PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN HẢI AN
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẰNG HẢI
===== *** =====
CHUYÊN ĐỀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢI TOÁN CÓ LỜI
VĂN
Ở LỚP 4 VỚI DẠNG BÀI TOÁN:
"T×m hai sè khi biÕt tæng vµ tØ sè cña hai sè ®ã"
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực
tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học
sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong
thực tiễn.
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả
năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong
việc rèn luyện phương pháp suy nghĩa, phương pháp suy luận,
phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện,
chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập
sáng tạo, linh hoạt góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó
khăn.
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề
đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả
cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong
việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Vậy giáo viên phải có phương
pháp dạy học như thế nào? Để truyền đạt kiến thức và khả năng học bộ
môn này tới học sinh tiểu học.
Theo chúng tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất
phát từ vị trí mục đích và nhiệm vụ mục tiêu giáo dục của môn toán ở
bài học nói chung và trong giờ dạy toán lớp 4 nói riêng. Nó không phải
là cách thức truyền thụ kiến toán học, rèn kỹ năng giải toán mà là
người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế
hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công
việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng
các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng
thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát
hiện những ưa điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy
để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt
thiếu sót.
Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở
cấp tiểu học chung và lớp 4 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi
giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Thuận lợi:
Đa số học sinh thích học môn toán nhà trường trang bị tương đối
đầy đủ đồ dùng cho dạy học toán. Học sinh có đầy đủ phương tiện học
tập.
2. Khó khăn:
Học sinh: Môn toán là môn học khó khăn, học sinh dễ chán.
Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều.
Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn
hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường
nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát
vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kĩ
năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành
diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ
động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán
vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức.
Vì vậy mà qua khảo sát chất lượng đầu năm vào thời điểm tháng
10/2004 (năm học 2004 - 2005) về giải bài toán: Tổng số là 114 học
sinh của khối lớp 4 là như sau:
Chúng tôi nhận thấy rằng việc "Đổi mới phương pháp dạy giải
toán có lời văn ở lớp 4" đạt được kết quả tốt thì giáo viên phải nắm
được nội dung chương trình dạy toán có lời văn ở tất cả các khối lớp
1,2,3 (Khối đã thay sách) và khối lớp 5 (chưa thay sách). Từ đó mới
định hướng cách dạy cho mình sao cho có sự kế thừa và phát huy được
hiệu quả của việc đổi mới phương pháp
* Đối với khối lớp 1:
Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn.
Biết giải và trình bày giải các bài toán đơn bằng một phép tính
cộng (hoặc trừ) trong đó óc bài toán về thêm bớt một số đơn vị.
Mục đích: Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp
giải toán và kĩ năng diễn đạt vấn đề, giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề
bằng ngôn ngữ nói - viết.
Phương pháp dạy: Với mục tiêu như vậy nên đòi hỏi mỗi giáo
viên lớp 1 phải bám sát trình độ chuẩn và quán triệt những định hướng
đổi mới dạy cho học sinh phương pháp giải toán, tạo cơ hội để học
sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức và phát
huy năng lực cá nhân.
Giáo viên không nói nhiều, không làm thay mà là người tổ chức
các hoạt động học tập cho học sinh và hướng dẫn cho học sinh hoạt
động cần tăng cường kĩ năng giải toán, thực hành luyện tập với những
bài toán có tính cập nhật, gắn với thực tiễn, khuyến khích học sinh làm
quen, từng bước tự mình tìm ra cách giải bài toán.
* Đối với khối lớp 2:
Học sinh: Giải và trình bày giải các bài toán đơn về cộng, trừ.
Trong đó có bài toán về nhiều hơn, ít hơn, các bài toán về nhân, chia
trong phạm vi bàng nhân, chia bảng 2,3,4,5. Làm quen bài toán có nội
dung hình học.
- Tự đặt được đề toán theo điều kiện cho trước.
- Chương trình được xen kẽ vơ3í các mạch kiến thức khác.
Bài toán có nội dung hình học (diện tích xung quanh, diện tích
toàn phần, thể tích các hình).
Mức độ yêu cầu: Biết giải và trình bày giải các bài toán với phân
số, số thập phân, củng cố các dạng toán điển hình đã học ở lớp 4.
Biết giải các bài toán có nội dung hình học, diện tích, thể tích các
hình đã học và mới học, biết giải các bài toán đơn về chuyển động đều.
Phương pháp dạy: Giáo viên cần:
- Giúp học sinh nắm chắc được các bước trong quá trình giải
toán.
- Tổ chức cho học sinh nắm vững được các dạng toán và đặc biệt
rèn luyện kỹ năng phân tích đề bài. Từ đó giúp học sinh lựa chọn giải
và lập kế hoạch giải một cách chính xác.
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TOÁN CÓ LỜI VĂN TRONG
CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP 4:
Toán có lời văn giữ một vị trí quan trọng trong chương trình toán
4:
Góp phần hệ thống hoá về củng cố có kiến thức, kỹ năng về số tự
nhiên, phân số, yếu tố hình học và 4 phép tính (+, - , x, : ) với các số đã
học làm cơ sở để học tiếp ở lớp 5 và nó đặt nền móng cho quá trình đào
tạo tiếp theo ở các cấp học cao hơn, nó hình thành kỹ năng tính toán,
giúp học sinh nhận biết được những mối quan hệ về số lượng, hình
dạng không gian của thế giới hiện thực, hình thành phát triển hứng thú
học tập và năng lực phẩm chấta trí tuệ của học sinh ngay từ góp phần
phát triển trí thông minh, óc suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo.
Kế thừa giải toán ở lớp 1, lớp 2, lớp 3, mở rộng, phát triển nội
dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 4.
III. NỘI DUNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4:
Toán có lời văn giữ một vị trí đặc biệt trong chương trình toán 4
bao gồm các dạng toán điển hình:
- Tìm số trung bình cộng
3. Yêu cầu 3: Tạo điều kiện để học sinh hứng thú, tự tin trong
học tập.
VI. TỰ HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU ĐỂ NẮM VỮNG
ĐƯỢC TÁC DỤNG CŨNG NHƯ VIỆC TIẾN HÀNH THỰC
HÀNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP TRONG GIẢNG DẠY:
Tôi thấy đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới
phương pháp dạy giải toán nói riêng là nhằm tìm ra đựơc phương pháp
logic cho từng nội dung của từng môn, từng bài để nhằm đạt được chất
lượng cao nhất trong giảng dạy. Đổi mới phương pháp dạy học trong
giai đoạn hiện nay chính là để phát hiện, lựa chọn phương pháp cụ thể
phù hợp với quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm và phù hợp
với nội dung giáo dục cụ thể. Vì vậy chúng tôi thường xuyên sinh hoạt
thăm lớp dự giờ của đồng nghiệp để học tập và xây dựng thống nhất
cách thực hiện phương pháp đổi mới giảng dạy cho tất cả các môn học
cho phù hợp để tìm ra con đường chuyển tải chính thức tới học sinh
bằng con đường nhanh nhất, ngắn gọn nhất. Cần nghiên cứu, tìm hiểu
để nắm được yêu câu của việc dạy toán nói chung và loại giải toán:
"Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó" nói riêng. Đồng thời nắm
được những thiếu sót của học sinh trong giải toán có lời văn.
VII. CHUẨN BỊ CHO GIỜ DẠY GIẢI TOÁN THEO
PHƯƠNG PHÁP ĐỔI MỚI ĐẠT KÉT QUẢ.
Để có được giờ dạy giải toán theo phương pháp đổi mới đạt kết
quả tốt, phát huy được tính tích cực của học sinh thì giáo viên phải có
thiết kế cụ thể rõ ràng, nó sẽ quyết định lớn đến chất lượng giờ dạy và
đồng thời giáo viên cũng là người tổ chức, hướng dẫn thiết kế cho từng
học sinh. Mọi học sinh đều chủ động học tập và phát triển cao nhất,
chính vì lẽ đó cả 2 đối tượng thầy và trò đều phải có sự chuẩn bị chu
đáo.
1. Sự chuẩn bị của giáo viên:
Trước khi dạy bất cứ một loại giải nào, trong tổ chúng tôi đều
trên bài soạn đủ các bước, đủ các yêu cầu và thể hiện được công việc
của thầy và trò trong giờ giải toán.
2. Sự chuẩn bị của học sinh:
Đối với học sinh đã đạt được giáo dục và bồi dưỡng ý thức thích
học toán, có thú vị, hào hứng trong hoạt động học toán, có phương
pháp học bộ môn toán, có thao tác về giải toán phải có đầy đủ các dụng
cụ học toán và chuẩn bị đầy đủ cho phù hợp với từng tiết học. Đối vưói
học sinh khá, giỏi trong những buổi bồi dưỡng riêng biệt cần có thêm
sách giáo khoa về luyện giải, sách giáo khoa nâng cao
Song không thể thiếu được những kiến thức về toán học có hệ
thống logic từ lớp dưới, từ bài học trước phải chắc chắn làm cơ sở, nền
tảng giúp học sinh tự tin trong hoạt động thực hanh, trong việc tiếp thu
kiến thức. Ví dụ như khi học giải toán vê "Bài toán tìm hai số khi biết
tổng và tỉ số của hai số đó" thì các em đã được học bài trước là "Tỉ
số"
Chính vì sự liên quan hệ thống giữa kiến thức đã học với kiến
thức mới nên học sinh phải làm hết và đầy đủ các bài tập, học thuộc các
quy tắc, công thức toán. Để học sinh cso thói quen học bài, làm bài đầy
đủ chúng tôi đã thống nhất với giáo viên trong tổ là bố trí mỗi bàn có
một bàn trưởng là học sinh khá toán, thường xuyên kiểm tra bài học,
bài làm ở nhà của các bạn trong bàn vào giờ ôn bai, soát bài và chỉ ra
chỗ đúng sai trong bài tập của bạn giúp bạn cùng tiến bộ (xây dựng đôi
bạn thân )
VIII. QUY TRÌNH THỰC HIỆN KHI DẠY GIẢI TOÁN CÓ
LỜI VĂN:
- Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn,
phức tạp. Việc hình thành kỹ năng giải toán hơn nhiều so với kĩ năng
tính vì bài toán giải là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm quan hệ
toán học, chính vì vậy đặc trưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn
cho học sinh có được thao tác chung trong quá trình giải toán sau:
2. Bài toán hỏi gì? (số thóc ở mỗi kho) "tức là số thóc ở kho nhỏ
và số thóc ở kho lớn".
3. Bài toán thuộc dạng toán gì? (bài toán tìm hai số khi biết tổng
và tỷ số của hai số đó)
Từ cách trả lời trên học sinh sẽ biết cách vẽ sơ đồ tóm tắt bài
toán, thiết lập được mối quan hệ giữa cái đã cho trong bài bằng ngôn
ngữ toán học ghi kí hiệu ngắn gọn bằng cách ghi tóm tắt đề toán. Đối
với dạng toán này, thì học sinh chủ yếu phải minh hoạ bằng sơ đồ hình
vẽ, tức là biểu thị một cách trực quan các mối quan hệ giữa các đại
lượng của bài toán.
Tóm tắt:
Kho nhỏ:
Kho lớn:
Bước 3: Tìm cách giải bài toán:
Trình bày bài giải:
Dựa vào kế hoạch giải bài toán ở trên mà học sinh sẽ tiến hành giải
như sau:
Tổng số phần bằng nhau là:
1 + 4 = 5 (phần)
Số thóc ở kho nhỏ là:
45 : 5 = 9 (tấn)
Số thóc ở kho lớn là:
9 x 4 = 36 (tấn)
Hỏi còn cách giải nào khác?
T số thóc - kho nhỏ = số thóc kho lớn
[hay 45 - 9 = 36 (tấn)]
Thử lại: Là quá trình kiểm tra việc thực hiện phép tính độ chính
xác của quá trình lập luận.
9 + 36 = 45 (tấn) tổng số thóc.
Hay có thể 36 : 9 = 4 (lần) tỉ số
sơ đồ tóm tắt bài toán.
Số cây ở khu vực I:
Số cây ở khu vực II:
? kg
20 kg
? kg
? cây
? cây
180 cây
? cây
Số cây ở khu vực III:
Bài tập này học sinh sẽ tiến hành làm tương tực như "Bài toán tìm
hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số"
Nhìn vào sơ đồ tóm tắt học sinh sẽ tìm ra cách giải và giải bài
toán
* Ở dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó"
còn ở dưới dạng ẩn:
Ví dụ 5: Một hình chữ nhật có P = 270m. Số đo chiều rộng bằng
1/4 số đo chiều dài. Tính diện tích hình chữ nhật đó.
(Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng hệ thống câu hỏi gợi ý để
học sinh tìm ra cách giải và giải bài toán)
Đối với ví dụ này là sự kết hợp với các yếu tố hình học, từ đó
củng cố kiến thức nhiều mặt cho học sinh.
Như vậy, dù bài toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số
đó" hay bất kì ở dạng toán nào thì đều quan trọng đối với học sinh là
phải biết cách tóm tắt đề toán. Nhìn vào tóm tắt xác định đúng dạng
toán để tìm chọn phép tính cho phù hợp và trình bày giải đúng.
Tất cả những việc làm trên của giáo viên đều nhằm thực hiện tiết
dạy giải toán theo phương pháp đổi mới và rèn kĩ năng cho học sinh
khi giải bất kì loại toán nào các em cũng được vận dụng.
nhất của người làm công tác giáo dục
II. KẾT LUẬN:
Để có kết quả giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt
tình và có phương pháp giảng dạy tốt.
Có một phương pháp giảng dạy tốt là một quá trình tìm tòi, học
hỏi và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm của bản thân mỗi người.
Là người giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 4. Chúng
tôi nhận thấy việc tích luỹ kiến thức cho các em là cần thiết, nó tạo tiền
đề cho sự phát triển trí thức của các em "cái móng" chắc sẽ tạo bàn đạp
và đà để tiếp tục học lên lớp trên và hỗ trợ các môn học khác.
Trước thực trạng học toán của học sinh lớp 4 những năm giảng
dạy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý kiến trên, nhằm mong sự góp
ý của đồng nghiệp.
Khi làm một việc có kết quả như mình mong muốn phải có sự
kiên trì và thời gian không phải một tuần, hai tuần là học sinh sẽ có khả
năng giải toán tốt, mà đòi hỏi phải tập luyện trong một thời gian dài
trong suốt cả quá trình học tập của các em. Giáo viên chỉ là người
hướng dẫn, đưa ra phương pháp, còn học sinh sẽ là người đóng vai trò
hoạt động tích cực tìm ra tri thức và lĩnh hội nó và biến nó là vốn tri
thức của bản thân.
Những ý kiến của tôi đưa ra có thể còn nhiều hạn chế. Rất mong
sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để phương pháp giảng dạy của
chúng tôi được nâng cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các đồng
nghiệp.
Hải Phòng, ngày 26 tháng 3 năm 2005
Người viết
Nguyễn Thị Thanh