THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI
NGŨ CÔNG CHỨC, GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THCS CHÂU BÌNH, QUỲ
CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
1. Lý do chọn đề tài.
Chúng ta đang ở trong một thời kỳ mà đời sống kinh tế xã hội cả ở trong nước
và trên thế giới có nhiều thay đổi và biến động sâu sắc. Quá trình toàn cầu hoá
đang có những chuyển biến nhanh chóng tác động mạnh mẽ tới mọi quốc gia, đòi
hỏi các nước phải có xu thế của sự hội nhập. Ở nước ta, tuy còn nghèo và lạc hậu
nhưng không thể đứng ngoài xu thế chung của thời đại, mặc dù biết rằng để hội
nhập có kết quả thì phải vượt qua nhiều khó khăn không nhỏ. Với xu thế đáp ứng
cho sự tăng trưởng bền vững, tiến tới nền kinh tế tri thức. Vì vậy, chúng ta không
có cách nào khác là phải ra sức bồi dưỡng, phát huy và khai thác mọi tiềm năng về
tri thức của đất nước mà nền tảng là Giáo dục và Đào tạo. Tại điều 9 luật giáo dục
khẳng định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đây cũng là con đường mà nhiều nước trên thế
giới cũng như trong khu vực đã đi qua và thực sự tạo cho họ những bước đi vững
chắc trên đà hội nhập với cộng đồng quốc tế. Do đó chúng ta không có con đường
nào khác là phải tìm ra giải pháp hữu hiệu để xây dựng một nền giáo dục tiên tiến
không thể không tính đến việc xây dựng một đội ngũ nhà giáo mà trong đó đội ngũ
giáo viên THCS cần được lưu tâm đặc biệt.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã nêu: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội
tôn vinh” Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã yêu
cầu: “Bố trí cán bộ quản lý các cấp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán
bộ; xây dựng kế hoạch đào tạo lại đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục, đảm bảo
đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới; hoàn
thiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và CBQL”
Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
VIII về chiến lược có đoạn ghi "Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng
chương trình đào tạo bồi dưỡng, thống nhất hệ thống nhà trường, nội dung đào
được vi tính và phần mềm hoá, kế hoạch quản lý thông tin giữa nhà trường, gia
đình, xã hội được mở rộng với website riêng của đơn vị: www.thcs-chaubinh-
nghean.edu.vn
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ
công chức, giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Hiệu trưởng đã có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ công chức, giáo viên một cách rõ
ràng, khoa học. Nội dung và hình thức bồi dưỡng tương đối phong phú đáp ứng
yêu cầu đặt ra, cụ thể:
- Nội dung bồi dưỡng:
Chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh
làm trung tâm. Nâng cao chất lượng dạy học các bộ môn bám chuẩn kiến thức, các
chủ đề tự chọn của chương trình THCS.
- Hình thức bồi dưỡng:
+ Ngoài cách làm thường xuyên như: Dự giờ, thao giảng, thực tập sư phạm
Hiệu trưởng còn tổ chức hội thảo chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, hội
2
thảo chuyên đề về dạy học các môn học theo chương trình THCS, mời chuyên gia
của Phòng giáo dục về dự giờ để xây dựng, đóng góp ý kiến cho đội ngũ giáo
viên trường mình.
+ Xây dựng chương trình bồi dưỡng hàng kỳ, hàng năm.
+ Tạo mọi điều kiện để cho giáo viên được tham gia các hội thảo chuyên đề
về đổi mới phương pháp dạy học, chuyên đề dạy học chương trình chuẩn kiến thức
kỹ năng của cấp học.
+ Hiệu trưởng rất coi trọng công tác bồi dưỡng của tổ, khối chuyên môn.
+ Hiệu trưởng cũng đã quan tâm đến công tác tự học tự bồi dưỡng của giáo
viên. Ngoài ra còn coi trọng công tác bồi dưỡng cán bộ nguồn, đội ngũ cốt cán.
b. Hoạt động của Phó hiệu trưởng.
Chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng:
Phối kết hợp với các đoàn thể, tập thể giáo viên trong trường, thực hiện tốt
chất lượng dạy và học.
được nâng cao đáng kể nhưng chủ yếu qua các hệ đào tạo tại chức, cử tuyển hoặc
đào tạo từ xa nên chất lượng còn hạn chế. Giáo viên trẻ được đào tạo chính quy ở
các trường sư phạm chất lượng khá hơn nhưng lại ít được tuyển dụng vào biên chế,
nên mặc dầu số lượng giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở các trường có tăng lên
nhưng chất lượng giáo dục chưa được cải thiện tương xứng với trình độ đào tạo
của đội ngũ giáo viên. Đối với đội ngũ giáo viên THCS Châu Bình cũng không
nằm ngoài những hạn chế trên.
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước cần phải thường xuyên xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên.
3. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân.
a. Những tồn tại, hạn chế.
Mặc dù trong những năm qua cán bộ quản lý (CBQL) nhà trường cũng đã chú
trọng đến công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ công chức, giáo viên song vẫn
còn có những hạn chế nhất định, đó là:
- Công tác kiểm tra, đánh giá tiến hành chưa thường xuyên. Việc đánh giá
phân loại giáo viên theo Quyết định 86 của UBND tỉnh Nghệ An, thông tư 30/2009
của Bộ GD&ĐT đánh giá chuẩn giáo viên THCS vẫn còn lúng túng.
- Vấn đề thực hiện chế độ chính sách bồi dưỡng cho giáo viên dạy thêm giờ
chưa cao, chưa thực sự động viên được giáo viên.
- Thời gian dành cho công tác bồi dưỡng giáo viên còn quá ít.
- Đội ngũ cốt cán để bồi dưỡng cho giáo viên năng lực còn hạn chế.
b. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế.
- Đặc điểm tình hình kinh tế địa bàn xã là vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức
của một số bộ phận cán bộ, giáo viên, nhân dân, học sinh chưa cao. Giáo viên
ngoài giờ lên lớp còn phải tất bật với việc làm nông để cải thiện đời sống gia đình.
- Vì điều kiện kinh tế của nhà trường còn eo hẹp nên chưa đáp ứng mọi nhu
cầu của giáo viên.
- Việc dạy học còn mang tính hình thức ở khâu soạn bài cụ thể: Giáo viên
phải lo dành quá nhiều thời gian cho soạn bài (chép nhiều) mà không có điều kiện
đã thực hiện ở trường THCS Châu Bình, Quỳ Châu trong những năm qua đó là:
Nghiên cứu hồ sơ, gặp riêng, quan sát, đánh giá qua công tác và sinh hoạt,
lắng nghe phân tích dư luận của tập thể giáo viên. Kinh nghiệm cho thấy biện pháp
quan sát, đánh giá kết hợp với xem xét dư luận tập thể là biện pháp chúng tôi sử
dụng nhiều nhất, gắn với chức năng kiểm tra của Hiệu trưởng. Biện pháp này
thường có độ chính xác cao, nhất là ở tập thể mạnh, dư luận quần chúng thường
công bằng và đúng mức.
2. Lập quy hoạch xây dựng đội ngũ công chức, giáo viên.
Việc lập quy hoạch xây dựng đội ngũ giúp Hiệu trưởng có tầm nhìn xa và
bao quát hơn trong công tác củng cố và bồi dưỡng đội ngũ. Quy hoạch phải nhằm
5
xây dựng cơ cấu đồng bộ và nâng dần trình độ đội ngũ. Quy hoạch đội ngũ cần căn
cứ vào thực trạng đội ngũ, kế hoạch phát triển của nhà trường trong 5 năm, đồng
thời có quy định mức độ với cấp THCS hàng năm. Quy hoạch đội ngũ phải thống
nhất với quy hoạch của phòng Giáo dục huyện. Sau đó phải được bàn bạc và thông
qua hội nghị của Chi bộ Đảng nhà trường.
Thực chất của việc lập quy hoạch là lập dự án 3 đến 5 năm về công tác xây
dựng đội ngũ, chúng tôi thực hiện trên các mặt sau đây:
* Về số lượng:
+ Dự kiến trong năm học tới cần bao nhiêu giáo viên để đáp ứng yêu cầu.
+ Dự kiến về những biến động nhân sự có thể xẩy ra như: Nghỉ hưu, thuyên
chuyển, sinh đẻ, đi học
* Về cơ cấu:
+ Hiệu trưởng căn cứ vào độ tuổi, thâm niên nghề nghiệp.
+ Căn cứ vào trình độ đào tạo
+ Cơ cấu tính theo bộ môn cho phù hợp với từng khối lớp.
* Mục tiêu bồi dưỡng công chức, giáo viên nhà trường đến năm 2015:
Mục tiêu nâng cao trình độ qua các năm
Đội ngũ
Tổng
2014
2014
2015
C B quản lý 2 2 1 2
Giáo viên 32 18 18 22 24 28 1
Nhân viên 4 1 2 2 2 4
Mục tiêu nâng cao chất lượng công chức, giáo viên qua từng năm
Đội ngũ
Tổng
số
Năng lực chuyên môn
Giỏi Khá Trung bình
2010
2011
2011
2012
2012
2013
2013
2014
2014
2015
2010
2011
2011
2012
2012
2013
2013
2014
- Phải xuất phát từ yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo và lợi ích học tập của
học sinh.
- Đảm bảo khối lượng công tác vừa phải với mỗi giáo viên, kể cả công tác
kiêm nhiệm.
- Quan tâm đúng mức tới hoàn cảnh, nguyện vọng của từng giáo viên. Lưu ý
tới các giáo viên có con còn nhỏ, chồng công tác xa, sức khoẻ hạn chế, giúp đỡ
động viên cả vật chất lẫn tinh thần những giáo viên đang tham gia học tập thêm để
nâng cao trình độ chuyên môn.
Đảm bảo sử dụng tốt đội ngũ, cần coi trọng quản lý lao động. Đối với giáo
viên là quản lý giờ lên lớp, tiến độ thực hiện chương trình, kết quả giờ dạy của
giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Hiệu trưởng cần phân công cho Phó
Hiệu trưởng cùng khối trưởng chuyên môn giúp mình quản lý chặt chẽ các mặt
đó.
4. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên của đội
ngũ công chức, giáo viên.
Điều chỉnh chương trình nội dung cho phù hợp với hoàn cảnh của nhà trường
và học sinh mà vẫn đảm bảo yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, của Bộ quy định
đúng với tinh thần đổi mới, tránh sự trùng lặp, dàn trải. Trong quản lý cần có lịch
công tác để giáo viên tiện theo dõi và sắp xếp kế hoạch riêng cho mình và từ đó
nhà trường cũng tiện cho việc theo dõi kiểm tra đánh giá hiệu quả của công tác bồi
dưỡng của đội ngũ giáo viên.
Thực tiễn đã khẳng định: Điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng là chất
lượng dạy học và giáo dục của giáo viên. Giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện
chất lượng giáo dục. Cho nên muốn có chất lượng giáo dục tốt trước hết phải xây
dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có chất lượng cao. Nội dung và hình thức bồi
dưỡng phải đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Cách làm tại đơn vị chúng tôi là:
4.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:
7
- Việc làm đầu tiên là khảo sát nắm bắt thực trạng đội ngũ, phân tích để thấy
được điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, thuận lợi.
+ Kỹ năng lập kế hoạch dạy học
+ Kỹ năng dạy học trên lớp
+ Kỹ năng tổ chức quản lý giáo dục học sinh
+ Kỹ năng giao tiếp ( thiết lập các mối quan hệ với học sinh, gia đình học
sinh, đồng nghiệp và cộng đồng ).
+ Kỹ năng lập hồ sơ tài liệu giáo dục, giảng dạy.
4.3. Hình thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng:
8
+ Bồi dưỡng tại chỗ:
Ngoài cách làm thường xuyên như dự giờ, thao giảng. Nhà trường tập trung
hội thảo chuyên đề đổi mới hình thức dạy học, thay đổi không gian lớp học, dạy
học ở hiện trường, dạy học cá nhân, tăng cường sử dụng vở bài tập, thảo luận
nhóm hơn nữa các tổ chuyên môn còn tổ chức cho giáo viên tham gia Câu lạc bộ:
Sưu tầm và thi giải toán khó THCS ; Câu lạc bộ Tiếng Anh ; Câu lạc bộ Những
người yêu Sử,…
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng hàng năm
- Coi trọng công tác bồi dưỡng của tổ, nhóm chuyên môn. Hình thức bồi
dưỡng lẫn nhau trong trường, trong khối, tổ có hiệu quả hơn hình thức bồi dưỡng
tập trung.
- Ngoài hình thức tạo điều kiện cho giáo viên tham dự các lớp bồi dưỡng, tập
huấn do Sở, Phòng tổ chức, nhà trường còn tích cực tổ chức sinh hoạt chuyên đề
hướng vào những vấn đề cần đổi mới, phát động giáo viên trong trường viết và
vận dụng các sáng kiến kinh nghiệm, tận dụng những buổi sinh hoạt chuyên môn
định kỳ 2 lần / 1 tháng ( giúp nhau kinh nghiệm dạy bài khó ), dự giờ để học hỏi và
góp ý cho nhau.
+ Bồi dưỡng tập trung:
- Đối với giáo viên nâng chuẩn, nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên đi học
các lớp đại học với điều kiện thời gian biên chế hợp lý. Tham mưu đề xuất với
PGD&ĐT cử giáo viên đi học nâng chuẩn.
- Tạo mọi điều kiện để giáo viên tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng, tập huấn:
được như: Thực hiện đầy đủ chính sách với CBGV, trong những năm qua lãnh đạo
trường THCS Châu Bình đã tham mưu với lãnh đạo các cấp để xây dựng nhà công
vụ cho giáo viên, nhằm ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt cho những giáo viên ở xa. Vận
động tập thể thực hiện phong trào “Vi tính hoá cá nhân”.
- Nhà trường đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách, đảm bảo
quyền lợi vật chất và tinh thần cho CBGV như nâng bậc lương, chuyển nghạch, có
chế độ trợ cấp khó khăn, tiền bồi dưỡng cho những đồng chí đạt danh hiệu giáo
viên dạy giỏi các cấp, những đồng chí có nhiều học sinh giỏi, những đồng chí đạt
danh hiệu chiến sỹ thi đua, có sáng kiến kinh nghiệm hay,
- Lãnh đạo nhà trường cùng ban chấp hành Công Đoàn tìm mọi biện pháp để
tăng thu nhập cho CBGV. Ngoài ra hàng năm vào dịp hè Hiệu trưởng cùng Ban
chấp hành Công Đoàn tổ chức đời sống tinh thần cho CBGV như: Tổ chức tham
quan du lịch trong và ngoài tỉnh để động viên các thầy cô, đồng thời quan tâm
thăm hỏi chăm sóc CBGV khi ốm đau, khi gặp hoạn nạn, chia sẻ niềm vui nổi
buồn với anh chị em một cách kịp thời.
- Tạo điều kiện thời gian và vật chất cho CBGV hoàn thành nhiệm vụ được
phân công như: Có đủ sách tham khảo và đồ dùng dạy học, cung cấp đầy đủ kịp
thời văn phòng phẩm, có phòng nghỉ, phòng đọc sách. Mạnh dạn giao những
phương tiện dạy học hiện đại cho giáo viên sử dụng, khai thác, ứng dụng trong
hoạt động dạy và học.
6. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quần
chúng trong trường và hội cha mẹ học sinh trong quá trình xây dựng và bồi
dưỡng đội ngũ.
Hiệu trưởng cần tranh thủ đến mức tối đa sự lãnh đạo của Đảng, sự cộng tác
của các tổ chức quần chúng và Hội cha mẹ học sinh trong việc xây dựng đội ngũ
công chức, giáo viên. Cần làm cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức xã
hội và cha mẹ học sinh thấy rõ vai trò của người giáo viên mà góp phần nâng uy
tín của người giáo viên trong xã hội, phát huy truyền thống “tôn sư trọng đạo”
10
trong học sinh và nhân dân, đồng thời tận tình chăm sóc và tạo điều kiện vật chất,
trường. Công tác kiểm tra đội ngũ cần được tiến hành một cách thường xuyên liên
tục và có sự đổi mới sáng tạo. Hiệu trưởng cần phải xây dựng kế hoạch kiểm tra
một cách rõ ràng, cụ thể. Cách xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra có thể tiến
hành như sau:
+ Kế hoạch kiểm tra cần ghi rõ: Mục đích yêu cầu nội dung, phương pháp tiến
hành, hình thức, đơn vị và cá nhân được kiểm tra, thời gian kiểm tra, người thực
hiện kiểm tra.
+ Kế hoạch kiểm tra cần công bố công khai từ đầu năm học.
11
+ Nội dung kiểm tra phải có sức thuyết phục, hình thức kiểm tra gọn nhẹ
không gây tâm lý nặng nề cho đối tượng, cần huy động nhiều lực lượng tham gia
kiểm tra và dành thời gian cần thiết, thích đáng cho kiểm tra.
+ Hiệu trưởng xây dựng các kế hoạch kiểm tra:
Kế hoạch kiểm tra toàn năm học, kế hoạch kiểm tra giữa các học kỳ, cuối học
kỳ và cuối năm học vào dịp kiểm điểm chức trách của từng người, kế hoạch kiểm
tra từng bộ phận, kế hoạch kiểm tra năm được ghi toàn bộ các đầu việc theo thứ tự
thời gian từ tháng 9 năm trước đến tháng 8 năm sau.
Biểu mẫu 1:
Tuần
Tháng
Tuần 1/ công việc Tuần 2/ công việc Tuần 3/ công việc Tuần 4/ công việc
9
Kiểm tra sĩ số các lớp
Kiểm tra việc thực hiện
tiết dạy
Kiểm tra hồ sơ
giáo viên
10
11
Kế hoạch kiểm tra tháng: Dựa vào kế hoạch kiểm tra năm nhưng cần chi tiết
uốn nắn những tồn tại, phát huy tốt năng lực, sáng tạo của mỗi giáo viên.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
Bảng thống kê trình độ chính trị, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn của
công chức, giáo viên nhà trường trong 5 năm gần đây:
Năm học
Tổng
số
Trình độ đào tạo Trinh độ chuyên môn GV dạy giỏi các cấp Trình độ chính trị
ĐH CĐ THSP Giỏi Khá Đạt
Không
đạt
QG Tỉnh Huyện Trường
Trung
cấp
Sơ
cấp
Cao
cấp
2005-2006 45 5 37 3 0 30 15 0 1 5 0 0
2006-2007 44 5 36 3 0 30 14 1 0 thi 5 0 7
2007-2008 42 8 33 1 4 24 12 0 3 9 0 16
2008-2009 38 12 26 0 4 27 7 2 0 thi 17 0 17
2009-2010 38 16 22 0 4 33 1 2 8 16 1 17
100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo, sử dụng thành thạo máy vi
tính, sử dụng internet và ứng dụng CNTT vào công tác giảng dạy.
Trong những năm học vừa qua hoạt động đội ngũ công chức, giáo viên nhà
trường được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ 100% trở lên, không có hiện tượng
giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, chuyên môn được đánh giá cao ở một số giáo
viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh như: Tiếng Anh, Toán, Sinh học,…
trong năm học 2009 - 2010 có 27 giáo viên đạt loại tốt, 3 giáo viên là chiến sĩ thi
SL
Tỉ lệ
%
SL
Tỉ lệ
%
SL
Tỉ lệ
%
SL
Tỉ lệ
%
Loại tốt 440 49,3 395 47.0 359 45,2 347 50,0 408 61,7
loại khá 347 38.9 336 40,1 322 40,5 296 42,7 212 32.0
Loai TB 105 11,7 106 12,6 111 13,9 51 7,3 42 6,3
Loại yếu 0 0 3 0,3 2 0,4 0 0 0 0
Xếp loại học lực học sinh giai đoạn 2005 – 2010
Xếp loại
học lực
Năm học
2005 - 2006
Năm học
2006 - 2007
Năm học
2007 - 2008
Năm học
2008 - 2009
Năm học
2009 - 2010
SL
5. Chăm lo đời sống vật chất của mọi thành viên và tạo điều kiện về thời gian,
phương tiện cho mọi CBGV hoàn thành tốt nhiệm vụ.
6. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quần
chúng trong nhà trường và Hội cha mẹ học sinh trong quá trình xây dựng và bồi
dưỡng đội ngũ.
7. Thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá.
Vấn đề cần lưu tâm đặc biệt đối với Hiệu trưởng trong quá trình xây dựng bồi
dưỡng đội ngũ công chức, giáo viên đó là: Coi trọng sự phát triển toàn diện; xây
dựng kế hoạch một cách trong sáng, công bằng, khách quan.
Tuy nhiên thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, trong phạm vi huyện miền núi-
Quỳ Châu, Nghệ An, nên đề tài chỉ mới áp dụng ở địa bàn hẹp, chưa có sức lan toả
tới những vùng miền khác. Vì vậy triển vọng của đề tài còn tiếp tục trong xu thế
phát triển của xã hội hiện nay, của nền giáo dục tỉnh nhà. Sẽ còn nhiều biện pháp
khác chưa có điều kiện đề cập tới, đó là hướng nghiên cứu tiếp tục của đề tài trong
tương lai.
V. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.
Khi nghiên cứu đề tài này cũng như qua thực tiễn chúng tôi thấy vẫn còn băn
khoăn ở một số vấn đề. Vì vậy mong muốn được kiến nghị với các cấp có thẩm
quyền như sau:
- Đối với Ngành giáo dục cần tham mưu với các cấp có thẩm quyền quan tâm
hơn nữa đến lực lượng giáo viên trẻ được đào tạo chính quy.
- Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ, thích đáng cho đội ngũ công chức, giáo
viên, nhất là giáo viên giỏi. Cần có kế hoạch bồi dưỡng dưới nhiều hình thức đội
ngũ CBQL - GV, đặc biệt ở vùng miền núi để tạo ra sự đồng bộ trong nhà trường,
tiến kịp với miền xuôi.
- Đối với nhà trường phải tạo mọi điều kiện cho mỗi cán bộ công chức, giáo viên
được bồi dưỡng thường xuyên dưới nhiều hình thức. Quan tâm tới đời sống hàng ngày
của CBGV.
- Cần có sự quan tâm của các cấp các ngành, các lực lượng trong xã hội đối
với công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ công chức, giáo viên.