Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: ; Website: www.mutrap.org.vn
BÁO CÁO
Nghiên cứu chiến lược về chuỗi giá trị ngành,
đặc biệt về xuất khẩu và năng lực cạnh tranh MÃ HOẠT ĐỘNG: WTO-C2D
Báo cáo cuối cùng
Tác giả:
Ông Wolfgang Wiegel (Dipl Ing.FH),
với sự phối hợp của các chuyên gia trong nước
III.2. Lựa chọn ngành 16
IV. PHÂN TÍCH NGÀNH - VIỆT NAM 17
IV.1. Năng lực cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu Việt Nam - tập trung vào thương mại với
EU 17
IV.2. Ngành ô tô 21
IV.3. Ngành Điện tử và Công nghệ thông tin 30
VI.4. Ngành da giày 37
VI.5. Ngành dệt may 45
V. NGÀNH VÀ XU HƯỚNG CHUỖI CUNG ỨNG Ở EU 54
V.1. Xu hướng chung và quan điểm trong hợp tác EU-Việt Nam 54
V.2. Ngành ô tô 58
V.3. Ngành dệt may 65
V.4. Da giày 69
V.5. Công nghệ thông tin và Điện tử 70
KHUYẾN NGHỊ 72
3
TỔNG QUAN
1. Quan hệ đối tác thương mại giữa EU và Việt Nam
Theo Tổng vụ Thương mại EU (EU DG Trade) ngày 8 tháng 6 năm 2011, thương mại song
phương giữa Việt Nam và EU đã đạt 13,1 tỷ euro năm 2010, đưa EU trở thành đối tác thương
mại lớn thứ 3 của Việt Nam. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2, chiếm 16,6% tổng giá trị
xuất khẩu của Việt Nam và là thị trường nhập khẩu thứ 6 với 7,1% tổng giá trị nhập khẩu của
Việt Nam.
1
Các nghiên cứu theo ngành cũng cho thấy tiềm năng to lớn về gia tăng thương mại nếu có
FTA giữa Việt Nam và EU.
EU là một trong những thị trường tiềm năng nhất trên toàn thế giới với khoảng 500 triệu
1
4
Các yếu tố thành công quan trọng mà doanh nghiệp vừa và nhỏ cần đạt được bao gồm:
lợi thế so sánh trong lĩnh vực sản xuất;
lợi thế so sánh về giá cả và lợi nhuận;
tiềm năng của việc gia tăng giá trị khi tham gia vào chuỗi cung ứng;
khả năng cải thiện tiêu chuẩn về khả năng cạnh tranh, đổi mới, chất lượng, năng suất và
thủ tục hành chính;
đạt được tiến bộ liên quan đến hội nhập chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế;
tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế cho các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
4. Khả năng cạnh tranh của xuất khẩu Việt Nam
Sự gia tăng liên tục hàng năm về giá trị xuất khẩu nhiều nhóm sản phẩm khác nhau của Việt
Nam ra các nước trên thế giới, dòng vốn vào thường xuyên của đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam và cán cân thương mại tương đối cân bằng (trừ đối với Trung Quốc) khẳng
định Việt Nam có những điều kiện tích cực cho thương mại.
Đáng lưu ý là hầu hết các nguồn thu từ xuất khẩu và cung ứng tại chỗ trong nước đều gắn với
lợi thế về chi phí lao động và các dịch vụ khác có mức chi phí thấp dưới hình thức chủ yếu là
gia công. Bất kể những tiến triển tích cực về doanh thu xuất khẩu, Việt Nam cần nỗ lực
chuyển đổi từ gia công với lợi thế tiền lương thấp sang sản xuất có giá trị gia tăng ở mức cao
hơn. Cách này sẽ đem lại hiệu quả gấp đôi: vừa nâng mức tiền lương vừa tạo ra giá trị gia
tăng cao hơn thông qua cải tiến công nghệ và thiết kế. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi nỗ
lực nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước trong
một số lĩnh vực cụ thể. Về khía cạnh này, có thể tham khảo nghiên cứu năng lực cạnh tranh
(CIEM, 2010). FTA với EU sẽ đóng vai trò tích cực không chỉ đối với thương mại trong và
ngoài nước mà còn đặt ra những tiêu chuẩn và yêu cầu kinh doanh ở mức cao, có tác động
đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
Nam. Trong ASEAN, Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, đặc biệt là theo
lộ trình cắt giảm thuế ASEAN vào năm 2018. Dưới sự bảo hộ bằng biện pháp thuế nhập khẩu
và thuế tiêu thụ đặc biệt, sản xuất trong nước dưới dạng lắp ráp (CKD) có thể phát triển.
Việc chuẩn bị đối phó với cạnh tranh gia tăng đặt ra yêu cầu phải tăng cường nội địa hóa, ứng
dụng công nghệ và hội nhập mạnh mẽ hơn vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất
thiết bị gốc (OEM) nước ngoài. Điều này đặt ra khả năng xem xét đưa ngành ô tô trong FTA
và Chính phủ Việt Nam cần tạo thuận lợi cho nhập khẩu dạng CBU (lắp ráp hoàn chỉnh / nhập
khẩu xe mới hoặc đã qua sử dụng) và CKD. Nhiều khả năng là xe ô tô nhập khẩu từ EU, chủ
yếu trong phân khúc cao cấp, sẽ không cạnh tranh với sản xuất ô tô trong nước. Nhập khẩu
dạng CBU từ EU thậm chí còn có thể tạo thành lợi thế cho các ngành phụ trợ trong nước bởi
nhập khẩu sẽ tạo ra nhu cầu nâng cao năng lực trong lĩnh vực bảo dưỡng, cải thiện tiêu chuẩn
chuyên môn, nghiệp vụ của lao động, cũng như các kỹ năng và chuyên môn sau bán hàng.
Việc đặt ra các rào cản kỹ thuật đối với nhập khẩu dạng CBU đã khiến một số lượng lớn các
đại lý ô tô phải đóng cửa, người lao động mất việc làm.
FTA có thể cải thiện xuất khẩu phụ kiện phụ trợ, chẳng hạn như miếng đệm, giảm xóc, cần
gạt nước mưa, bộ lọc không khí, hệ thống ống xả, dầu và bộ lọc không khí, cụm cu-roa truyền
tải, ắc quy và bugi, v.v
Phân ngành xe máy tương đối cạnh tranh và đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ, có tiềm
năng xuất khẩu, đặc biệt nếu có FTA với EU. Nếu thuế nhập khẩu vào EU giảm xuống 0% thì
phân ngành này sẽ đạt được lợi thế bổ sung từ thuế tới 6%. Do yêu cầu thấp hơn về công nghệ
và chi phí đơn vị, các nhà cung ứng trong nước có thể và đã phát triển, củng cố thành chuỗi
cung ứng trong nước. Khi thuế ngày càng cắt giảm thông qua nhiều FTA trong ASEAN, các
nhà sản xuất xe máy lớn của Nhật Bản cho rằng không kinh tế nếu đặt cơ sở sản xuất ở từng
thị trường. Do thuế bằng nhau, họ sẽ cân nhắc đến các yếu tố khác khi đặt cơ sở sản xuất và
tránh việc lập các cơ sở sản xuất như nhau ở từng nước. Tóm lại, do xu hướng này, Việt Nam
sẽ hấp dẫn hơn với ý nghĩa là một trung tâm sản xuất.
Xung đột và bất lợi đang diễn ra ở các nước khác không có lợi cho đầu tư (Ấn Độ: chi phí
cao, Trung Quốc: kiểm soát chặt chẽ, Indonesia: khá an toàn, Thái Lan: chính trị bất ổn).
Ngành ô tô ở EU là một đầu tàu quan trọng nhất về công nghệ và đổi mới. Tỷ trọng lao động
trong ngành ô tô ở EU như Đức lên đến 13%. Hầu hết các sáng chế và cải tiến công nghệ
Tổng doanh thu nhập khẩu bông, sợi nhân tạo, sợi và vải và các phụ kiện chiếm 8,9 tỷ USD
trong năm 2010 (bao gồm cả bông nhập khẩu cho sản xuất sản phẩm phục vụ thị trường trong
nước), như vậy phần lời còn lại là 3,3 tỷ USD, cho thấy mức lợi nhuận thấp. Xem xét mức lợi
nhuận này trong mối liên hệ với việc làm cho 3 triệu công nhân và khoảng 3.000 công ty dệt
may cho thấy ngành dệt may không thể đầu tư lớn cho phát triển sản xuất theo chiều dọc,
chẳng hạn như phát triển các công đoạn kéo sợi, dệt và hoàn thiện.
Do đó, đầu tư vào ngành dệt có triển vọng hơn ở các doanh nghiệp FDI. Đầu tư vào các nhà
máy cũ hiện có bị hạn chế bởi bố trí xưởng, công nghệ sản xuất, hạ tầng, thiếu hệ thống bảo
vệ môi trường thường phức tạp và không khả thi. Tuy vậy, một số doanh nghiệp lớn trong
nước vẫn có thể thành công trong việc chuyển đổi các nhà máy của mình.
Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc cho Hoa Kỳ (55%), EU (18%), Nhật Bản (11%), Hàn
Quốc (3%) và các nước ASEAN khác (2% ). EU là thị trường lớn nhất thế giới về quần áo
may sẵn với 500 triệu người tiêu dùng tiềm năng cho xuất khẩu CMT sau khi có FTA. Nếu
không có FTA, Việt Nam có thể sẽ mất thị phần trong thị trường EU hoặc phải chia sẻ với các
nước cạnh tranh trong khu vực ASEAN.
Lợi ích của FTA Việt Nam-EU là sẽ làm tăng đáng kể xuất khẩu CMT sang EU. Chẳng hạn
như nhờ giảm thuế theo FTA ASEAN-Hàn Quốc mà Việt Nam tăng xuất khẩu sang Hàn
Quốc đến 240% trong vòng một năm. Giả định FTA sẽ giảm thuế EU cho hàng may mặc
xuống 0% thì lợi ích về thuế cho Việt Nam có thể tới 12%.
8. Ngành da giày
Ngành da giày Việt Nam cung cấp khoảng 670.000 việc làm trực tiếp và 500.000 việc làm
trong các ngành phụ trợ.
7
Theo rà soát của Hiệp hội Da giày Việt Nam (LEFACO) năm 2008, ngành da giày có 825
doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng thêm ước tính khoảng 1.000 hộ sản xuất.
Năng lực sản xuất khoảng 1.600 dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh có sản lượng hàng năm
khoảng 800 triệu đôi giày dép, 120 triệu túi xách, 270 triệu đôi giày da thành phẩm và
1.400m2 PVC và PU.
Tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 9% tổng sản lượng trong năm 2010, qua đó khẳng định da giày
lẻ.
FAIR đại diện cho hơn 100 nhà nhập khẩu da giày và các nhà bán lẻ lớn ở Pháp, Hoa Kỳ,
Anh, Đức, Áo, Hà Lan với tổng cộng khoảng 90,000 lao động.
9. Ngành điện tử
Ngành điện tử là một trong những lĩnh vực trọng tâm của Việt Nam, chiếm lĩnh bởi các doanh
nghiệp FDI Nhật Bản và Hàn Quốc, cung cấp hơn 95% xuất khẩu và thống lĩnh sản phẩm
trong nước.
3
LEFASO
8
Từ năm 2003, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đặc biệt đến ngành này. Trong khuôn khổ
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Việt Nam đã giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập
nhập khẩu của 755 sản phẩm nhập khẩu từ các nước ASEAN khác, gồm nhiều sản phẩm điện
tử. Đến nay, các doanh nghiệp FDI của EU rất ít đầu tư tại Việt Nam, trừ Siemens, Schneider
và Phillips. Các doanh nghiệp của EU ở Việt Nam đã nhìn ra triển vọng về thị trường liên
ASEAN. Electrolux là một ví dụ tích cực về việc tìm cách từng bước liên kết các nhà sản xuất
trong nước vào dây chuyền sản xuất đồ gia dụng của họ, là lĩnh vực mà đầu tư của các công ty
điện tử Nhật Bản tại Việt Nam đang diễn ra một cách rầm rộ. Những lý do chính cho việc đầu
tư theo các nhà đầu tư là chi phí sản xuất thấp, lao động trẻ dưới 30 tuổi chiếm 60%, chi phí
lao động thấp (35-45% rẻ hơn so với ở các thành phố lớn của Trung Quốc). Một lý do quan
trọng khác là sự ổn định chính trị và xã hội trong nước.
Ngành viễn thông đang bùng nổ với nhiều dịch vụ được cung cấp bởi các công ty trong nước.
Theo Chiến lược phát triển CNTT&TT đến 2010 và định hướng đến năm 2020, mục tiêu đặt
ra cho ngành này đến năm 2015 là:
Đạt xếp hạng thứ 70 trong bảng xếp hạng của Liên minh Viễn thông quốc tế;
Đóng góp của CNTT vào GDP từ 17-20%;
Cung cấp dịch vụ băng thông rộng tới tất cả các xã, phường trong cả nước, bao gồm cả
dịch vụ TV;
cầu tăng trưởng xuất khẩu giữa các ngành.
- Viện Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và các viện, tổ chức công / tư thích hợp khác cần
triển khai các nghiên cứu tổng quát, chi tiết cơ bản về các ngành chủ chốt có định hướng xuất
khẩu hoặc thay thế nhập khẩu khác. Phân tích phải đánh giá được tác động ở các cấp độ vi
mô, trung mô và vĩ mô.
- Mục tiêu và lợi ích dự kiến là xác định, mô tả được các hàm số giá trị gia tăng, các điểm tắc
nghẽn, cũng như các tiềm năng về kinh tế và tổ chức trong các ngành này.
- Phối hợp thực hiện xúc tiến FDI giữa các hiệp hội công nghiệp ở các nước EU thông qua các
thương vụ đặt tại đại sứ quán Việt Nam ở các nước này.
- Các hiệp hội ngành cần được củng cố và kết nối tốt hơn với tư cách là đại diện và nhà cung
cấp dịch vụ ở cấp độ trung mô.
- Cải thiện xuất khẩu và xúc tiến thương mại công bằng cho các ngành tại các thị trường EU.
- Tiến hành phân tích đầu tư dựa trên phân tích chuỗi giá trị.
- Chính phủ thực hiện cơ chế "một cửa" cho các nhà đầu tư từ EU và các đối tác kinh doanh.
10
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
EU
Liên minh châu Âu
FTA
Hiệp định thương mại tự do
SME
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
SWOT
Sức mạnh, Điểm yếu, Cơ hội
và Thách thức
CIEM
Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
LPI
Chỉ số hậu cần
SPPP
Tiền lương theo sức mua tương
đương
IPR
Quyền sở hữu trí tuệ MOIT
Bộ Công Thương
GSP
Ưu đãi thuế quan phổ cập
VEIA
Hiệp hội Doanh nghiệp điện
tử Việt Nam
PU
Nhựa tổng hợp dùng chế tạo sơn
PVC
Nhựa PVC
VGCL
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
LLDC
Các nước kém phát triển
RMG
Hàng may sẵn
Hệ thống phần mềm tích hợp
OHS
Sức khỏe và an toàn nghề
nghiệp
EICC
Quy tắc ứng xử ngành điện tử
12
I. GIỚI THIỆU
I.1. Lịch sử và tình hình hiện tại quan hệ song phương giữa Việt Nam và EU
Nhìn chung, quan hệ Việt Nam-EU dựa trên Hiệp định khung về Hợp tác được ký ngày 17
tháng 7 năm 1995 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 6 năm 1996.
Ngày 25-27 tháng 11 năm 2007, hai bên đã nhất trí về một thỏa thuận tiếp theo với mục tiêu
tăng cường hơn nữa quan hệ song phương. Đây là cuộc đàm phán đầu tiên cho Hiệp định
khung về Đối tác và Hợp tác toàn diện. Thương mại song phương giữa EU và Việt Nam
khoảng 13 tỷ euro trong năm 2010. Trong ASEAN, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ
ba của EU.
Các cơ quan Chính phủ và phía EU mong đợi một sự nhảy vọt về đầu tư FDI từ EU sau khi ký
kết FTA với EU. Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại - ông Trương Đình Tuyển, các
doanh nghiệp của EU đầu tư khoảng 16 tỷ USD cho 1079 dự án đầu tư tại Việt Nam.
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU sẽ bao gồm dệt may, giày dép, hải sản
và cà phê. Các ngành ô tô và điện tử / cơ điện tử có phần nhạy cảm (ô tô) hoặc sẽ phải chịu áp
lực cạnh tranh mạnh mẽ.
I.2. Mức độ hấp dẫn của thị trường 27 nước EU
Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam (VCCI) thực hiện, 97% doanh nghiệp được phỏng vấn (các ngành được phỏng vấn
chưa rõ) đều muốn có FTA EU-Việt Nam trong thời gian sớm nhất. FTA với mức cắt giảm
thuế xuống 0% cho ít nhất 90% mặt hàng xuất khẩu sẽ mang lại cơ hội xuất khẩu sang 27
nước thành viên EU với khoảng 500 triệu người tiêu dùng có sức mua cao ở các nước EU và
Nga.
Bồ Đào Nha
11,115
Ukraine
1,853
Vương quốc
Anh
16,710
Malta
10,158
Belarus
1,815
Pháp
16,706
Cộng hòa Séc
8,265
Albania
1,482
Norway
16,559
Hungary
7,805
Moldova
783
Bỉ
16,260
Lithuania
7,197 Đức
5,632
Thụy Điển
13,975
Romania
4,567
Phần Lan
13,886
Bulgaria
4,313
Đan Mạch
13,634
Thổ Nhĩ Kỳ
4,257
Cyprus
13,167
Nga
3,750
Nguồn: www.krone.at , 2011
EU là đối tác xuất khẩu lớn thứ hai với 16,6% tổng xuất khẩu từ Việt Nam và là đối tác nhập
khẩu lớn thứ sáu với 7,1% tổng nhập khẩu từ Việt Nam
4
.
Có thể thấy rằng Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực một cách tham vọng nhằm đàm phán FTA
đồng thời với nhiều nước cũng như thúc đẩy thương mại trên toàn thế giới. Mặc dù Việt Nam
dường như ưu tiên nhiều hướng đàm phán mới, Chính phủ Việt Nam cần nhận thức được
những lợi ích dự kiến của FTA với EU. Thương mại song phương, trao đổi công nghệ và đầu
tư trực tiếp nước ngoài có nhiều khả năng cải thiện đáng kể trong các ngành đề cập ở nhiều
cấp độ và cường độ khác nhau.
I.3. Bài học từ việc gia nhập WTO
CIEM
suy giảm kinh doanh. Khảo sát cũng cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng việc
thiếu thông tin là trở ngại lớn nhất.
Nhìn chung, các FTA có khả năng thúc đẩy thương mại và cải thiện năng lực cạnh tranh quốc
gia và quốc tế. Mở cửa thị trường sẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, giao lưu chia sẻ ý tưởng và chính
sách, hỗ trợ vận dụng công nghệ mới và ứng dụng rộng rãi vào nhiều lĩnh vực. Các biện pháp
bảo hộ như rào cản kỹ thuật cản trở nhập khẩu xe ô tô cao cấp từ EU hoặc các rào cản đối với
dịch vụ trung gian (bất kể không phân biệt đối xử hay có phân biệt đối xử) đều có thể cản trở
sự phát triển tự do về kinh tế của các ngành
7
.
Việc nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế thường diễn ra dưới áp
lực thị trường và các đối thủ cạnh tranh. Bảo hộ và thiết lập rào cản phi thuế và rào cản kỹ
thuật nhằm bảo hộ các ngành hoặc phân ngành nhất định đồng thời sẽ tạo ra văn hóa tự cô lập
trước những chuyển biến nhanh chóng về cạnh tranh toàn cầu, cản trở sự sáng tạo và đổi mới.
I.4. Các hiệp định thương mại tự do song phương khác
Bên cạnh nỗ lực nhằm đàm phán FTA với EU, Chính phủ Việt Nam cũng tham gia vào việc
đàm phán nhiều FTA, thỏa thuận thương mại song phương và hiệp định đối tác khác trên thế
giới. Thông tin chi tiết về tiến trình đàm phán cũng như tác động dự kiến đối với Việt Nam có
thể tham khảo trong tài liệu “Hội nhập khu vực và các cơ hội, thách thức đối với doanh
nghiệp Việt Nam” do hai chuyên gia Claudio Dordi và Frederico Lup Pasini xuất bản năm
2011.
II. BỐI CẢNH CỦA NGHIÊN CỨU
Phân tích tác động hoặc tác động tiềm năng của Hiệp định thương mại tự do trong một số lĩnh
vực cụ thể đã được thực hiện qua một số nghiên cứu tác động vi mô/vĩ mô khác, như hoạt
động FTA/HOR/2010. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét chi tiết hơn các ngành dệt
may, da giày, điện tử và ô tô. Nghiên cứu này tìm hiểu hiện trạng của từng ngành, các vấn đề
về chuỗi cung ứng và đưa ra nhận xét về các khía cạnh liên quan đến FTA Việt Nam-EU.
Nghiên cứu này cũng đồng thời đề cập đến các chính sách khuyến khích doanh nghiệp vừa và
nhỏ nhằm đưa ra đề xuất để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, gia tăng giá trị trong chuỗi
cung ứng. Nghiên cứu này cũng phân loại các rào cản kỹ thuật và phi thuế, đánh giá việc tuân
Xét về phương diện toàn cầu trong mối liên hệ với FTA giữa EU và Việt Nam, chuỗi giá trị
và cung ứng là việc tổ chức mua bán, trao đổi công nghệ và sản xuất qua biên giới. Điều này
nghĩa là các bên chính tham gia chuỗi giá trị (VC) thường ở cách xa nơi xuất xứ của sản
phẩm.
Phương pháp đánh giá lý tưởng nhất bao gồm các bước sau, tùy thuộc mức độ sẵn có của dữ
liệu:
Lập sơ đồ chuỗi VC (thể hiện chuỗi giá trị bằng hình ảnh, xác định các hoạt động hoặc
chức năng kinh doanh chính, các bên tham gia chuỗi giá trị, các liên kết và các bên phụ trợ
cho chuỗi giá trị)
Định lượng và mô tả chi tiết chuỗi VC (gán số vào sơ đồ chuỗi như các nhân tố, khối
lượng sản phẩm hoặc thị phần. Tập trung các vấn đề cần quan tâm hoặc liên quan đến các
yếu tố của FTA, như đặc điểm hoặc điều kiện chính trị, thể chế hoặc pháp lý tạo điều kiện
hoặc cản trở sự phát triển của chuỗi giá trị)
Thông tin hạn chế, phạm vi quyền hạn và trách nhiệm đan xen phức tạp.
Phân tích tính kinh tế của chuỗi giá trị (đánh giá chuỗi trên phương diện hiệu quả kinh tế,
giá trị gia tăng qua từng giai đoạn, chi phí sản xuất, thu nhập của các bên tham gia chuỗi,
chi phí giao dịch / chi phí kinh doanh. Lý tưởng nhất là vận dụng phân tích kinh tế thành
tiêu chí áp dụng với các nước đối thủ cạnh tranh trong khu vực ASEAN.
Mặc dù đây là bước cần thiết nhất nhưng không thể thực hiện do thiếu thông tin đáng tin
cậy hoặc hoàn toàn không có thông tin.
Phân tích hạn chế (để xây dựng chiến lược dựa trên các nghiên cứu vi mô hoặc vĩ mô)
Phân tích hạn chế giới hạn áp dụng cho can thiệp để tạo dựng môi trường cho đàm phán
FTA.
(nguồn và phương pháp luận: phương pháp tiếp cận GIZ ValueLink có điều chỉnh)
Để có thông tin tối thiểu về các yếu tố đầu vào/đầu ra của chuỗi giá trị, cần gặp gỡ và phỏng
vấn các bên tham gia chuỗi giá trị. Việc này bao gồm phân tích:
Các nhà cung ứng nguyên liệu và bán thành phẩm theo ngành và phân ngành, nguồn gốc
xuất xứ
Các doanh nghiệp sản xuất, đại diện cho các phân ngành; phân loại theo quy mô và địa
điểm của doanh nghiệp, phản ánh các công đoạn hoặc cấp độ cung ứng khác nhau; phân
lượng nếu sẵn có:
Phân tích sơ đồ chuỗi giá trị/chuỗi cung ứng. Phân tích này tập trung vào:
Các vấn đề định tính với sự hỗ trợ của thông tin định lượng sẵn có
Các bên liên quan đến chuỗi giá trị trong các ngành
Các nhân tố chính của chuỗi giá trị
Quan hệ giữa các nhà cung ứng và các doanh nghiệp đa quốc gia quốc tế
Các vấn đề khác về chuỗi cung ứng
Phân tích SWOT về hiện trạng và tác động của FTA theo từng ngành:
Thể hiện Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức đối với ngành, kèm theo bình luận về
tác động của FTA từ quan điểm của Việt Nam và EU.
Phân tích các yếu tố thành công chủ yếu:
Xác định các điều kiện tiên quyết để phát triển ngành một cách tích cực, tăng cường và phát
triển thương mại.
III.2. Lựa chọn ngành
Tiêu chí lựa chọn:
Việc lựa chọn các ngành có khả năng phát huy thương mại trong nước và quốc tế sau khi có
FTA đã được phân tích trong các nghiên cứu trước đây. Theo báo cáo nghiên cứu “Đánh giá
tác động của các Hiệp định thương mại tự do đối với nền kinh tế Việt Nam” - Mã hoạt động:
FTA-HOR, các ngành được lựa chọn trên cơ sở:
17
- Các sản phẩm quan trọng đối với Việt Nam
- Các sản phẩm có lợi thế so sánh
- Các sản phẩm có lợi thế so sánh trong lĩnh vực sản xuất
- Các ngành gặp khó khăn
Chỉ các ngành có lợi thế so sánh và cạnh tranh trên cơ sở nghiên cứu chiến lược hay kinh tế
mới có thể tận dụng lợi thế dài hạn từ việc ký kết FTA, bao gồm hoạt động thầu phụ hoặc sản
xuất giá trị gia tăng, xuất khẩu sang EU.
Ngành dệt may và da giày có thế chủ động trong các FTA do thành công trong xuất khẩu vào
EU. Ngành ô tô và điện tử vẫn ở thế bị động mặc dù Việt Nam đã có chiến lược từ trung đến
109
Báo cáo hoạt động FTA-HOR, trang 102
10
Europaid, Chính sách Phát triển Thương mại và Khu vực tư nhân, 2010
18
Tích lũy vốn - đầu tư vào quy trình, nghiên cứu và phát triển, sản xuất và tiếp thị
Cải tiến sản phẩm - giới thiệu sản phẩm mới, đổi mới thiết kế để tạo sự thu hút
Cải tiến quy trình - giới thiệu các quy trình sản xuất và tạo ra giá trị mới
Tập trung vào marketing - đáp ứng xu hướng thị trường mới và thích ứng với các yêu cầu
của khách hàng EU
Cung ứng và dịch vụ - tối ưu hóa nguồn cung đầu vào như năng lượng, các dịch vụ phát
triển kinh doanh, các dịch vụ tài chính
Môi trường kinh doanh - tối ưu hóa chi phí giao dịch và cơ sở hạ tầng, tăng cường dịch
vụ xúc tiến xuất khẩu, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đối thoại công tư liên quan đến
xuất khẩu
Logistics và hạ tầng vận giao thông vận tải:
Một nghiên cứu đánh giá chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam và các nước châu Á
khác
11
đã xếp Việt Nam đứng thứ 53 trên toàn thế giới về logistics và thuận lợi hóa thương
mại nói chung, đứng thứ 65 về mức độ kịp thời của ngành logistics. Điểm 5 là điểm số đánh
giá cao nhất cho Singapore. Đánh giá này ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của Việt Nam đối với
các nhà cung ứng hoặc nhà thầu có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU trong lĩnh vực dệt
may và da giày sau khi ký FTA. Trong số 10 nước châu Á, Việt Nam xếp thứ 7 theo chỉ số
hoạt động logistics.
Chỉ số hoạt động logistics:
Hàn Quốc
3,52
3,22
3,44
3,44
3,63
3,56
2,73
3,86
Malaysia
3,84
3,36
3,33
3,36
3,4
3,51
3,13
3,95
Trung
Quốc
3,32
2,99
3,2
3,31
3,4
3,37
2,97
3,68
Thái Lan
3,31
2,47
2,53
3,21
3,05
Philippines
2,69
2,64
2,26
2,77
2,65
2,65
3,27
3,14
Lào
2,25
8
2
2,4
2,29
1,89
2,13
2,83
11
Báo cáo của EU, dự án 2007/146105 “Hội nhập và Phát triển kinh tế của Việt Nam”
19
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Chỉ số hoạt động logistics (LPI)
Giá trị gia tăng:
Xếp hạng trong nhóm (SPPP)
Xếp hạng trên thế giới (SPPP)
Singapore
36.537
1
4
Nhật Bản
39.727
2
20
Hàn Quốc
17.078
3
26
Malaysia
6.975
4
49
Thái Lan
3.894
5
80
Trung Quốc
3.744
6
83
Indonesia
2.349
7
106
hiện tính độc đáo của doanh nghiệp. Thương hiệu sản phẩm tiêu dùng, bằng sáng chế, nhãn
hiệu, thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ sẽ tạo ra giá trị gia tăng dài hạn. Văn hóa “bắt
chước chứ không phải đổi mới” của Việt Nam và các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
không những làm suy giảm hình ảnh của đất nước mà còn không nâng cao được năng lực
cạnh tranh. Thiếu đổi mới trong các ngành trọng điểm tạo ra một nền văn hóa phòng thủ,
không khuyến khích sáng tạo trong việc phát triển sản phẩm và cải tiến công nghệ. Tại EU, số
lượng các bằng sáng chế được đăng ký là một trong các chỉ số kinh tế. Đổi mới là yếu tố làm
nên sự khác biệt cơ bản của châu Âu.
Ngoài các khía cạnh pháp lý không phù hợp với quy tắc của WTO về các vấn đề thương mại
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, hình ảnh và văn hóa thiếu đổi mới có ảnh hưởng tiêu cực
đến các đối tác thương mại, cản trở sự phát triển giá trị gia tăng của thương hiệu, thiết kế và
công nghệ.
IV.2. Ngành ô tô
IV.2.1 Bối cảnh ngành ô tô Việt Nam
Thông tin chung về ngành ô tô:
Thông tin từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho thấy như sau:
So với các nước thành viên ASEAN khác như Malaysia và Thái Lan, ngành ô tô của Việt
Nam tương đối nhỏ và không có tác động lớn đến GDP như ở các nước khác. Ngành ô tô
được coi là nhạy cảm, bị hạn chế nhập khẩu và áp dụng các biện pháp bảo hộ, phần nào loại
trừ khỏi các hiệp định thương mại hiện hành. Đây là ngành được bảo hộ nhiều nhất so với ở
các nước thành viên ASEAN khác.
Năm 2009 chỉ có 25.480 ô tô được sản xuất trong nước. Trong khi đó, Trung Quốc sản xuất
được gần 14 triệu ô tô
13
. Thái Lan có 7 trong số 11 nhà máy sản xuất ô tô lớn nhất khu vực
Đông Nam Á với công suất hàng năm vào khoảng 1,4 triệu xe. Bốn nhà máy còn lại được đặt
tại Indonesia và Malaysia với công suất hàng năm khoảng 1 triệu xe.
14
Ba thị trường ô tô lớn nhất khu vực ASEAN là Thái Lan (chiếm 8.1% GDP, sản xuất khoảng
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang, trong số các mục tiêu năm 2010 đề ra
trong Quyết định 177/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/10/2004 (Kế hoạch
phát triển ngành ô tô đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020), Việt Nam chỉ mới đạt mục tiêu
doanh thu xuất khẩu phụ tùng và xe ô tô nhờ các doanh nghiệp FDI.
Năm 2009 có khoảng 90.000 ô tô được nhập khẩu nguyên chiếc so với 25.480 ô tô được lắp
ráp trong nước.
16
Các OEM của EU không chỉ tìm kiếm nguồn lao động rẻ hoặc ưu đãi nhờ cắt giảm thuế
(trong tương lai). Lao động rẻ và cắt giảm thuế chưa đủ để đảm bảo tăng trưởng đầu tư bền
vững tại Việt Nam. Họ sẽ xem xét cơ sở hạ tầng, các điều kiện đầu tư, công nghệ, khả năng
sản xuất bằng công nghệ sạch, các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội v.v…). Thực tế này cho
thấy Chính phủ cần triển khai hành động bổ sung FTA để hỗ trợ phát triển ngành ô tô. Các
biện pháp bảo hộ không tác động nhiều đến quá trình chuyển giao công nghệ và không có tác
dụng củng cố chuỗi cung ứng.
Ngành ô tô có thể đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược nâng tầm Việt Nam khỏi việc
phụ thuộc vào các ngành thu nhập thấp, đòi hỏi nhiều lao động hiện nay sang các ngành có
thu nhập trung bình, sử dụng nhiều vốn và công nghệ. Do ngành ô tô sẽ phải đối mặt với sức
ép cạnh tranh gay gắt sau năm 2018 (AFTA) khi thuế dự kiến sẽ giảm từ 29,2% xuống còn
3,8%. Dự kiến ngành ô tô sẽ không thể xuất khẩu sản phẩm với số lượng lớn một cách cạnh
tranh cho đến khi AFTA 2018 có hiệu lực. Việc củng cố cơ sở thị trường trong nước cho ô tô
sản xuất trong nước có thể góp phần làm giảm rủi ro mất thị phần do áp lực ngày càng tăng từ
các nước thành viên ASEAN. Tăng cường sản xuất ở các cấp độ cung ứng trong nước sẽ làm
tăng hàm lượng nội địa cho các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam.
Thống kê dưới đây về ngành ô tô của Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương được trích từ
dự thảo đề án “Quy hoạch phát triển ngành ô tô tại Việt Nam đến năm 2020” tháng 11 năm
2011. Thống kê này không có thông tin về ngành sản xuất xe máy.
Số lượng doanh nghiệp tham gia ngành ô tô:
Năm / Số công ty
Tỷ lệ tăng trưởng hàng
1,624.406
Ô tô đăng ký theo loại xe (%)
Xe 9 chỗ
42,50
43,71
Xe 10 chỗ
9,10
7,65
Xe tải
41,87
43,34
Các loại xe đặc biệt
3,99
1,33
Loại khác
2,56
3,96
Nguồn: Bộ Công Thương, 2011
Xuất khẩu phụ tùng:
Nước
2008
2009
2010
Nhật Bản
731,17
634,29
871,14
Hoa Kỳ
173,65
8,05
15,10
Các nước khác
106,69
124,55
200,07
Tổng số
1.098,10
1.076,77
1.574,01
Nguồn: Bộ Công Thương, 2011
XE MÁY:
Xe máy phân khối nhỏ dưới 125cc đóng một vai trò thiết yếu trong đời sống của người dân
Việt Nam và châu Á nói chung. Thị trường châu Mỹ Latinh và châu Á tiếp tục tăng trưởng
trong khi thị trường tại Hoa Kỳ và châu Âu trì trệ với tỷ lệ tăng trưởng thấp. Tại châu Âu, do
xe máy loại 125cc yêu cầu phải có bằng lái xe ô tô, nên loại xe máy nhỏ, cụ thể là xe tay ga
ngày cảng trở nên hấp dẫn đối với giới trẻ.
Thị trường Việt Nam thống lĩnh bởi năm nhãn hiệu FDI lắp ráp tại Việt Nam (theo quy mô):
Dẫn đầu thị trường là Honda; đứng thứ 2 là Yamaha; thứ 3 là SYM (của Đài Loan); thứ 4:
Piagio; thứ 5: Suzuki.
Không có thông tin chính thức như các dự báo về thị trường, thông tin thị phần, thông tin
doanh số bán hàng và xu hướng v.v…để phục vụ cho công tác quy hoạch và giám sát ngành.
5 doanh nghiệp trao đổi lẫn nhau các thông tin cơ bản về thị trường. Mỗi doanh nghiệp tự
quyết định cách tiếp cận thị trường riêng của mình. Piaggio thành công trong việc thâm nhập
thị trường cao cấp (mức giá đơn vị xấp xỉ 3.500 USD so với mức giá cơ bản gần 2.000 USD
của thị trường xe máy thông dụng). Các xu hướng mới như xe tay ga v.v… đã mở ra các phân
đoạn thị trường mới. Quy mô thị trường trong năm 2010 xấp xỉ 3,5 triệu xe.
Kỳ vọng về tăng trưởng trong tương lai được khẳng định thông qua việc Honda có kế hoạch
đầu tư tăng gấp đôi công suất trong vài năm tới.
Thị trường xe máy Việt Nam tương đương khoảng 200% thị trường xe máy của EU mặc dù
gia tăng hơn nữa. Vì vậy, ngành ô tô phải tìm cách thích nghi với cạnh tranh bằng cách tăng
quy mô sản xuất, liên doanh v.v… hoặc có thể phải tiếp tục cắt giảm.
Vai trò trung tâm sản xuất xe máy:
Ngành sản xuất xe máy tương đối cạnh tranh và đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ, có tiềm
năng xuất khẩu. Do yêu cầu thấp hơn về công nghệ và chi phí đơn vị, các nhà cung ứng trong
nước có thể và đã phát triển, củng cố thành chuỗi cung ứng trong nước. Khi thuế ngày càng
cắt giảm thông qua nhiều FTA trong ASEAN, các nhà sản xuất xe máy lớn của Nhật Bản cho
rằng không kinh tế nếu đặt cơ sở sản xuất ở từng thị trường. Do thuế bằng nhau, họ sẽ cân
nhắc đến các yếu tố khác khi đặt cơ sở sản xuất và tránh việc lập các cơ sở sản xuất như nhau
ở từng nước, ngoại trừ các nhãn hiệu OEM có số lượng lớn hoặc các yêu cầu thích ứng với
tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cụ thể. Tóm lại, do xu hướng này, Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn với
ý nghĩa là một trung tâm sản xuất trên cơ sở triển vọng thị trường chung ASEAN từ năm
2018. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn một số rào cản đáng kể cản trở việc trở thành trung tâm
sản xuất xe máy như môi trường kinh doanh chưa thuận lợi, chi phí giao dịch cao, chậm trễ về
thủ tục hải quan và chi phí vận chuyển cao. Trong khi đó xung đột và bất lợi đang diễn ra ở
các nước khác không có lợi cho đầu tư (Ấn Độ: chi phí cao, Trung Quốc: kiểm soát chặt chẽ,
Indonesia: khá an toàn, Thái Lan: chính trị bất ổn).
IV.2.2. Các chuỗi cung ứng và phân tích về ngành ô tô của Việt Nam
Nhận xét chung:
Lực lượng lao động: Theo báo cáo nghiên cứu “Đánh giá tác động của các hiệp định thương
mại tự do đối với nền kinh tế Việt Nam”, số lượng lao động giản đơn trong ngành ô tô tăng
không đáng kể. Tuy nhiên, chi phí lao động thấp ảnh hưởng bất lợi đến mức lương cho các vị
trí quản lý và kỹ thuật. Điều này khiến việc thuê lao động có tay nghề cao vào các vị trí quản
lý hành chính, tiếp thị và sản xuất trở nên khó khăn.
Hiệu ứng kinh tế theo quy mô: Cấu trúc chi phí trong ngành sản xuất ô tô bị ảnh hưởng nhiều
bởi hiệu ứng kinh tế theo quy mô. VAMA nhận xét khái quát rằng chi phí cố định cao do
năng suất sản xuất thấp là bất lợi chủ yếu về năng lực cạnh tranh so với các nước ASEAN và
Trung Quốc. Khó xác định được chi phí do tính chất phức tạp của việc so sánh các ngành
giống nhau. Các yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm ngày càng tăng tác động tiêu cực đến tính
kinh tế theo quy mô. Chuyên môn hóa thích hợp các phân đoạn thị trường có thể hữu ích