bài báo cáo thực tập về quy trình sản xuất phân urê - Pdf 24

BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
MỞ ĐẦU
Theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, áp lực của nền kinh tế thế giới
buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải trở mình để hội nhập và phát triển phù
hợp, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp nước ta. Để
vượt qua những thách thức đó không những đòi hỏi các doanh nghiệp phải
biết áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, nâng cao chất lượng sản
phẩm…….mà còn kiểm soát tốt chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trong các năm trước đây, nền nông nghiệp của nước ta phải dung phân
bón do nước ngoài cung cấp nên giá cả bất thường và nước ta phải phụ thuộc
vào các nước trên thế giới. do vậy, để phục vụ nhu cầu đó tổng công ty phân
bón và hóa chất dầu khí – công ty cổ phần được thành lập để góp phần tạo
cho các nông dân có được các phân bón tốt cho cây trồng mà còn giá cả hợp lí
và góp phần tạo cho nền nông nghiệp nước ta được giàu mạnh.
Hiện nay tổng công ty đã cung cấp cho thị trường trong nước khoảng
50% nhu cầu phân đạm urê (tổng nhu cầu sử dụng phân đạm urê cả nước bình
quân khỏang 1,7-1,8 triệu tấn /năm) và 40% nhu cầu khí amoniac lỏng được
sản xuất từ nhà máy Đạm Phú Mỹ.
Vì vậy, em lựa chọn quy trình sản xuất phân urê là đề tài mà em làm
báo cáo tốt nghiệp.
1
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY
ĐẠM PHÚ MỸ
2
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Nhà máy Ðạm Phú Mỹ trực thuộc Công ty Cổ phần Phân Ðạm
và Hoá chất Dầu khí, được đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ I, huyện Tân
Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Nhà máy có vốn đầu tư 450 triệu USD, có diện
tích 63ha, là nhà máy đạm đầu tiên trong nước được xây dựng theo dây

sẽ được chuyển sang
phân xưởng urê.
1.2.2 Phân xưởng tổng hợp urê
Có chức năng tổng hợp Amôniắc và CO
2
thành dung dịch urê.
Dung dịch urê sau khi đã được cô đặc trong chân không sẽ được đưa đi tạo
hạt. Quá trình tạo hạt được thực hiện bằng phương pháp đối lưu tự nhiên
trong tháp tạo hạt cao 105m. Phân xưởng urê có thể đạt công suất tối đa
2.385tấn/ngày.
1.2.3 Phân xưởng phụ trợ
Có chức năng cung cấp nước làm lạnh, nước khử khoáng, nước
sinh hoạt, cung cấp khí điều khiển, nitơ và xử lý nước thải cho toàn nhà máy,
có nồi hơi nhiệt thừa, nồi hơi phụ trợ và 1 tuabin khí phát điện công suất 21
MWh, có bồn chứa Amôniắc 35.000 m
3
tương đương 20.000 tấn, dùng để
chứa Amôniắc dư và cấp Amôniắc cho phân xưởng urê khi công đoạn tổng
hợp của xưởng Amôniắc ngừng máy.
4
Hình 1.1: Xưởng sản xuất Amoni
Hình 1.2: Xưởng sản xuất URÊ
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
1.2.4 Xưởng sản phẩm
Sau khi được tổng hợp, hạt urê được lưu trữ trong kho chứa urê
rời. Kho urê rời có diện tích 36.000m
2
, có thể chứa tối đa 150.000 tấn. Trong
kho có hệ thống điều hoà không khí luôn giữ cho độ ẩm không vượt quá 70%,
đảm bảo urê không bị đóng bánh. Ngoài ra, còn có kho đóng bao urê, sức

PHÓ TGĐ ĐẦU TƯ
TÝ XÂY DỰNG
BAN QUẢN
LÝ ĐTXD
HỘI ĐỒNG
THÀNH VIÊN
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TGĐ
KỸ THUẬT
PHÒNG
KỸ
THUẬT
PHÒNG
KINH TẾ
KẾ HOẠCH
GIÁM ĐỐC
NHÀ MÁY
NHÀ
MÁY
ĐẠM
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
1.5. AN TOÀN LAO ĐỘNG
Do đặc thù nhà máy là nguy cơ cháy nổ cao nên vấn đề an toàn
cháy nổ được nhà máy rất quan tâm.
Mỗi công nhân viên trong nhà máy khi vào cổng công nghệ là
phải trang bị đồ bảo hộ trước khi vào cổng công nghệ.
Nghiêm cấm hút thuốc lá trong nhà máy, cấm mang theo những
vật dụng gây nổ vào trong nhà máy.
1.5.1 Các tiêu chuẩn áp dụng trong phòng cháy và chống cháy
• TCVN-2622(1995): Phòng cháy và chống cháy cho nhà và công trình-Yêu

1.5.2 Các chất có thể gây cháy nổ
Hợp chất
hóa học
Cấp độ
cháy nổ
(NFPA)
Giới hạn
cháy nổ
(C)
(khí)
Nhiêt độ
bốc cháy
(C )
(khí)
Điểm
bốc cháy
(C)
(lỏng)
Phương
pháp cứu
hỏa
(NFPA)
Phương
pháp cứu
hỏa
(NFPA)
Amonia 1 15/28 651 Gas - 33 6
Metan 4 5/15 537 Gas -162 6
Hydro 4 4/75 500 Gas -252 6
MDEA 1 - - 127 240 2

/h. Áp suất xả của bơm là 9 bar.
Đường ống nước chữa cháy được đặt theo kiểu một vòng kín, với
các van cách ly được đặt tại các vị trí chiến lược cứu hỏa.
• Các hệ thống dập lửa kiểu xả khí tràn.
• Các hệ thống dập lửa kiểu xả khí tràn khí CO2.
• Lắp đặt để bảo vệ các trạm điện.
• Thiết kế và lắp đặt theo tiêu chuẩn NFPA12 và ISO – 6183.
Được kích hoạt tự động bởi các thiết bị dò khói gắn với bảng
điều khiển chữa cháy nội bộ.
8
Bảng1.2 : Các Chất có thể gây cháy nổ trong nhà máy
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
Các hệ thống dập lửa kiểu xả khí tràn bằng hoạt chất sạch
(FM200). Được thiết kế theo tiêu chuẩn NFPA std.2001. Kích hoạt tự động
nhờ các thiết bị dò liên quan.
1.5.4 Hệ thống phát hiện lửa và khí
1.5.4.1 Phát hiện lửa
Các tín hiệu phát hiện lửa được khởi tạo bởi con người hay tự
động bởi các đầu dò.
1.5.4.2 Các nút nhấn báo động
Được phân nhóm theo từng cụm công nghệ hoặc theo các khu
vực địa lý và tín hiệu được nối tới CMFGAP trong phòng điều khiển.
1.5.4.3 Các bộ phát hiện khói
Được lắp đặt tại các trạm điện, nhà điều khiển và tòa nhà hành
chính.
1.5.4.4 Các bộ phát hiện nhiệt
Được lắp đặt tại : Khu công nghệ, các khu vực máy nén. Bên
trong trạm điện, nhà điều khiển, các tòa nhà.
1.5.4.5 Hệ thống phát hiện khí độc và khí dễ cháy
Được thiết kế và lắp đặt với khả năng theo dõi tự động và liên

11
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Urê được Hilaire Rouelle phát hiện từ nước tiểu vào năm 1773 và
được Friedrich Woehler tổng hợp lần đầu tiên từ ammonium sulfate
(NH
4
)
2
SO
4
và potassium cyanate KOCN vào năm 1828. Đây là quá trình tổng
hợp lần đầu một hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ và nó đã giải quyết được
một vấn đề quan trọng của một học thuyết sức sống.
Năm 1870, urê đã được sản xuất bằng cách đốt nóng cácbamat amôn
trong một ống bịt kín. Điều này là nền tảng cho công nghệ sản xuất urê công
nghiệp sau này.
Cho tới những năm đầu thế kỷ 20 thì urê mới được sản xuất trên quy
mô công nghiệp nhưng ở mức sản lượng rất nhỏ. Sau đại chiến thế giới thứ II,
nhiều nước và hãng đã đi sâu cải tiến quy trình công nghệ để sản xuất urê.
Những hãng đứng đầu về cung cấp chuyển giao công nghệ sản xuất urê trên
thế giới như: Stamicarbon (Hà Lan), Snamprogetti (Italia), TEC (Nhật Bản)…
Các hãng này đưa ra công nghệ sản xuất urê tiên tiến, mức tiêu phí năng
lượng cho một tấn sản phẩm urê rất thấp.
2.2. TÍNH CHẤT
2.2.1. Tính chất vật lý
Urê có công thức phân tử là CON
2
H
4

C)
73% (30
0
C)
Nhiệt riêng, J/Kg.K

1439
1,661
1,887
2,10
ở 0
0
C
50
0
C
100
0
C
150
0
C
Hàm lượng Nito 46,6% N
Tính chất hút ẩm, kết tảng của Urê
Urê là chất dể hút ẩm từ môi trường xung quanh tại một nhiệt độ
nhất định ứng với áp suất riêng phần của hơi nước trong môi trường lớn hơn
áp suất hơi nước trên bề mặt urê. Urê sẽ hút ẩm khi độ ẩm môi trường xung
quanh lớn hơn 70%, nhiệt độ 10-40
0
C.

2
CO + 3H
2
O > CO
2
+ 2NH
4
OH
Trong không khí ẩm:
2NO + (NH
2
)
2
CO + ½O
2
= 2N
2
+ H
2
O + CO
2
14
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
Về mặt thương mại, urê được sản xuất ra bằng cách loại nước trực tiếp
cacbamat amôn NH
2
COONH
4
ở mức áp suất và nhiệt độ nâng. Người ta thu
được cacbamat amôn bằng cách cho phản ứng trực tiếp NH

3
lỏng và hình thành hợp chất urê-amoniac hỗn hợp không ổn định
CO(NH
2
)
2
NH
3
phân hủy ở 45
0
C. Urê-Amoniac tạo ra các muối với các chất
kim loại kiềm như NH
2
COHNM hoặc CO(NHM)
2
. Việc chuyển hóa urê thành
biuret được xúc tiến ở điều kiện nhiệt độ thấp, áp suất cao và gia nhiệt kéo
dài. Ở điều kiện áp suất thấp 10-20 MPa (100-200 atm), khi đốt nóng cùng
15
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
với NH
3
biuret sẽ tạo thành urê.
Urê phản ứng với nitrat bạc AgNO
3
với sự có mặt của hydroxid natri
NaOH, sẽ tạo thành chất dẫn xuất (5) màu vàng nhạt. Hydroxid natri xúc tiến
làm thay đổi urê sang dạng imit (6).
Sau đó phản ứng với nitrat bạc. Các tác nhân oxi hóa với sự có mặt
của natri hydroxidsẽ chuyển hóa urê thành nitơ và dioxid cacbon. Chất sau

Urê được dùng làm phân bón, kích thích sinh trưởng, giúp cây phát
triển mạnh, thích hợp với ruộng nước, cây , rau xanh, lúa… Urê cứng có chứa
0,8 đến 2,0% trọng lượng biuret ban đầu được bón trực tiếp cho đất dưới dạng
nitơ. Các loại dịch urê loãng hàm lượng biuret thấp (tối đa khoảng 0,3%
biuret) được dùng bón cho cây trồng dưới dạng phân bón lá.
Trộn lẫn với các chất phụ gia khác urê sẽ được dùng trong nhiều loại
phân bón rắn có các dạng công thức khác nhau như photphat urê amôn
(UAP); sunphat amôn urê (UAS) và urê phophat (urê + acid photyphoric),
các dung dịch urê nồng độ thuộc nitrat amôn urê (UAN) (80-85%) có hàm
lượng nitơ cao nhưng điểm kết tinh lại thấp phù hợp cho việc vận chuyển lưu
thông phân phối bằng hệ thống ống dẫn hay phun bón trực tiếp.
Là chất bổ sung vào thức ăn cho động vật, nó cung cấp một nguồn
đạm cố định tương đối rẻ tiền để giúp cho sự tăng trưởng.
Urê được dùng để sản xuất lisin, một acid amino được dùng thông
dụng trong ngành chăn nuôi gia cầm.
Các loại nhựa urê được polyme hóa từng phần để dùng cho ngành
công nghiệp dệt có tác dụng làm phân bố đều các thành phần ép của các chất
sợi.
Nguyên liệu cho sản xuất chất dẻo, đặc biệt là nhựa urê-fomanđêhyt.
Urê (cùng với Amoniac) phân hủy ở nhiệt độ và áp suất cao để sản xuất các
17
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
loại nhựa melamin.
Là chất thay thế cho muối (NaCl) trong việc loại bỏ băng hay sương
muối của lòng đường hay đường băng sân bay. Nó không gây ra hiện tượng
ăn mòn kim loại như muối.
Là một thành phần bổ sung trong thuốc lá, nó được thêm vào để tăng
hương vị.
Đôi khi được sử dụng như là chất tạo màu nâu vàng trong các xí
nghiệp sản xuất bánh quy.

thành Cathrat.
Đặc tính này của cathrat urê được áp dụng thông thường trong ngành
lọc dầu để sản xuất nhiên liệu dùng trong ngành hàng không (xem Aviation
and other gas-turbin Fuels)và dùng để khử xáp các loại dầu bôi trơn (xem
Petroleum Refinery Processes). Các chất cathrat dễ vỡ khi ta đem hòa tan urê
trong nước hay trong rượu.
2.4. Những nét nổi bật về phân urê
Trong số các sản phẩm hoá học được sử dụng phổ biến làm nguồn
cung cấp phân đạm cho cây trồng như: Sulphur Ammonium (SA), Nitrat
Ammonium (NH
4
NO
3
), urê… thì urê được sử dụng nhiều hơn cả vì những đặc
tính vượt trội của nó về mọi phương diện.
Bằng chứng là sản lượng tiêu thụ urê (trên toàn thế giới)
Năm 1973 1997 2003 2007
Tiêu thụ
(Triệu tấn)
8,3 37,6 50 116,7
19
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
2.4.1 Ưu điểm của Urê
Urê có thể được dùng bón cho cây trồng dưới dạng rắn, dạng lỏng
tưới gốc hoặc sử dụng như phân phun qua lá đối với một số loại cây trồng.
Khi sử dụng urê không gây hiện tượng cháy nổ nguy hiểm cho
người sử dụng và môi trường chung quanh (Nitrat Ammonium rất dễ gây
cháy nổ).
Với hàm lượng đạm cao, 46%, sử dụng urê giảm bớt được chi phí
vận chuyển, công lao động và kho bãi tồn trữ so với các sản phẩm cung cấp

o
C 25
o
C 32
o
C
0 0 0 0 0
2 0 0 1 2
4 2 2 4 5
6 5 6 7 10
8 5 7 12 19
10 6 10 14 20
Bảng 2.3 : Tỷ lệ % lượng urea mất đi do sự bay hơi ammonia theo độ pH của
đất
Ngày
nay khoa
học đang
nghiên cứu
sử dụng
phân đạm
dạng nhũ
tương, tức là
không tưới
phân trên mặt như hiện nay nữa mà sẽ đưa xuống dưới phần gốc cây sau đó
cây sẽ hấp thụ đạm một cách từ từ. Cách làm này nếu thực hiện tốt sẽ là một
bước tiến dài trong lĩnh vực nông nghiệp.
21
Độ pH của đất
Thời gian
(Ngày)

xuất trong nước khoảng 4,7 triệu tấn, nhập khẩu 3,5 triệu tấn.
Năm 2007, kế hoạch sản xuất của 2 nhà máy phân đạm Phú Mỹ và
Hà Bắc khoảng 900.000 tấn, tăng 8,4% so với 2006, nhập khẩu khoảng
900.000 tấn, giảm 10% so với 2006. Để bình ổn thị trường phân urê năm
2007, Bộ cũng đưa ra một số giải pháp đối với 2 nhà máy sản xuất phân urê
trong nước phải đảm bảo kế hoạch sản xuất năm 2007, đáp ứng kịp thời nhu
22
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Thầy Dương Quốc Khanh
cầu phân bón cho sản xuất nông nghiệp theo từng mùa vụ. Bộ Thương mại,
Hiệp hội Phân bón Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ NN&PTNT về thông
tin thị trường, dự báo giá cả phân bón thế giới và trong nước, dự báo giá phân
bón thế giới từng thời kỳ để có kế hoạch định hướng cho các doanh nghiệp
nhập khẩu, đảm bảo cho các doanh nghiệp nhập khẩu, đảm bảo cung cầu cho
cả nước. Hiệp hội Phân bón Việt Nam, các doanh nghiệp nhập khẩu cần liên
kết công khai với nhau lượng tồn kho trước mỗi mùa vụ, nắm chắc thông tin
thị trường để cân đối và phân chia số lượng urê nhập khẩu để tránh rủi ro và
góp phần bình ổn giá urê khi vào vụ.
Trong vài năm tới, nhà máy Đạm Cà Mau sẽ đi vào hoạt động với
công suất 2350 tấn/ngày sẽ cung cấp cho thị trường 800.000tấn urê/năm.
Đến năm 2011 có thêm nhà máy Đạm Ninh Bình công suất 560.000
tấn urê/năm. Như vậy cả nước sẽ có 4 nhà máy Đạm cung cấp trên 2 triệu tấn
urê/năm đủ đáp ứng nhu cầu urê trong nước.
2.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ urê trên thế giới
Tổng tiêu thụ phân bón thế giới năm 2005 tăng 3,9% so với năm
2004, vào năm 2006 tiêu thụ tương đối ổn định (-0,2%) so với năm 2005. Nhu
cầu N tăng 1,1% trong khi tiêu thụ P và K giảm tương ứng là 1,3 và 3,2%.
Ở tầm khu vực, nhu cầu tiêu thụ rất khác nhau nhưng nhìn chung phát
triển tương đối ổn định do có trợ giá phân bón nên giảm tác động của việc
tăng giá phân bón trong khi giá mặt hàng nông nghiệp lại thấp.
Bảng 2.4: Tiêu thụ phân bón toàn cầu, 2004/05 đến 2007/08


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status