GV Hướng dẫn: Phạm Thị Lý
Nhóm 3 lớp 16K33
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
Đại học Kinh Tế TP.HCM
ĐỀ TÀI: Ảnh hưởng cua lạm Phát đối với đời sống người lao động tại các khu
chế xuất khu công nghiệp trên địa bàn thành phố
Đề tài KTCT nhóm 3 lớp 16K33 GV hướng dẫn: Phạm Thị Lý
I. Lạm phát và các khái niệm liên quan:
A. Định nghĩa lạm phát:
Trong kinh tế học( phạm vi quốc gia)
Lạm phátlà tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định
Trong một nền kinh tế( trong phạm vi thị trường tòan cầu)
Lạm phát là sự mất giá trị thị truong hay sự giảm sức mua của đồng tiền
B. Nguyên nhân lạm phát
Cầu kéo
Chi phí đẩy
Và một số nguyên nhân khác: Sức ỳ nền kinh tế, Tiền tệ
Đối với nước VN, có thể nói hiện nay nguyên nhân lạm phát là do tác động tổ hợp của ba dạng thức lạm
phát : lạm phát tiền tệ( chủ yếu ), lạm phát chi phí đẩy , lạm phát cầu kéo.
Lạm phát cầu kéo: do đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân tăng, dẫn đến nhu cầu nguyên
nhiên vật liệu tăng, thiết bị công nghệ tăng, thu nhập người dân cũng như người thân từ nước ngoài gửi về tăng
làm cho thu nhập tăng dẫn đến nhu cầu của người dân tăng, ngoài ra là do nhu cầu nhập khẩu lương thực thế
giới tăng. Nhu cầu tăng đột biến đẩy giá cả các mặt hang tăng nhanh.
Lạm phát chi phí đẩy: giá nguyên nhiên liệu: xăng dầu các sản phẩm hóa dầu, thép, phôi thép…( giá đầu
vào) trên thế giới tăng mạnh, trong điều kiện kinh tế nước ta phần lớn phụ thuộc vào nhập khẩu ( chiếm 90%
GDP) đồng thời thiên tai, mất mùa cũng khiến dẫn đến giá cả thị trường trong nước tăng
Lạm phát tiền tệ: trong năm 2007cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột
bíên buộc ngân hàng nhà nứoc tung khối lượng lớn tiền để mua ngoại tệ tăng lượng tiền trong lưu thông với
mức 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao , thêm vào đó là hệ quả của sự tăng tín dụng trong những năm trước
đó.
∑
=
=
=
→
0
1
0
00
1
0
1
0
*
i
t
i
n
i
i
ii
n
i
i
t
i
n
i
t
p
Khi giá cả tăng 20%, 30%,200% năm
Dồng tiền mất giá nhanh chóng
3. Siêu lạm phát (lạm phát từ 4 con số trở lên)
Khi tỉ lệ tăng giá lớn hơn 1000% năm
Đồng tiền mất giá nghiêm trọng
Việt Nam chúng ta đang ở mất độ phi mã
E. Tác động của lạm phát
1. Đối với lạm phát một con số thì lạm phát là “ dầu bôi trơn” cho nền kinh tế” lạm phát kích cầu, kích
thích tiêu dùng và kích thích đầu tư, giải quyết đựoc công ăn việc làm
| Ảnh hưởng của lạm phát đối với đời sống Công nhân tại các KCX, KCN trên địa bàn tp.HCM 3
Đề tài KTCT nhóm 3 lớp 16K33 GV hướng dẫn: Phạm Thị Lý
2. Đối với lạm phát 2,3 con số: thì nó sẽ anh hưởng tiêu cựcc đến nền kinh tế trước mắt nó làm giá các
mặt hàng tăng làm ảnh hưởng đến đời sống của những người làm công ăn lương, những hộ nghèo, những
người dân đươc nhận lương từ ngân sach nhà nước do thu nhập không thay đổi kịp với tốc độ thay đổi giá.Ở
VN tốc độ giá lương thực thực phẩm đã tăng lên tới 10,17% sau 2 tháng đầu năm 2008.Lạm phát có thể làm
xóa thành quả công cuộc xóa đói giảm nghèo cua các nước đang phát triển trong nhiều năm qua , trong đó
có cả VN.Lạm phát cao làm mất ổn định XH do dời sống của người dân không được đảm bảo.năm 2007 tỉ lệ
lạm phát ở mức tăng 12,6% mà tổng sản phẩm quốc nội chỉ tăng ở mức 8,5% , làm suy giảm tốc độ tăng
trưởng đe dọa đến quá trinh phát triển lâu dài của đất nước. Các mối quan hệ cân bằng trong nền kinh tế
cũng đang bị anh hưởng đặc biệt đối với kinh tế đối ngoại. Vn thâm hụt thương mại qua các năm đạt mức
báo động như 12 tỉ USD( 12% GDP) vào năm 2007 dự kiến sẽ tăng đến 17 tỉ USD vào 2008. Ngân hàng
nhà nước phải đưa ra 30.000 tỉ VN đồng mà mục tiêu giảm tỉ lệ lạm phát chưa đạt được, mà lượng cung tiền
lại tăng lên gây mất ổn định và ảnh hưởng đến nền kinh tế. Hiện tại cccác tác động tiêu cực của lạm phát
vẫn còn nằn tronng tầm kiểm soát, VN vẫn còn là địa điểm thu hút vốn đầu tư quốc tế đặc biệt là sau khi gia
nhập WTO, nếu không giảm được mức lạm phát cao thì khi những bất ổn kinh tế vĩ mô xảy ra do thất bại
trong điều hành sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của thế giới đối với kinh tế VN
II. Thực trạng đời sống công nhân trong thời kỳ lạm
phát cao hiện nay:
A. Tình hình doanh nghiệp :
thiệt hại nặng nề là công nhân trong ngành may mặc và da giày, hiện chiếm hơn 60% tổng lực lượng LĐ
trong các KCX, KCN trên địa bàn HCM. Mức phúc lợi và đặc biệt là lương, thưởng trong các ngành này rất
thấp và hầu như ít thay đổi trong mấy tháng gần đây, khi mà lạm phát đã tăng rất nhanh. Theo ước đoán thì
mức thu nhập thức tế của CN trong các ngành này đã giảm gần 30%. Như vậy nếu không có các biện pháp
hỗ trợ kịp thời thì tình trạng bỏ việc, nghỉ làm như một số vụ trong thời gian vừa qua là không tránh khỏi.
3.Đồng lương không đủ để tái sản xuất sức Lao động:
o Tái sản xuất sức lao động cho bản thân:
Mấy tháng gần đây, nhất là khoảng giữa tháng ba đến đầu tháng năm 2008, khi mà giá cả các mặt hang
lương thực thực phẩm tăng vọt, có nhiều mặt hang tăng giá gần gấp đôi so với năm ngoái. Một bữa cơm bình
dân cho công nhân trước kia giá chỉ có 5000 đ giờ đây đá lên 7000 đ, thậm chí có nơi lên đến 10000 đ. Nhiều
công nhân không thể mua nổi một miếng thịt hay cá cho bữa ăn thường ngày. Chất lượng bữa ăn và dinh
dưỡng sụt giảm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe làm việc của Công nhân.Nhu cầu dinh dưỡng của một
người lao động bình thường ở độ tuổi từ 18 đến 60 khoảng từ 2200kCal đến 3200kCal và hơn 60g protein
hấp thụ được. Giả sử bữa ăn chỉ gồm cơm và thịt thì mỗi ngày họ phải ăn 500g thịt heo và 500g gạo, theo vật
giá bây giờ thì để có được nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu như vậy người lao động phải mất hơn 25000đ/ngày.
Nhưng theo bảng điều tra của nhóm thì với tiền ăn chỉ vọn vẹn 600000đ/tháng hay 20000đ/ngày thì việc đảm
bảo đủ dinh dưỡng cho bữa ăn là gần nhu không thể. Nhưng vậy thì sức khỏe cũng như sức sản xuất chắc
chắn bị ảnh hưởng không nhỏ.
Một khi mà nhu cầu tối thiểu về ăn uống cũng không đảm bảo thì tất yếu các chi phí về y tế, nghỉ ngơi
lấy lại sức khỏe hầu như bị cắt giảm tối đa có thể.
Do áp lực về giá cả, cuộc sống thường ngày nên nhiêu công nhân phải làm tăng ca để có thể kiếm đủ tiền
để bù đắp cho phần trược giá cho lạm phát. Việc ăn uống thiếu chất cộng thêm tình trạng tăng ca liên tục thì
sức khỏe người lao động càng giảm sút nghiêm trọng và ảnh hưởng lâu dài đến sức sản xuất sau này.
o Tái sản xuất sức lao động cho xã hội:
Đa số nhưng công nhân mà nhóm được phóng vấn đều là lao động chính của gia đình họ, nhưng với đồng
lương ọc ẹp đảm bảo đời sống cho họ thì khó nói là họ có thể phụ giúp gia đình cũng như chăm sóc tốt cho
con cái cả họ, lực lượng lao động tương lai của xã hội. Theo bảng điều tra thì có hơn 40% số người được hỏi
không có khả năng phụ giúp cho gia đình, việc đảm bảo cuộc sống cho con cái họ là rất khó khăn.
Lương kỹ sư mới ra trường tròm trèm 1 triệu (60 đô-la), lương nhân viên nhà nước 800 ngàn (50 đô-la).
Với nạn kẹt xe ở Sài-Gòn đi làm mỗi ngày tốn khoảng 1 lít xăng 17 ngàn (trên dưới 1 đô-la), mỗi tháng cũng
việc các công ty Bảo hiểm còn nhiều bất cập cũng góp phần đẩy công nhân vào tình cảnh khó khăn. Đáng lẽ
họ sẽ nhận được một số tiền nào đó khi không thể tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp nữa nhờ vào số tiền họ
đáng lí được nhận, thay vào đó họ rời khỏi công ty không một đồng bỗi thường vì chủ doanh nghiệp đã không
chịu đóng bảo hiểm cho họ.
Hệ thống BHXH ở Việt Nam còn thiếu và yếu, một mặt là do trình độ tổ chức quản lí của các cơ quan Nhà
nước còn yếu, một mặt là do ý thức mua và sử dụng bảo hiểm của đại bộ phận dân cư nhất là trong Công
nhân. Trong thời buổi lạm phát tăng cao tất yếu sẽ dẫn đến thất nghiệp và giảm thu nhập, nếu không có một
nguồn dự trữ để bù vào tình trạng xấu nhất ấy, thì sẽ đẩy nhiều người mà đại bộ phận là công nhân vào tình
trạng khốn cùng.
III. Các giải pháp hỗ trợ:
A. Các tác động ở tầm vĩ mô và doanh nghiệp:
Cách tốt nhất để giúp người lao động là có hệ thống chính sách, biện pháp để nền kinh tế ổn định, chuyển
hướng phát triển. Được như vậy, sản xuất sẽ gia tăng, tạo ra nhiều việc làm, thu nhập ổn định cho người lao
động. Với những chính sách riêng lẻ, cụ thể để giúp DN khả năng thực thi rất khó.
Với DN, bản thân họ phải tự vươn lên, chấn chỉnh hoạt động để có thể trụ lại, phát triển tốt hơn. Hai là, về
phần Nhà nước cũng cần chính sách, nhất là các chính sách trọn gói đồng bộ tạo sự chuyển biến tốt hơn để
giảm lạm phát, giảm lãi suất, tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn, từ đó ổn định kinh tế. Ba là, đã đến lúc cần
phân loại DN để có chính sách hỗ trợ phù hợp, đặc biệt với các DN gặp nhiều khó khăn, cần có hỗ trợ bằng
chính sách an sinh khác cho người lao động.Trách nhiệm của DN đối với người lao động trong hoàn cảnh này
như thế nào? Bản thân DN cũng không có trách nhiệm và không thể làm được gì nhiều cho người dân. Thị
trường sẽ tự điều chỉnh. Vai trò của nhà nước là tạo ra các yếu tố về chính sách và sử dụng để tạo thêm nhiều
việc làm, trao thêm nhiều cơ hội cho người lao động. Nghĩa là, tìm lối ra cho người lao động gắn với việc mở
rộng đường cho DN dân doanh.Đương nhiên việc này cần phải có thời gian, không thể làm nhanh, làm gấp
| Ảnh hưởng của lạm phát đối với đời sống Công nhân tại các KCX, KCN trên địa bàn tp.HCM 6
Đề tài KTCT nhóm 3 lớp 16K33 GV hướng dẫn: Phạm Thị Lý
được, nhất là trong bối cảnh lạm phát khốc liệt này. Phải chịu và tự chấp nhận, chỉ cần xác định trước - sau,
nhanh chậm.
B. Các chi phí bù lạm phát và phúc lợi đối với người thu nhập thấp:
Chính phủ ta đã ban hành quyết định tăng trợ cấp và lương cho một số đối tượng có thu nhập thấp, nhưng
chỉ gói gọn trong các đối tượng làm công ăn lương và hưởng chính sách. Còn đối với đại đa số Công Nhân