Nhóm 05
Đề tài: Phân tích cam kết của VN với WTO về dịch vụ phân phối và đánh giá tác
động của những cam kết này với dịch vụ phân phối ở VN như thế nào.
Chương 1: Phân tích cam kết của VN với WTO về dịch vụ phân phối.
1.1 Nội dung cam kết của Việt Nam đối với ngành dịch vụ phân phối khi gia
nhập WTO
1.1.1 Cam kết chung của ngành dịch vụ
Cam kết chung hay cam kết nền trong các biểu các kết dịch vụ là là cam kết áp
dụng với tất cả các ngành, phân ngành dịch vụ thuộc Biểu cam kết dịch vụ. Khi gia
nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra cam kết đối với 11 ngành dịch vụ (bao gồm 155
phân ngành dịch vụ). Các ngành dịch vụ mà Việt Nam cam kết là:
• Dịch vụ kinh doanh;
• Dịch vụ thông tin;
• Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ liên quan;
• Dịch vụ phân phối;
• Dịch vụ giáo dục;
• Dịch vụ môi trường;
• Dịch vụ tài chính;
• Dịch vụ y tế và xã hội;
• Dịch vụ du lịch;
• Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao;
• Dịch vụ vận tải, do đó, cam kết nền sẽ áp dụng đối với tất cả các
ngành/phân ngành dịch vụ này.
Nội dung đầu tiên trong phần cam kết nền liên quan tới hình thức pháp lý
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ta cho phép các doanh nghiệp, cá
nhân nước ngoài được cung cấp dịch vụ tại Việt Nam dưới các hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, hình thức cụ thể tại từng ngành, phân ngành dịch vụ cũng như lộ trình
thực hiện sẽ căn cứ vào cam kết trong từng ngành, phân ngành cụ thể. Ta chưa cam
kết cho phép các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài được lập chi nhánh, trừ trong
một số dịch vụ cụ thể. Ta chỉ cho phép các nhà đầu tư, các nhà cung cấp dịch vụ
liên doanh phân phối 49% vốn nước ngoài trong năm 2007. Nguyên tắc này cũng
được áp dụng đối với các ngành, phân ngành dịch vụ khác.
Đối với việc đầu tư dưới hình thức mua cổ phần, tại cam kết nền, ta đã đưa
ra cam kết về việc nhà đầu tư nước ngoài được tham gia góp vốn dưới hình thức
2
mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, tổng mức vốn cổ phần do
các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trong một doanh nghiệp không vượt quá 30%,
trừ trường hợp pháp luật Việt Nam quy định khác.
Hiện nay, đối với các doanh nghiệp đã niêm yết, ta đã cho phép các nhà đầu
tư nước ngoài được nắm giữ không quá 49% (trừ ngành ngân hàng).
Sau 1 năm kể từ ngày gia nhập, ta cam kết sẽ bãi bỏ hạn chế 30% cổ phần
nước ngoài. Đối với các ngành/phân ngành khác đã cam kết, mức cổ phần do nhà
đầu tư nước ngoài nắm giữ sẽ phù hợp với mức mà họ được phép đầu tư trực tiếp.
Ví dụ, nếu ngành A ta ta cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài thì tỷ
lệ mua cổ phần của nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam thuộc ngành đó cũng
được lên tới 51%. Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, bên nước ngoài được mua ở
mức tối đa là 30% tổng số cổ phần.
Áp dụng nguyên tắc trên, theo cam kết dịch vụ, kể từ ngày 1/1/2009, ta cho
phép các nhà đầu tư nước ngoài được lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại
Việt Nam để cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường. Do đó, các nhà đầu tư nước
ngoài cũng được quyền mua 100% cổ phần của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
này.
Trong phần cam kết nền, ta cam kết cho phép các nhà quản lý, chuyên gia,
giám đốc điều hành, chuyên gia của các doanh nghiệp nước ngoài được nhập cảnh,
lưu trú và làm việc tại hiện diện thương mại (liên doanh, chi nhánh, v.v) của các
doanh nghiệp này tại Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định.
Ta cũng cho phép người chào bán dịch vụ, người chịu trách nhiệm thành
lập hiện diện thương mại, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng (đối với dịch vụ
máy tính và dịch vụ tư vấn kỹ thuật) được nhập cảnh và cung cấp dịch vụ tại Việt
Nam.
biến, gạo, đường mía và đường củ cải. Đây là các mặt hàng nhạy cảm mà Chính
phủ Việt Nam chưa có ý định cho nước ngoài tham gia phân phối tại Việt Nam.
Việt Nam mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất cả các sản phẩm nhập khẩu hợp
pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau đây:
- Thuốc lá và xì gà;
- Sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình;
- Kim loại quý và đá quý;
- Dược phẩm;
- Thuốc nổ;
- Dầu thô và dầu đã qua chế biến;
4
- Gạo, đường mía và đường củ cải.
Đối với các sản phẩm trên, Việt Nam có thể dành quyền phân phối cho các doanh
nghiệp trong nước, tức là các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài
(được thành lập sau khi Việt Nam gia nhập WTO) có thể sẽ không được quyền
phân phối các sản phẩm này. Phạm vi chính xác (theo mã phân loại HS của biểu
thuế quan) của các mặt hàng này được quy định tại Quyết định 10/2007/QĐ-BTM
của Bộ Thương mại. Các nhà phân phối nước ngoài không được phép làm đại lý
hoa hồng, bán buôn, bán lẻ và nhượng quyền đối với tất cả các mặt hàng thuộc
danh mục này. Ngoài ra, họ không được bán các mặt hàng này thông qua các cơ sở
đã thiết lập tại Việt Nam như liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
và không được phép bán các mặt hàng này qua mạng.
• Danh mục các mặt hàng hạn chế có lộ trình
Gồm các mặt hàng được quy định tại cột hạn chế về tiếp cận thị trường mà nhà
phân phối nước ngoài, cụ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không
được phép phân phối tại Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định kể từ khi
Việt Nam gia nhập WTO. Danh mục này bao gồm xi măng và clinke, lốp (trừ lốp
máy bay), giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ôtô con và xe máy, sắt thép, thiết bị
nghe nhìn, rượu và phân bón. Theo như cam kết trong dịch vụ phân phối, đến năm
2010, danh mục này sẽ được bãi bỏ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nước ngoài, không di chuyển vào Việt Nam để thành lập hiện diện thươngmại như
chi nhánh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.2.3. Góp vốn trong liên doanh và thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài
Theo nội dung cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được thành lập liên
doanh với tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài không vượt quá 49% ngay sau khi
Việt Nam gia nhập WTO. Đến 1/1/2008, họ được quyền tham gia vốn trong liên
doanh ở bất kỳ tỷ lệ nào nhỏ hơn 100%. Đến 1/1/2009, doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài được phép thành lập.
1.1.2.4. Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)
Theo cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được thành lập một cơ sở bán lẻ
tại Việt Nam. Để thành lập cơ sở bán lẻ từ thứ hai trở đi (ngoài cơ sở thứ nhất), họ
phải xin phép cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm
quyền sẽ căn cứ vào một số tiêu chí như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang
hiện diện tại một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý để
quyết định có cho phép mở thêm điểm bán lẻ hay không.
Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,
công ty liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài và công ty có vốn góp của nước
ngoài dưới hình thức mua cổ phần. Do vậy, nếu doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam
hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, họ có
thể bị coi là nhà cung cấp dịch vụ có yếu tố nước ngoài và phải chịu hạn chế về
kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) dù trước khi bán cổ phần cho nhà đầu tư nước
ngoài, doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi hạn chế này.
1.1.2.5. Dịch vụ nhượng quyền thương mại
Theo nội dung cam kết, ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhà cung cấp dịch
vụ nước ngoài sẽ được phép thành lập liên doanh với tỷ lệ góp vốn của nước ngoài
không vượt quá 49%. Đến 01/01/2008, họ được phép góp vốn vào công ty liên
doanh với tỷ lệ bất kỳ và tới 01/01/2009 sẽ được quyền thành lập doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài để hoạt động trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại.
6
bảo việc nhà nước quản lý và điều tiết được dòng sản phẩm này trên thị trường.
Xét trong ngắn hạn, việc hạn chế có một số mặt hàng trong ngắn hạn, bao
gồm các sản phẩm công nghiệp, một phần nhằm tạo thời gian cho các doanh
nghiệp trong nước có bước phát triển, chuẩn bị đương đầu với thách thức khi mở
cửa toàn bộ thị trường.
7