Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Bắt đầu ý tưởng được cho là “không tưởng“ về một châu Âu thống
nhất, trải qua mấy thế hệ gian khổ nỗ lực, những người dân trên“lục địa già“
cảm thấy hoan hỉ vì những thành tựu đạt được khiến thế giới kính nể trong
việc nhất thể hoá kinh tế và chính trị. Những gì mà châu Âu gặt hái trên con
đường đi tới “Liên bang châu Âu“ tới nay được phản ánh rõ nét nhất ở sự ra
đời đồng tiền chung euro. Nhưng không ai ngờ 50 năm sau khi Tuyên ngôn
Schumann (đánh dấu ý tưởng hợp nhất các nước châu Âu) đồng tiền chung
của “lục địa già“ phải đối mặt với mối đe doạ nghiêm trọng từ cuộc khủng
hoảng nợ công Hy Lạp.
Sự hiện hữu của "bóng ma" khủng hoảng nợ đã và đang làm đau đầu
các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU). Gói cứu trợ dài hạn EU/IMF 110
tỷ euro dành cho Hy Lạp, đạt được sau nhiều tuần tranh cãi, đã chứng tỏ
mức độ nghiêm trọng của "cơn sóng ngầm" nợ công. Khủng hoảng nợ của
Hy Lạp là bài kiểm tra lớn nhất về mức độ tín nhiệm mà khu vực Eurozone
phải đối mặt kể từ khi chính sách sử dụng một đồng tiền duy nhất được đi
vào đời sống.
1
I. Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng
nợ công xảy ra:
I.1. Thực trạng khu vực đồng tiền chung eurozone:
Ngày 1/1/2009, eurozone chính thức kết nạp thêm Slovakia nâng tổng
số nước sử dụng chung đồng tiền euro lên con số 16, với dân số hơn 300
triệu người, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên 12.000 tỉ Euro. Đến nay,
sau 11 năm phát triển, khu vực đồng tiền chung châu Âu đã phát triển, trải
qua những thăng trầm. Đồng Euro đã trở thành một công cụ thanh toán toàn
cầu và trở thành một đối trọng với đồng USD của Mỹ .
Trước giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, nền kinh tế của khu vực
eurozone đã có những thành tựu nhất định:
Tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm của khu vực đồng Euro từ năm 1999
- 2007 ở mức trung bình 2.59% /năm, và có lúc lên cao nhất vào năm 2006:

khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008.
Nhờ sự ổn định và tăng trưởng kinh tế mà mức sống của người dân
trong khu vực Eurozone tăng lên, thể hiện qua sự gia tăng thu nhập bình
quân đầu người. Tính đến cuối năm 2007, thu nhập bình quân của cả khu
vực là khoảng 22000 USD/người; còn nếu tính theo giá sức mua tương
đương thì thu nhập bình quân là khoảng 33500 USD.
4
Biểu đồ thu nhập bình quân ( 1980 – 2009 )
Đơn vị : USD
Nguồn : TradingEconomics.com; The World Bank Group
Không chỉ là biểu tượng của cho sự hội nhập của Châu Âu, việc ra đời
đồng Euro đã tạo ra sự thay đổi lớn trong hệ thống tiền tệ thế giới. Đó là
những thay đổi trong việc thanh toán các loại dịch vụ và buôn bán quốc tế,
kể cả các giao dịch trên thị trường chứng khoán khi đồng Euro trở thành một
phương tiện thanh toán tương đối ổn định và có sức chuyển đổi cao, khiến
Euro dần trở thành 1 trong những kênh đầu tư an toàn. Bên cạnh đồng USD
dự trữ như trước đây thì NHTW các nước có thêm 1 sự lựa chọn nữa là đồng
Euro. Trên thực tế, dự trữ ngoại hối của các quốc gia trên thế giới bằng đồng
Euro có xu hướng tăng lên chứng tỏ Euro đã được các công ty và chính phủ
các nước chấp nhận như là 1 ngoại tệ mạnh. Khi mới đưa vào lưu hành, giá
trị 1 Euro chưa bằng 1 USD. Tuy nhiên, đồng tiền này đã từng đạt mức kỷ
lục 1 Euro đổi được 1,6 USD trong năm 2008.
5
Khu vực Eurozone chỉ chiếm 16,5% sản lượng kinh tế toàn cầu, nhưng
đồng Euro lại chiếm tới 27% dự trữ ngoại hối của thế giới. Sau hơn 3 năm đi
vào hoạt động, tỷ trọng của Euro trong quỹ dự trữ của các NHTW trên thế
giới vào năm 2005 đạt 24,3% (của USD là 66,4%) và cho tới cuối năm 2007,
đã là khoảng 27,8% .
Khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 thực sự là một thách thức với khu
vực đồng tiền chung eurozone.

7
Biều đồ: Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đồng euro từ 2008- 2010
Đơn vị : %
Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission
Xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng là những động lực chính thúc đẩy kinh
tế EU tăng trưởng. Khủng hoảng tài chính làm thương mại toàn cầu suy
giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kim ngạch xuất khẩu của EU nói chung
và eurozone nói riêng.
Theo “Báo cáo ổn định tài chính” của ECB tháng 12/2009 đã nâng dự
tính về khoản lỗ và sự giảm giá của chứng khoán các ngân hàng thuộc 16
8
nước trong khu vực đồng tiềng chung eurozone phải chịu do khủng hoảng từ
65 tỷ EUR lên 286 tỷ EUR.
Cùng với suy giảm kinh tế, thất nghiệp gia tăng, việc áp dụng các gói
giải cứu như hạ lãi suất, cắt giảm thuế, bơm tiền ồ ạt cho hệ thống ngân hàng
tài chính đã làm nảy sinh vấn đề thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng ở
một loạt quốc gia, vượt xa giới hạn cho phép của Liên minh là thâm hụt
không quá 3% GDP, nợ công không quá 60% GDP.
I.2. Thực trạng Hy Lạp
Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu, là thành viên của khu vực
đồng tiền chung Châu Âu. Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm
2,2% EU, đóng góp 2.8% GDP của EU. Hy Lạp có thu nhập bình quân đầu
người khoảng 15360USD, bằng khoảng 2/3 các nước phát triển trong
Eurozone. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10.2% (trong khi tỷ lệ này ở EU là
10%) nhưng lại duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với các nước trong
EU-16.
Hy Lạp có nền kinh tế phát triển với khu vực kinh tế quốc doanh
chiếm khoảng 40%GDP. Cơ cấu kinh tế của Hy Lạp năm 2009 như sau:
dịch vụ chiếm 76%, công nghiệp 20,6% và nông nghiệp 3.4%. Trong đó du
lịch là ngành thế mạnh của Hy Lạp, là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu, đóng

10
Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp ( 1999-
2009)
Đơn vị: %
Nguồn: TradingEconomics.com; NSS
Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng hàng năm từ 2004-2007 khoảng 4% do
một phần là chi tiêu cho thế vận hội Athens 2004 và phần còn lại là sự gia
tăng của tín dụng mà đóng góp đáng kể là sự gia tăng của tín dụng tiêu dùng.
Năm 2008, tốc độ tăng trưởng của quốc gia này chỉ còn là 0.7%. Năm 2009,
GDP tăng trưởng âm, đạt mức -2.5% là kết quả tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới, các biện pháp thắt chặt điều kiện tín dụng, và thất
bại của Athens để giải quyết thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, gây ra do
các nguồn thu của nhà nước không tăng kịp với nhu cầu chi tiêu chính phủ,
thậm chí, một số loại thuế còn phải chịu áp lực cắt giảm do nhiều nguyên
nhân khác nhau.
11
Nợ công, lạm phát, thất nghiệp của Hy Lạp luôn ở mức cao so với
trung bình chung của khu vực eurozone. Năm 2009, tình trạng thất nghiệp
tăng cao lên đến 9.4% là do những tác động của khủng hoảng tài chính.
Biểu đồ tỷ lệ lạm phát ở Hy Lạp từ 1/2002-1/2010
Đơn vị: %
Nguồn: TradingEconomics.com; NSS
12
Biểu đồ tình trạng thất nghiệp của Hy lạp giai đoạn 2002-2010
Đơn vị: %
Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission
II.Diễn biến khủng hoảng nợ công Hy Lạp.
Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng mới
của đảng xã hội Hi Lạp, ông George A. Papandreou, thông báo rằng người
tiền nhiệm của ông đã che dấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mà

Khi sự sợ hãi này lan sang cả với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, các
nhà lãnh đạo của các nước có ảnh hưởng lớn ở châu Âu như Đức và Pháp
bắt đầu lo ngại về sự nguy hại kéo dài của nó đối với đồng euro. Họ cam kết
bảo vệ đồng tiền của khu vực nhưng từ chối một gói cứu trợ ngay đối với Hi
Lạp.
Sau nhiều tháng tranh cãi, vào cuối tháng 3/2010, các nước sử dụng
chung đồng euro đã đồng ý về một giải pháp an toàn cho Hi Lạp. Theo đó Hi
Lạp sẽ nhận được các khoản vay từ các quốc gia châu Âu và IMF. Tuy nhiên
những cam kết thiếu cụ thể này chưa đủ sức thuyết phục để làm giảm sức ép
lãi suất trên thị trường trái phiếu đối với chính phủ Hi Lạp. Lãi suất trái
phiếu chính phủ Hi Lạp tiếp tục tăng mạnh do lo ngại của giới đầu tư về khả
năng mất khả năng thanh toán của chính phủ nước này. Vào ngày 11/4 các
nhà lãnh đạo châu Âu thông báo hứa sẽ cho chính phủ Hi Lạp vay 30 tỉ $,
cùng với khoản vay 15 tỉ $ từ IMF, với mức lãi suất 5% - thấp hơn so với
mức lãi suất 7,5% mà Hi Lạp đang phải trả.
Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu gói
cứu trợ trị giá 60 tỉ $ nhằm cứu con tàu kinh tế đang chìm dần. Giới đầu tư
15
quốc tế tiếp tục hạ thấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hi Lạp, điều
này khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các đối tác của Hi Lạp ở châu Âu
buộc phải đứng ra cam kết một gói cứu trợ lớn hơn. Theo kế hoạch này,
công bố ngày 2/5 và được thông qua bởi quốc hội Hi Lạp ngày 6/5, Hi Lạp
sẽ nhận được khoản vay trị giá 110 tỉ euro hay tương đương 140 tỉ $ trong
vòng 3 năm tới nhằm tránh mất khả năng thanh toán. Đổi lại, chính phủ Hi
Lạp phải đáp ứng những cam kết cắt giảm nợ trong vòng 3 năm tới và thực
hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng.
Tuy nhiên, thị trường tiếp tục hoài nghi với các khoản vay được cam
kết này, các nhà đầu từ tiếp tục đẩy lãi suất đối với trái phiếu chỉnh phủ Hi
Lạp lên cao hơn cả trái phiếu chính phủ của các nước đang phát triển như Ấn
Độ và Philippines, khiến Hi Lạp lâm vào tình thế khó khăn hơn trên thị

không tương ứng với sự gia tăng năng suất. Khả năng cạnh tranh kém đã làm
giảm cầu về hàng hóa Hi Lạp và dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại cao
(khoảng 14% GDP). Hơn nữa, do sử dụng đồng tiền chung châu Âu nên Hi
Lạp không có khả năng phá giá tiền tệ nhằm khôi phục khả năng cạnh tranh.
Tăng trưởng kinh tế năm 2009 của Hi Lạp giảm 1,2% và các cuộc biểu tình
bãi công khiến cho khả năng hồi phục càng chậm lại. Các giải pháp thắt lưng
buộc bụng hiện tại có thể chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Các nước đang
kêu gọi Hi Lạp cần phải cắt giảm chi tiêu chính phủ. Tuy nhiên, khi nền kinh
tế đang lâm vào suy thoái và thất nghiệp cao, việc thắt chắt chặt tài khóa
trong khi không có khả năng nới lỏng tiền tệ, chỉ làm cho mọi thứ xấu thêm.
17
Do vậy, có lẽ còn phải rất lâu nữa kinh tế Hi Lạp mới thoát khỏi cái mớ
bòng bong hiện tại.
Hai quý đầu năm 2010, tăng trưởng kinh tế đều ở mức âm. Quý
I/2010 là âm 0,8% còn quý II, tăng trưởng ở mức âm 1,8%. Số liệu thống kê
quốc gia Hy Lạp nói mức tiêu thụ quý II giảm 4,2% thường niên so với mức
tiêu thụ gia tăng của 1,5% quý trước. Tổng vốn đầu tư giảm 18,6%, trong
khi xuất khẩu giảm 5%. Tuy nhiên mức thâm hụt ngân sách đã giảm 46%
trong nửa năm đầu, cao hơn mức dự kiến là 40%.
Tỷ lệ thất nghiệp tháng 5 tăng lên 12% từ mức 11,9% trong tháng 4,
đây là tỷ lệ cao nhất từ tháng 2/2010 với con số 12,1%. Đặc biệt, tỷ lệ giới
trẻ độ tuổi từ 15 – 24 thất nghiệp trong tháng 5 đã lên tới mức kỷ lục với
32,5%, cao hơn nhiều so với mức 25% của đầu năm ngoái.
Theo Liên minh châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tổng mức giảm
GDP của Hy Lạp trong năm 2010 dự đoán sẽ vào khoảng 4%.
18
III. Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp
Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU
đề cập là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Để cứu vãn
nền kinh tế khỏi cơn suy thoái, chính phủ Hy Lạp đã tung ra những gói hỗ

III.1. Nạn nhân của bệnh thành tích
Có nhiều dẫn chứng thuyết phục cho thấy chính việc châu Âu nhiều
lần làm ngơ trước các hành xử vô nguyên tắc của thành viên khiến Hy Lạp
ra nông nỗi ngày nay.
Theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung,
các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy
định mức bội chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem
xét trường hợp mức thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức
thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không là
mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP, có xem xét
các trường hợp đang điều chỉnh.
Mười một sáng lập viên lúc bấy giờ vẫn ấn định giờ G là ngày
1/1/1999 ra mắt đồng euro. Nhưng không có quốc gia nào trong khối lúc bấy
giờ đáp ứng được tiêu chí trên. Thậm chí, lúc đó Bỉ có tổng nợ quốc gia lên
đến 131% GDP, gấp 2,2 lần mức cho phép.
Theo những quy định của Hiệp ước này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện
tham gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu vào tháng 5/1998. Nhưng 2 năm
20
sau, ngày 1/1/2001, mặc dù chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuận
gia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiện
mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộc
trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp. Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài
không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng.
III.1.1. Gia nhập vội vã
Tham vọng tạo ra một khối kinh tế chung có sức ảnh hưởng đã khiến
cho các thành viên sáng lập lúc bấy giờ muốn có càng nhiều thành viên càng
tốt. Điều đó khiến các tham vọng chính trị va vấp với những thực trạng về
nền kinh tế các quốc gia.
Đối với Athens khi đó, việc gia nhập khu vực sử dụng đồng Euro
(Eurozone) vừa là vấn đề danh dự, vừa là sự cần thiết, vì nếu Hy Lạp sử

lên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải
là 4,6%. Đến tháng 3.2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt của
năm 2003 là 5,2%. Và trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó,
con số tăng lên mức 5,7%. Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 đã tăng
từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro.
III.1.3. Có lợi cùng hưởng, có hoạ… tự chia
Vấn đề hiện tại của Hy Lạp cũng cho thấy thể chế tài chính của EU
không đủ năng lực và chuyên môn để kềm chế những thành viên không tuân
thủ hiệp ước của khối. Ngay từ khi thành lập, Liên minh tiền tệ đã được xem
22
là công cụ cho liên minh chính trị, nên các “sáng lập viên” chẳng hề quan
tâm nhiều đến chuyện trừng phạt thành viên vi phạm quy chế chung.
Năm 1996, khi thảo luận xem liệu có cần thiết có những công cụ trừng
phạt những thành viên vi phạm hay không, Tổng thống Pháp Jacques Chirac
và Thủ tướng Đức Helmut Kohl cho rằng nên dựa vào ý thức, và cuối cùng
EU ủng hộ chủ trương này. EU cho rằng các quốc gia sẽ phải tự điều tiết lấy.
Chính thái độ thờ ơ,bàng quan của EU trước những sai phạm của các
nước thành viên như ngọn gió thổi vào khủng hoảng :
“Ở thời điểm đó, đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy, Hy Lạp
đưa ra những số liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách,
nhằm đưa ra hình ảnh về tình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế.
Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu đã không phản đối. Vì lý do chính trị, họ
phải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”, Giáo sư kinh tế học Jürgen von
Hagen thuộc Đại học Bonn, Đức, cho biết.
Chính sự thờ ơ, thiếu kiểm soát chặt chẽ này đã tiếp tay gây ra cuộc
khủng hoảng. Ở thời điểm đó, EU có thể nhìn rõ mối nguy hiểm của buông
lỏng quản lý và ra tay ngăn chặn.
Các năm 2002, 2003, và 2004, ngay cả Đức và Pháp đã không tuân
thủ được các điều khoản về thâm hụt ngân sách, tạo ra một tiền lệ nguy
hiểm. Các nước lớn có thể vi phạm, tại sao các nước nhỏ lại ko? Điều này

đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình. Nguồn thu ngân
sách của họ bị suy giảm.
24
Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn
sóng di dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng
các khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho công dân của mình. Điều này
góp phần làm gia tăng thâm hụt ngân sách.
III.3. Thiếu sót trong cơ cấu của Hiệp định Maastricht- Mối quan
hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
Trong điều kiện nền kinh tế không có khủng hoảng, việc duy trì cam
kết giữ mức thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức 3% GDP và tổng nợ công
không được vượt quá 60% GDP không gặp khó khăn gì đặc biệt. Nhưng khi
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2008, hầu hết các nước tham
gia hệ thống đồng euro đã buộc phải phá rào trước cả hai điều khoản nói trên
để cứu nguy ngành ngân hàng, và qua đó, cứu nguy nền kinh tế. Đặc biệt,
đáng lo ngại là mức thâm hụt ngân sách của 4 nước Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha, Ai Len, Hy Lạp đã lên tới 9-14%, vượt xa quy định của Hiệp ước
Maastricht.
Hy Lạp là mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền Euro. Trước khủng
hoảng, nước này có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong khối EU nhờ tập trung
phát triển các ngành dịch vụ, ngân hàng, du lịch và địa ốc. Tuy nhiên, kinh
tế ngầm chiếm tới hơn 30% GDP và sản xuất kém phát triển nên nước này
luôn phải nhập siêu. Khủng hoảng nổ ra, nợ công lên tới 115% GDP (gấp
đôi quy định của hiệp ước) và thâm hụt ngân sách quốc gia là 14% GDP
(cao hơn quy định 3,5 lần). Khả năng thanh toán nợ của Chính phủ Hy Lạp
bị nghi ngờ và các nhà đầu tư vội vã rút vốn khỏi Hy Lạp và không cho
Chính phủ nước này vay thêm tiền.
Việc cam kết giảm thâm hụt ngân sách về mức 3% được xem như bất
khả thi do: thứ nhất, Hy lạp không thể hạ giá đồng euro để khuyến khích
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status