh
sẽ yêu
thích
môn
học,
thấy rằng
thầy
cô là
chỗ
dựa tinh
thần, trường học
là ngôi nhà thứ
học
sinh
yêu
thích
môn học
cần phải tạo
cho
không
khí vui tươi,
học
sinh
không
e
ngại trước thầy cô, mạnh dạn đề xuất với
bạn bè,
quan
tâm và giúp đỡ lẫn
nhau.
Theo
tôi cần xây dựng một số
phương
pháp
như
sau:
Lồng ghép nhiều trò
chơi
giải
trí
hiểu hoàn cảnh
gia đình
của các
em
thông
qua
giáo viên chủ nhiệm
.
Giao
việc về nhà cụ thể rõ
ràng, không nói
chung chung
nhằm tạo điều kiện
cho
học
sinh
yếu kém
phấn đấu
vươn
lên, tránh trường hợp
quá tải đối với các
em
này.
Không đặt nặng việc kiểm
tra
bài cũ
để tránh trường hợp các
em lo
sợ
thú, một số
em
không hề
quan
tâm
đến
tiết
học,
rất chán nản,
xem
giờ
học
Hóa
như
một
cực hình
vậy. Nhiều câu
hỏi
luôn đặt
ra trong
tôi. Tôi tự
hỏi
: Vì sao
cũng thực hiện đủ các bước lên lớp, cũng
sử
dụng đồ dùng
dạy học đầy đủ
nhưng
thiện.
III.
BIỆN PHÁP
VÀ QUÁ
TRÌNH
TỔ
CHỨC:
1.
Trước đây: Từ năm học
2007-2008
trở về trước,
ở
từng tiết dạy tôi đều thực hiện
đầy
đủ
các
bước lên lớp,
sử
dụng đầy
đủ
thí
nghiệm thực hành, truyền
tải đầy đủ nội
dung
của
SGK,
nhưng
lại
ít quan
bò căng thẳng làm
cho
tiết học
mang
không
khí
nặng nề. Thường
thì
để
tranh
thủ thời
gian
truyền tải hết kiến thức nên
hay
gọi học
sinh
1
khá
–
giỏi,
hay
các
em giơ tay xin
phát biểu mà bỏ quên
đi
những
em
yếu kém. Thế rồi những
em
này càng ngày sẽ
học
chưa
đoàn kết, thầy trò
chưa
thân
thiện.
2.
Hiện
nay: (
Từ
khi
áp
dụng
SKKN
)
Vào đầu năm học
2007-2008, sau khi
giảng dạy khoảng
3
tuần lễ, tôi có gọi
em
Mỹ
Linh
lên trả
bài,
em
này không thuộc. Tôi
cho
về chỗ ngồi và bảo lần
ngồi xuống
đi
để học bài mới.
Em
Linh
vẫn đứng lặng
im
rồi
hai
dòng lệ
tuôn trào. Thế rồi tôi đến gần và hỏi
em vì sao em
khóc.
Em
nói,
vừa
qua
ba
mẹ cãi
nhau,
mẹ bỏ
về
ngoại
ở
Kiên
Giang, ba vì
buồn nên cũng bỏ nhà
đi
luôn. Mấy ngày
nguyên
nhân lại
vội vàng phán
quyết, chưa
gần
gũi
với
các
em
nên các
em chưa
có
cơ
hội
tỏ
bày. Tôi
vỗ về
an
ủi
Linh
và nói:
Khi em
có gặp khó
khăn
gì thì
phải nói
ra cho
8A1
có một học
sinh
tên là
Kim
Ngân rất
xuất
sắc,
em
học rất chăm.
Em
là học
sinh
đã được “để
mắt”
chọn
thi
học
sinh
giỏi
cho
năm học
sau.
Nhưng
thật
bất ngờ lần kiểm
tra 1
tiết đầu tiên
em
mắng
cho
một trận.
Nhưng
lời nói của tôi
hình như em
không
nghe
thấy,
em nhìn qua
cửa sổ
với ánh mắt
xa
xăm,
rồi nức nở
nghẹn ngào. Thấy vậy,
tôi
đến gần và hỏi:
Em
có
sao
không?
Sao
em
lại khóc
?
Chuyện
em ra
ngoài sân ngồi
ở
ghế
đá dưới bóng cây bàng. Tôi hỏi
em
đã
phải
gặp chuyện
gì,
có khó khăn
gì thì
nói
ra
để mọi người hiểu và
chia
sẻ. Ngân bảo:
Thưa
cô,vừa
qua
ba em
nhậu với ông chú, ông chú này
không
có
người thân nên
ba em đem
về
đầu.
Kết
quả ngày hôm
sau
ông chú mất. Bây giờ
ba em đi
tù,
còn mẹ
thì
bò nợ nần
la
mắng tối ngày,
em
không
còn
tâm
trí gì
để mà học nữa cô
ơi. Nghe
câu
chuyện
tôi
cảm động không dằn lòng được, cũng khóc
theo em.
Tôi
an
giúp đỡ
em trong
lúc khó khăn này. Thế rồi lòng
tương
thân,
tương
ái của các
em
học
sinh trong trường
cũng đã đóng góp được gần
1
triệu đồng để giúp đỡ
cho em Kim
Ngân. Giáo
viên trong
trường cũng chung 1
tấm lòng đã giúp đỡ
cho
Ngân
hơn
một triệu nữa để
cho em
có
3
thêm nghò
lực
tiếp
tục
việc học của
cô
đi ngang
muốn hỏi
đi
cùng
nhưng em
không dám và
những ngày đó
phải nghỉ học”. Kể
từ
đó những ngày
đi
dạy cùng buổi
với
em
tôi thường đón
em đi
học.
Trong
những lần chở
em
đến trường, tôi hỏi
em vì sao
học lực những năm trước thường
hay
bò yếu.
Em
bảo rằng bởi
vì
không hiểu kòp. Có
khi em
muốn hỏi
thầy cô bài tập
nhưng em
không dám
vì
sợ bò
la
mắng. Bài tập
cho
về nhà quá nhiều
làm
cho em
ngán
ngẫm
rồi chẳng muốn làm, dần dần
em
bò hỏng kiến thức.
Hơn
nữa, lớp học
không
khí
chẳng
vui
vẻ
gì
nên tụi
em
chưa
thân thiện,
ở
đòa bàn nông thôn có
nhiều
em
hoàn cảnh còn khó
khăn nên
trong
tôi nảy
sinh
ý
nghó
phải
thay
đổi
phương
pháp
dạy học
trong
từng tiết dạy
ở
môn hóa học để
đem
lại niềm
vui cho
các
em khi
đến trường. Thế
tra 10
phút để phát
hiện học
sinh
yếu kém, có hoàn cảnh khó khăn và
tìm cơ
hội làm
quen
với những
đối
tượng này để hiểu
được
các
em.
Sau
đó tôi
thường
theo
dõi những đối
tượng
này để nhắc nhở các
em trong
học tập.
Khi
phát hiện
các
em
viết bài không kòp tôi nói chậm lại. Giờ làm bài tập
sau khi h
-
giỏi. Thường xuyên tuyên
dương
các
em khi
trả lời
đúng. Bên
cạnh đó,
tôi cũng
quan
tâm đến học
sinh
khác một cách công bằng nhằm tạo
tình
cảm tốt với học
trò,
khuyến
khích
sự
ham
học của các
em,
giúp các
em
đoàn kết giúp đỡ
nhau trong
học tập.
Dưới đây,
tôi sẽ
môn học này xuất phát chỗ học
sinh
không viết được
CTHH. Vì
từ
CTHH
viết không đúng
sẽ dẫn đến
PTHH
sai.Từ đo,ù các
em
không hiểu được
tính
chất hóa học.
Do
đó để
học sinh
yêu
thích
môn hóa
thì ngay
từ
đầu phải rèn luyện
cho
học
sinh
cách viết
CTHH
dựa
theo
Cuối cùng
hiện
chú
Bari
Hóa trò
II
đấy có
gì
khó
khăn
Bác Nhôm hóa trò
III
lần
Ghi
sâu v
ào
trí khi
cần nhớ
ngay.
Cacbon,
silic
này đây
Hóa trò
tư ( IV)
đấy chớ ngày nào
quên
Sắt
kia
cũng chẳng quên têân.
rằng năm
Ai ơi
cố
gắng
học chăm
Sao cho
hóa trò nửa năm thuộc
lòng”.
Qua
bài
thơ
học
sinh
nhớ được hóa trò các
nguyên
tố
hóa học thường gặp một cách
nhanh chóng.
I: Kali,
iôt,
hidro, natri,
bạc.
Clo.
II :Magie,
kẽm, thủy ngân,
canxi,
đồng,
oxi.
III : Nhôm
IV : Cacbon, silic
I
Cl
I
ỈKCl ; Mg
II
O
II
Ỉ
MgO.
- Khi hai
hóa trò khác
nhau
(a
≠
b) nhưng
lại là số tối giản
thì cho
nghòch đảo
(a=y, b=x)
VD : Al
III
O
II
Ỉ Al O
x y 2
3
P
V
)
là số tối giản của
(x,y)
VD : S
IV
O
II
Ỉ
SO
x y
2
C
IV
O
II
x y
Ỉ
CO
2
Hóa học là môn
khoa
học,
đi
từ trực
quan sinh
động đến
tư duy
trừu tượng.
V
à
hơn trong
học tập.
Vì
vậy
ngay
từ
tiết thực hành đầu
tiên giáo
viên
hướng dẫn
cho
các
em
thật kó các
thao
tác
thí
nghiệm, cách lấy hóa chất, cách
sử
dụng đèn
cồn,
sử
dụng ống nghiệm không
bò vỡ, rèn luyện
tính
cẩn thận
cho
các
em khi
nghiệm,
kẹp gỗ, đèn cồn, cốc thủy
tinh,
đũa thủy
tinh,
đế sứ, muối sắt, ống
đong,
giá
thí
nghiệm bằng sắt, lọ đựng hóa
chất,
bình tam
giác
thu khí, bình
cầu,
chén
sứ, phễu, giấy
lọc, ống dẫn
khí:
-
Kẹp ống nghiệm
từ
miệng xuống
1/3.
-
Điểm nóng nhất của đèn cồn là
2/3
ngọn lửa.
thìa,
không dùng
tay.
-
Hóa chất dùng
xong
nếu có
thừa, không được đổ lại
bình chứa.
-
Hóa chất phải đựng
trong
lọ có
nhãn.
-
Không nếm hoặc ngửi trực tiếp hóa
chất
Khi
hướng dẫn thực hành
thí
nghiệm
đối với học
sinh
lướp
8
giáo viên nên thực hiện
trước để các
em
làm
mà học. Bước đầu đã tạo
cho
các
em
có
một trò
chơi vui tươi,
thoải
mái.
Với tâm trạng náo nức sẽ
tìm ra
đáp án đúng để được
khen
là
một
động lực lớn giúp các
em
học tập
tốt
hơn.
Cách này học
sinh
sẽ dễ khắc sâu kiến
thức.
VD.
Để tổng kết các khái niệm trừu tượng
ở
chữ cái: Chỉ khái niệm được
đònh
nghóa
là gồm nhiều
chất trộn lẫn
vào
nhau.
-
Hàng
ngang
thứ
3
gồm
7
chữ cái: Khối
lượng nguyên
tử tập
trung
hầu hết
ở
phần
này.
-
Hàng
ngang
thứ
4
gồm
8
hợp
những nguyên
tử cùng
loại.
-
Từ
chìa
khóa có
6
chữ cái.
Hoặc để
đi
vào bài không
khí
sôi nổi, hào hứng, giáo viên cũng có thể
cho
học
sinh
giải ô
chữ.
VD:
Dạy bài” Nguyên
tố hóa học” giáo viên
cho
học
sinh
giải ô
chữ.
Ô
chữ gồm
cho
học
sinh
giải ô chữ
,
ô
chữ gồm
3
chữ cái.
Nguyên
tố hóa học rất cần thiết
cho
sự hô
hấp.
O X I
Vậy
oxi
có
tính
chất
như
thế nào? Màu sắc, mùi vò
ra sao?
Các
em
sẽ
được
tìm
hiểu
C
GV :
Nước có thành phần
như
thế nào
? Tính
chất
ra sao?
Phải
làm
gì
để
giữ
gìn
nguồn nước không bò
ô
nhiễm.
Vào
bài
:
Bài
36 : Nước.
*
Phần củng cố bài cũng không kém phần
quan trọng, nhưng
để
học sinh
thoát
khỏi sự
nội
dung
tên các
nguyên
tố hóa
học.
Đại diện
3
tổ lần lượt lên viết
KHHH v
ào
tên nguyên tố.
Trong
thời
gian 1
phút
30
giây.Đội
nào
viết đúng nhiều nhất sẽ được điểm thưởng
là
điểm cộng
cho
phần trả
bài.
trò
chơi
sau:
+ 3
Miếng
bìa
số
2
+ 2
Miếng
bìa
số
3
+ 1
Miếng
bìa
số
4
+ 5
Miếng
bìa
có
ghi
*
Mỗi đội có
1
bảng phụ được
treo
trên bảng, nội
dung như
sau:
t
đó lần lượt từng
em
lên dán những miếng
bìa
của
mình
vào chỗ
thích
hợp
sao
cho
được các
phương trình
hóa học đúng (Thời
gian
dán
2 phút).
-
Mỗi học
sinh
chỉ được dán
1
miếng
bìa
và không được lên dán
2
lần.
t
o
a/ 2 Al + 3 Cl
dễ tiếp
thu
bài
hơn.
VD 1:
Để học
sinh
dễ hiểu hệ số của
PTHH
giáo viên gọi
3
hoặc
4
học
sinh
lên bảng
đứng
thành
hàng dọc. Giáo viên hỏi: Có phải
em
đứng vò
trí
đầu hàng là đứng trước tất cả các
em phía sau không?
Học trả lời: Phải. Giáo viên nói
em
đứng
đầu
đại diện
cho
2
đứng trước
Mg
và
O thì
chỉ
2
nguyên
tử
Mg
và
2
nguyên
tử
O.
Vế trái có
1 Mg thì
thêm số
2 phía trước.
HS1 HS2 HS3
2 Mg O
VD2:
Để học
sinh
dễ hiểu
khi tính
thành phần
%
của một
nguyên
.
HS
dễ dàng trả lời
nam
chiếm
60%,
nữ
chiếm
40%.
GV
hỏi: Dựa vào đâu mà
em
biết, cách
tính như
thế nào.
Từ đó
GV đưa ra ví
dụ
tính % Mg, % O trong
hợp chất
MgO.
So
sánh
Mg
Ỉ
nam, O Ỉ
nữ,
MgO Ỉ
cả
lớp.
học
: MgSO , CaCO , CuSO ,
2 3 4 3
4
O
Phương
pháp
4: Thay
đổi cách kiểm
tra
bài cũ để
HS
thấy không còn bò áp lực vào
đầu tiết
học.
a/
Trước đây:
(chưa
áp dụng
SKKN)
- GV
thường
hay
đặt nặng việc kiểm
tra
bài cũ, đối với
HS
yếu thường
lo
cho
chép phạt, thậm
chí ghi
điểm
1
nhiều lần.
- GV
thường
ghi
điểm khuyến
khích cho HS
khá giỏi
khi
các
em
trả lời câu hỏi
thông
minh. Chính
điều
này đã gây
cho
các
em
có cái
nhìn
là
mình
bò phân biệt đối xử.
b/
biết
2
chất dùng để điều chế
khí oxi trong
phòng
thí
nghiệm
trong
số các
chất
sau: KClO , H O, KMnO , CaCO . (HS
yếu
– kém).
3 2 4
3
2/ Trong
phòng
thí
nghiệm,
khí oxi
điều chế bằng cách nào? Nói rõ cách
thu. (HS
trung bình).
3/
Sự khác
nhau
về việc điều chế
khí oxi trong
phòng
thí
Vì
vậy,
rất
ít
có
HS
bò điểm kiểm
tra
miệng xấu.
Khi
đó, các
em
thấy
GV quan
tâm nhiều đến các
em
nên cũng cố
gắng hơn trong nhưng
giờ học tiếp
theo.
Tuy
nhiên, bên cạnh
đó còn
tình
trạng
HS
mất trật tự
khi
kiểm
tra
được điểm tốt.
GV
tiến
hành
như
sau:
Giáo viên gọi
2
học
sinh
lên bảng để kiểm
tra
bài cũ, cách kiểm
tra
cũng
giống
như phần
trên.Tuy nhiên,
trong
lúc
2 HS
này trả bài
thì
các
HS
còn lại cũng lấy
tờ
giấy
ra
để
kiểm
tra
thường xuyên, mỗi lần
chấm
tờ
giấy
của các
em.
Giáo viên nên
cho
điểm cộng
(+ 1
hoặc
+ 2)
vào điểm trả bài của các
em. Hơn
nữa,
khi
làm bài
nhiều lần các
em
cũng nhớ được kiến thức nhiều
hơn.
VD :
Để kiểm
tra
bài phản ứng
em
cụ thể, phù hợp khả
năng v
a
ø
mức độ
tăng dần.
VD:
Dạy bài” Chuyển đổi giữa khối lượng
,
thể
tích
và lượng chất:
(
tiết
1)
a/
Đối với
HS
khá giỏi:
GV
yêu cầu
HS
chuẩn bò tiếp phần
II,
làm các bài tập
3, 4 SGK trang 67
và
bài
19.1, 19.4
thú học môn
học này
hơn. Khi
các
em
thực hiện tốt phiếu học tập,
GV
tuyên
dương khen
ngợi các
em
trước lớp.
Nếu
cần lấy điểm kiểm
tra
bài để
khích
lệ các
em.
IV.
KẾT QUẢ ĐẠT
ĐƯC:
*
Đối với bản
thân:
GV
được
HS
yêu mến, được đồng nghiệp,
kiến thức
nhanh chóng.
.
Đạt
danh
hiệu chiến só
thi đua cơ
sở
ø
năm học
2008- 2009.
*
Đối
với
học
sinh:
-
Trước
khi
áp
dụng sáng kiến
kinh
nghiệm
( 2007-2008 ):
T
ỷ
lệ học
sinh
có hứng thú học tập, nhất là học
sinh
yếu, các
em
này có nhiều
cơ
hội đóng góp
ý
kiến xây
dựng bài mới, hạn chế mất trật tự.
. HS
yêu
thích
môn học, rất sẵn sàng đón chờ tiết
học.
.
Kết quả học tập năm
sau cao hơn
năm trước,
tỉ lệ học
sinh
khá
-
giỏi ngày càng
tăng,
tỉ lệ
học sinh
yếu kém giảm hẳn.
*
*
Đối với
trường:
-
Tạo được nền tảng để xây dựng trường học thân
thiện
-
Tạo được
tinh
thần đoàn k
ết
của học
sinh trong
lớp,
trong trường.
-
Nâng dần chất lượng dạy
và học
ở
môn hóa
học.
*
Đối với
ngành:
-
Nâng
cao
chất lượng
hai
lại kết
quả tốt nhất
cho
học
sinh.
Học
sinh
có truyền thống
kính
thầy mến
bạn,
đoàn kết, giúp đỡ lẫn
nhau trong
học tập.
Có sự bàn bạc với tổ
chuyên môn, sự đóng góp
ý
kiến nhiệt
tình
của
HĐBM, BGH,
đồng
nghiệp,
động viên
khen
thưởng kòp thời.
Phối hợp nhòp nhàng với
GVBM
khác, với
đi
làm thuê, phụ giúp
gia đình
nên việc học hành không được liên tục khiến các
em
cũng bò hụt hẫng về kiến thức.
*
Hướng giải
quyết:
Hạn chế của giáo viên bản thân luôn cố gắng để dạy tốt môn học này. Còn về
phía
học
sinh
bản
thân đề xuất
BGH
nhà trường,
chính
quyền đòa
phương,
các tổ chức đoàn thể, các nhà
hảo tâm cùng
chung
tay
giúp đỡ để các
em
được yên tâm đến
trường, nâng
bỏ học, các
em
yêu
thích
môn
học.
*
Đối với bản
thân:
Tạo
cho
học
sinh
không
khí
lớp học
vui
vẻ, học
sinh
biết lónh hội được kiến thức.
Đem
lại niềm
say
mê
trong
học tập của học
sinh
*
Đối
chuẩn
bò nhiều bảng phụ
cho
phần trò
chơi
và
phiếu học tập. Còn
ở
vùng thành thò, việc áp
dụng
công nghệ thông
tin
sẽ
tăng thêm phần hấp dẫn. Bên cạnh
đó, có thể áp
dụng
cho
khối khác, các
môn học khác góp phần xây
dựng
nên trường học thân
thiện.
VIII.
BÀI
HỌC
KINH NGHIỆM:
Để thực hiện thành công, yêu cầu người giáo viên phải có
bước chuẩn bò trò
chơi
thiện”.
Giáo viên cần giáo dục
cho
các
em
ý
thức tự giác, phải học bài, ôn
bài
kó để đạt được
điểm tốt.
Giáo
viên phải tìøm hiểu tâm
lí
từng học
sinh
cá biệt
kích thích
đúng chỗ. Từ đó các
em
thích
môn
học
kết quả học tập tốt
hơn.
Giáo viên cần phải kiên
trì,
bền bỉ, gần gũi, thân thiện với các
hội
sửa đổi đến lần thứ
3,
nếu các
em
tiếp tục
thì
mời riêng dể
trao
đổi, phân
tích
đúng
sai
để các
em
khắc
phục
dần.
Tuy
nhiên cũng cần
thay
đổi trò
chơi
khác
cho
tiết
dạy
thêm
sinh
lượng 2
mặt giáo
dục cho ngành.
Bên cạnh
đó, nó còn nâng
cao
công tác
duy trì
só số, giảm
bớt áp lực trẻ bỏ học
cho gia đình
và nâng
cao
dân
trí
đòa
phương.
Thực hiện tốt
SKKN
trên
còn góp phần xây dựng
con
người
HS
phát triển toàn diện,
ý
thức
tự