Tìm hiểu về Ngân hàng thương mại - Pdf 24

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Nha Trang, ngày tháng năm 2006
Giám đốc
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Đà Lạt, ngày tháng năm 2006
Giáo viên hướng dẫn
NHẬN XÉT CỦA KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Lạt, ngày tháng năm 2006
LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn mới,
hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước, ngành ngân hàng cần phải phát
triển bền vững, ổn đònh, thành công trong cạnh tranh và hội nhập.
Tuy nhiên, hoạt động Ngân hàng nước ta hiện đang gặp nhiều khó khăn
và còn không ít tồn tại nhất là hoạt động tín dụng còn chưa an toàn, có nhiều
rủi ro, chất lượng tín dụng chưa tốt.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên: Điều kiện kinh tế – xã
hội, môi trường pháp lý chưa đồng bộ, khách hàng vay Ngân hàng; bản thân
các Ngân hàng TMCP, sự kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà Nước và các
cơ quan chức năng…
Ở nước ta, từ 1996 – 1998, nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn
khoảng 13%, song theo tiêu chuẩn quốc tế lại không dưới 30% (báo cáo của
IMF, quý IV/2001) nghóa là tương đương với những nước có tỷ lệ nợ quá hạn
đặc biệt cao.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2002, tổng số nợ xấu
của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là hơn 20.000 tỷ đồng,
chiếm hơn 7,2% tổng dư nợ, chiếm khoảng 7,78% tổng dư nợ (nếu tính cả các
khoản chờ xử lý, nợ phải trả thay, nợ thanh toán…)
Đến năm 2004 tổng số nợ xấu giảm xuống còn trên 13.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ
dưới 4%, thấp hơn tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế là 5%. Đến
năm 2005, tổng số nợ xấu lại tăng lên con số 17.500 tỷ đồng, nhưng tỉ lệ chỉ
chiếm 3,18% tổng dư nợ, riêng khối ngân hàng thương mại nhà nước thì tỷ lệ

3
4
9
9
9
11
11
12
12
14
15
18
19
20
22
22
24
24
27
30
30
30
30
30
31
31
31
32
33
33

1.2 Tình hình kinh tế
1.3 Tình hình phát triển các hoạt động NH trên đòa bàn tỉnh KH
2. Ngân hàng TMCP ACB - Phòng Giao Dòch Chợ Đầm
2.1 Quá trình hình thành
2.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý
2.3 Chức năng các phòng ban
2.3.1 Phòng hành chính
2.3.2 Phòng kinh doanh
2.3.3 Phòng kế toán
2
35
35
39
40
40
40
41
41
42
42
44
44
44
46
48
48
4849
49494950
51525253
555657

4. Giải pháp cho những năm tới
4.1 Cần xác đònh rõ quan điểm
4.2 Quản lý khách hàng bằng tài khoản sec
4.3 Sử dụng nghiệp vụ hoán đổi tín dụng (Credit Swaps)
4.4 Thực hiện quy trình cho vay đầy đủ và chặt chẽ
Kết luận
Phụ lục
Bốn bài học từ vụ án Epco – Minh Phụng
cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng
Tài liệu tham khảo
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
I. Tìøm hiểu về Ngân hàng thương mại
1. Sự hình thành và phát triển
Thuật ngữ “Ngân hàng” đã có từ rất lâu thế nhưng không phải bỗng
dưng ngân hàng đột nhiên xuất hiện trong nền kinh tế, ngân hàng đã đi từ
bước hình thành cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nền
kinh tế đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động ngân hàng không ngừng được cải
thiện nâng cao cả về thực hành lẫn lý thuyết để có được như ngày hôm nay.
Từ 3500 trước Công nguyên trở về trước, có rất ít tư liệu của một cái gì
mang tính chất giống như ngân hàng. Thời gian này cho đến năm 1800 trước
Công nguyên tư liệu cho biết là đã có một vài hoạt động mang tính chất khá
tương tự như hoạt động của ngân hàng, lòch sử gọi đây là “giai đoạn của các
ngân hàng sơ khai”. Hoạt động của các ngân hàng sơ khai này rất đơn giản:
bảo quản, giữ hộ tiền và đổi tiền hưởng hoa hồng. Cùng với thời gian, hoạt
động và vai trò của ngân hàng cũng liên tục phát thiển theo các điều kiện
kinh tế xã hội. Thế nhưng, từ thế kỷ thứ XVII trở về trước, ngân hàng chưa
phát triển và chưa giữ vai trò quan trọng, nó chỉ là một nghề mua bán và
làm dòch vụ thông thường, một loại hình thương nghiệp giống như các loại
thương nghiệp thuần túy khác. Trong thời gian này, người vay tiền nhiều
nhất của các tổ chức buôn tiền này là các vua chúa để thỏa mãn cuộc sống

quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng… Tuy nhiên, dù ở đâu,
NHTM vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất của giới kinh
doanh tiền tệ.
Mặc dù có một lòch sử lâu dài và một vai trò cực kỳ quan trọng đối với
nền kinh tế, đến nay vẫn chưa có một sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu,
nhà kinh doanh trong việc đưa ra một đònh nghóa toàn vẹn nhất về NHTM.
Có tình trạng đó là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng
nghiệp vụ ngân hàng lại phức tạp và các vấn đề này luôn biến động theo sự
thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt khác, còn do tập quán luật pháp khác
nhau ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ dẫn đến quan niệm khác nhau về
NHTM. Vậy đâu là một đònh nghóa đúng nhất, được chấp nhận rộng rãi
nhất?
2. Đònh nghóa:
Có nhiều đònh nghóa khác nhau về NHTM nhưng về cơ bản thì đều toát
lên nội dung sau: NHTM là loại ngân hàng trực tiếp giao dòch với các công
ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân bằng việc nhận tiền gởi, tiền tiết
kiệm…, cho vay và cung cấp các dòch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói
trên. Có thể liệt kê ra đây một vài đònh nghóa:
Đạo luật ngân hàng của Pháp
“ Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp là
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình
thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về
chiết khấu, tín dụng và tài chính.”
Theo khoản 2 điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam:
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.”
3. Chức năng của ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển, NHTM thực hiện các
chức năng sau:
Chức năng trung gian tín dụng

vay bằng hiện vật, sau này quan hệ chủ yếu dưới dạng tiền tệ. Cũng trong
thời kỳ này có sự khác nhau ngày càng lớn về mức thu nhập dẫn đến phân
hóa giai cấp trong xã hội kẻ giàu ngừơi nghèo. Với thực trạng đó, để có tiền
đóng thuế, nộp tô, để bù đắp thiếu hụt trong sinh hoạt hàng ngày, những
người nghèo phải đi vay mượn của những người giàu và thế chấp bằng tư
liệu sản xuất. Quan hệ tín dụng ra đời trong giai đoạn này là tín dụng nặng
lãi và đã phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến chế độ phong kiến.
Trong thời kỳ này lãi suất cho vay rất cao nên người đi vay chỉ sử dụng tiền
vay vào mục đích tiêu dùng phi sản xuất. Do đó trong thời kì cho vay nặng
lãi tín dụng không phải là nhân tố kích thích sản xuất.
Cho đến khi chủ nghóa tư bản ra đời, quá trình tái sản xuất giản đơn với
quy mô nhỏ đã được thay thế dần bằng quá trình tái mở rộng với quy mô
lớn mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Với thực trạng đó các nhà tư bản
cần bổ sung thêm vốn nhưng không thể sử dụng tiền vay nặng lãi để đáp
ứng. Họ phải nhờ đến sự can thiệp của nhà nước để hạ lãi suất cho vay
xuống thấp nhưng không thành công. Do đó, khi giai cấp tư sản đã phát
triển đủ sức, họ góp vốn lại và cho nhau vay với lãi suất vừa phải, họ đã
thiết lập quan hệ tín dụng cho riêng mình và tước đoạt vai trò độc quyền tín
dụng của những kẻ cho vay nặng lãi. Đây cũng là thời điểm mở đầu cho
chặng đường phát triển mới ngày càng lớn mạnh của hệ thống tín dụng phục
vụ đắc lực cho quá trình phát triển tiến bộ xã hội.
Trong nền kinh tế ngày nay, cùng với yêu cầu khách quan của lónh vực
sản xuất-lưu thông-tiêu dùng…, hệ thống tín dụng cũng mở rộng về phạm vi
hoạt động và đa dạng về hình thức cho vay, từ đó tín dụng đã và đang phát
triển như một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh
tế nói chung.
2. Khái niệm
Tín dụng là một quan hệ giao dòch giữa hai chủ thể, trong đó một bên
chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất
đònh, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn

+ Mục đích: Chủ yếu được sử dụng để đầu tư, mua sắm tài sản cố đònh,
cải tiến hoặc đổi mới thiết bò công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Nguồn trả nợ: Lấy từ tích lũy nội bộ trong doanh nghiệp và nguồn
khấu hao cơ bản.
 Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
+ Mục đích: Được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn cấp vốn cho xây
dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ
tầng, cải tiến, mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
+ Nguồn trả nợ: Lấy từ tích lũy hàng năm và từ khấu hao cơ bản.
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng: có hai loại
 Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cấp phát để hình thành
vốn lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng lưu động thường được sử dụng
để cho vay bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng này
thường được chia ra làm các loại sau: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí
sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ
phiếu.
 Tín dụng cố đònh: Là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài
sản cố đònh. Loại tín dụng này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố đònh,
cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công
trình mới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn.
- Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng: có 4 loại
 Tín dụng thương mại: Là quan hệ giữa các doanh nghiệp được biểu
hiện dưới hình thức mua bán chòu hàng hóa. Tín dụng thương mại phát sinh do
sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng, do đặc tính thời vụ trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm khiến các nhà sản xuất phải mua bán chòu hàng hóa. Mua
bán chòu cũng là hình thức tín dụng vì nó chứa đầy đủ các nội dung cơ bản của
khái niệm tín dụng.
Cơ sở pháp lý xác đònh tín dụng thương mại là giấy nợ được thành lập
dưới hình thức: lệnh phiếu và hối phiếu

phải hoàn trả gốc và lãi theo đònh kỳ. Loại cho vay này chủ yếu áp dụng cho
vay bất động sản, nhà ở tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh
nhỏ, cho vay trang bò kỹ thuật trong nông nghiệp.
Thông thường có 4 phương pháp trả góp sau:
+ Phương pháp cộng thêm
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dư vào cuối mỗi
đònh kỳ
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và tính lãi trên mức hoàn trả của
vốn gốc.
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và lãi bằng nhau trong tất cả các
đònh kỳ (phương pháp hiện giá).
 Tín dụng cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán một
lần theo thời hạn đã thỏa thuận
 Tín dụng cho vay hoàn trả theo yêu cầu (áp dụng kỹ thuật thấu chi)
4. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
Theo Điều 6 “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”
thì khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo 2 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu về
phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Đối với các đơn vò
kinh tế tín dụng cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vò hoàn thành nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của mình.
Nguyên tắc 2: Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương mại tồn tại và
hoạt động một cách bình thường bởi vì nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ
yếu là nguồn vốn huy động, đó là một bộ phận tài sản của các sở hữu chủ mà
ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng. Ngân hàng cũng có nghóa vụ đáp ứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status