UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN – VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Ngô Thị Thanh Tú
Cộng tác viên: CN. Dương Thị Dung
CN. Đỗ Hải Nam
PHÚ THỌ, NĂM 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Kết cấu của đề tài 4
Chương 1 5
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ THU
HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 5
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 5
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
5
1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.2. Các hình thức và đặc trưng cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài
8
1.2. Khu công nghiệp 11
1.2.1. Khái niệm Khu công nghiệp 11
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của Khu công nghiệp 12
1.2.3. Các loại hình khu công nghiệp 13
1.3. Quan niệm, nội dung và các chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút vốn
2.3. Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công
nghiệp Thụy Vân trong thời gian qua 33
2.3.1. Các hoạt động thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Thụy Vân
– Việt Trì – Phú Thọ 34
2.3.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của khu công nghiệp
Thụy Vân 44
ii
2.3.5. Tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
FDI trong khu công nghiệp Thụy Vân – Việt Trì – Phú Thọ 51
2.3. Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
khu công nghiệp Thụy Vân – Việt Trì – Phú Thọ 58
2.3.1. Kết quả đạt được 58
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 59
Chương 3 67
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN 67
– VIỆT TRÌ - PHÚ THỌ 67
3.1. Định hướng phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Phú Thọ 67
3.1.1. Quy hoạch đầu tư các KCN theo vùng kinh tế, lãnh thổ của tỉnh
Phú Thọ 67
3.1.2. Quy hoạch phát triển các KCN tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
đến năm 2020 67
3.2. Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
khu công nghiệp Thụy Vân – Việt Trì – Phú Thọ 69
3.2.1. Điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư 69
3.2.2. Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn 70
3.2.3. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng 71
3.2.4. Đầu tư xây dựng công trình phụ trợ đi kèm các khu công nghiệp 72
3.2.5. Tăng cường xúc tiến đầu tư 73
3.2.6. Cải cách thủ tục hành chính 74
Bảng 2.7. Danh sách doanh nghiệp FDI hoạt động trong KCN Thụy Vân tính
đến năm 2012 51
v
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện được coi là chìa khóa của
sự tăng trưởng kinh tế, phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Với tính chất là
vùng lãnh thổ hoạt động theo quy chế riêng trong môi trường đầu tư chung
của cả nước, khu công nghiệp trở thành công cụ hữu hiệu thu hút đầu tư, đặc
biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thông qua việc thu hút nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu công nghiệp du nhập kỹ thuật công nghệ
tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài,
đồng thời tạo ra nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhờ những ưu đãi
vượt trội, cơ chế quản lý thông thoáng, khu công nghiệp có điều kiện thuận
lợi trong vận chuyển, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hóa.
Khu công nghiệp Thụy Vân được thành lập từ năm 1997 tại xã Thụy
Vân, thành phố Việt Trì. Trải qua 2 giai đoạn mở rộng đầu tư, đến nay khu
công nghiệp Thụy Vân có tổng diện tích là 323 ha. So với các cụm, các khu
công nghiệp sinh sau đẻ muộn như: Khu công nghiệp Trung Hà, cụm công
nghiệp Bạch Hạc, cụm công nghiệp Đồng Lạng thì khu công nghiệp Thụy
Vân hiện vẫn là khu công nghiệp lớn nhất, thu hút được nhiều dự án đầu tư
nhất, đóng góp nhiều nhất vào ngân sách của tỉnh Phú Thọ, thu hút và giải
quyết việc làm cho hàng nghìn lao động của địa phương và các tỉnh lân cận.
Tuy nhiên trong quá trình thu hút đầu tư, cùng với những kết quả khả quan,
khu công nghiệp Thụy Vân vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cả chủ quan và
khách quan như: Vị trí địa lý không thuận lợi so với các tỉnh lân cận, cơ sở hạ
tầng chưa đồng bộ và còn yếu kém, việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng
đang hết sức khó khăn do thiếu vốn, hệ thống các dịch vụ xã hội như: Ngân
hàng, hệ thống cấp điện, bưu chính viễn thông, y tế, khách sạn cho chuyên gia
nước ngoài chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của khu công nghiệp, gây
2
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng
thể theo sự phân cấp quản lý từ Trung ương xuống đến khu công nghiệp Thụy
Vân, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhằm giải quyết tốt vấn đề khai thác
các điều kiện về nguồn lực phục vụ quá trình phát triển khu công nghiệp Thụy
Vân.
- Tiếp cận dựa vào cộng đồng: Cách tiếp cận này dựa vào lãnh đạo Ban
Quản lý các khu công nghiệp, các doanh nghiệp và người dân để đảm bảo hài
hòa lợi ích của những người có liên quan trong quá trình đẩy mạnh thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh
Phú Thọ, lãnh đạo địa phương phải đảm bảo việc tăng cường thu hút vốn đầu
tư vào các KCN theo đúng định hướng, mục tiêu đã định; người dân phải tăng
được thu nhập, được an toàn và có chất lượng sống cao hơn.
- Tiếp cận theo hai khu vực kinh tế công và tư: Dựa vào lĩnh vực đầu tư
công, dịch vụ công trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhóm
nghiên cứu sẽ xác định được hướng đầu tư của khu vực công và khu vực tư
nhân. Từ đó, nhóm nghiên cứu sẽ định hướng được giải pháp và những đề
xuất hợp lý trong hoạt động tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài cho KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong thời gian
tới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
+ Thu thập số liệu: Được thu thập chủ yếu từ Chi cục thống kê tỉnh Phú
Thọ, Ban Quản lý các khu công nghiệp,…
+ Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Đề tài sử dụng phương
pháp này nhằm để tham khảo ý kiến rộng rãi của các các nhà quản lý có trách
nhiệm trực tiếp trong việc quản lý nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu
3
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm về Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng
tiền nước ngoài hoặc bằng bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp
thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật
này” (Điều 2, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987).
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật này” (Điều 2, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996).
Nay, theo Luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 và bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 1/7/2006: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn
đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”; “Đầu tư nước ngoài là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp
khác để tiến hành các hoạt động đầu tư”. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức
kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 2, Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam năm 2005).
Từ các khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế hoặc
5
cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở
tại bỏ vốn vào một lĩnh vực nhất định, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi
nhuận trong kinh doanh. Hoạt động FDI được thực hiện thông qua dự án gọi
là dự án FDI.”
1.1.1.2. Các đặc điểm của đầu tư nước ngoài
vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh
nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu
tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh
doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.
1.1.1.3. Các đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khác với các dự án đầu tư trong nước hoặc các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ODA, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra có tính chất
khách quan và chịu sự tác động của quy luật cung cầu về vốn giữa các quốc
gia, chính sách thu hút đầu tư của các nước, quá trình tự do hóa đầu tư theo
các nguyên tắc quốc tế. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mang đặc trưng
riêng có tính chất đặc thù:
Một là: Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành hoặc tự
điều hành dự án.
Hai là: Tính đa quốc tịch của các bên trong một dự án: Một dự án FDI
bao giờ cũng có ít nhất hai bên với hai quốc tịch khác nhau (một bên là nước
sở tại, một bên là nước ngoài). Tuy nhiên, bên nước sở tại có thể là một hoặc
nhiều bên và bên nước ngoài theo luật định cũng được phép như vậy.
Ba là: Tính đa ngôn ngữ: Các bên tham gia dự án phải sử dụng ngôn
ngữ quốc tế và ngôn ngữ nước sở tại trong các văn bản của dự án và trong quá
trình hoạt động của dự án. Ngôn ngữ thường sử dụng là tiếng Anh.
7
Bốn là: Chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật: Dự án
đầu tư quốc tế chịu sự chi phối đồng thời của luật pháp quốc gia và luật pháp
quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư thì các
quốc gia đều tiến hành cải tiến hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với
thông lệ quốc tế.
Năm là: Gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ: Hầu hết các dự
án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ với những mức độ,
nội dung và hình thức khác nhau.
Sáu là: Tính chất đặc thù về hình thức đầu tư: Các dự án FDI được thực
đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty
cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật
có liên quan.
Doanh nghiệp thành lập theo quy định trên được liên doanh với nhà đầu
tư trong nước và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh
tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách
pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày
cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
1.1.2.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng
BTO, hợp đồng BT
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là
hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân
chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp
đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong
9
một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn
công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp
đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính
phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn
nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là
hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư
chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện
Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật
Đầu tư, pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
1.2. Khu công nghiệp
1.2.1. Khái niệm Khu công nghiệp
Theo Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ về ban
hành quy chế Khu công nghiệp, Khu công nghiệp quy định trong Quy chế này
là Khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới
địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ
sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Trong Khu công nghiệp có
các loại doanh nghiệp: Doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế
và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời, trong Khu công
nghiệp có thể có Khu chế xuất, Xí nghiệp chế xuất.
11
Tại Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về ban hành
Quy chế Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, Khu công
nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp Khu công nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do
Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong Khu công
nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa về Khu công
nghiệp như sau:
(Điều 3): Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
Bên cạnh khái niệm về Khu công nghiệp, Luật Đầu tư năm 2005 có quy
định cụ thể về Khu chế xuất, Khu công nghệ cao và Khu kinh tế như sau:
Khu chế xuất là Khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh
nhân dân tỉnh, Ban quản lý các Khu công nghiệp của tỉnh hỗ trợ trong lĩnh
vực nguồn lao động (ví dụ như thành lập Trung tâm dịch vụ việc làm), đảm
bảo điều kiện sinh hoạt, dịch vụ kèm theo cho công nhân lao động trong Khu
công nghiệp.
1.2.3. Các loại hình khu công nghiệp
Có nhiều tiêu chí để phân loại hình Khu công nghiệp. Có thể phân loại
Khu công nghiệp theo các nhóm sau đây:
Thứ nhất, Phân theo quy mô Khu công nghiệp:
- Khu công nghiệp tập trung: có quy mô diện tích từ 50 ha trở lên.
- Khu công nghiệp nhỏ và vừa: có quy mô diện tích dưới 50 ha.
Thứ hai, Phân theo ngành nghề thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp:
13
- Khu công nghiệp tập trung các ngành công nghiệp nặng và chế tạo.
- Khu công nghiệp tập trung các ngành công nghiệp nhẹ và hàng tiêu
dùng.
- Khu công nghiệp tập trung các ngành công nghiệp dịch vụ tiêu dùng.
Thứ 3, Phân theo mục đích phát triển Khu công nghiệp:
- Khu công nghiệp nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.
- Khu công nghiệp nhằm di dời các cơ sở sản xuất trong các thành phố,
đô thị lớn.
- Khu công nghiệp gắn liền với tài nguyên, thế mạnh của địa phương.
1.3. Quan niệm, nội dung và các chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp
1.3.1. Quan niệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động nhằm khai thác,
huy động nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế. Thu hút vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế,
chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ
thuật - xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường …để thu hút các nhà đầu tư
đầu tư vốn, khoa học công nghệ…để sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được một
để có sự lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các khu công nghiệp
- Vốn đăng kí
- Vốn đầu tư thực hiện
- Tỉ lệ vốn đầu tư nước ngoài thực hiện so với đăng kí
Tỉ lệ vốn thực hiện so với đăng kí (%) =
Vốn thực hiện
Vốn đăng kí
- Tỉ lệ dự án thực hiện so với đăng kí
15
Tỉ lệ dự án thực hiện so với đăng kí(%) =
Dự án thực hiện
X 100
Dự án đăng kí
- Vốn đầu tư nước ngoài bình quân của một dự án
VĐT nước ngoài bình quân của dự án =
Tổng số vốn đầu tư
Tổng số dự án
- Vốn đầu tư nước ngoài trên một ha đất
Vốn đầu tư nước ngoài trên ha đất =
Tổng số vốn đầu tư
Tổng ha đất thuê
Ngoài ra, cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài theo loại hình doanh nghiệp,
ngành kinh tế, đối tác đầu tư cũng cần được xem xét và đánh giá.
1.3.4. Sự cần thiết đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
các khu công nghiệp đối với nền kinh tế Việt Nam
Phát triển KCN, KCX là định hướng chính sách quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta. Chủ trương của Đảng qua các thời kỳ đều xác định vai trò
của KCN, KCX là một trong những nền tảng của công cuộc công nghiệp hóa
tư với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD (trên 20% tổng vốn đầu tư kết cấu hạ
tầng đăng ký). Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng KCN thực hiện đến cuối
tháng 9/2012 đạt 4,5 tỷ USD, bằng 44% tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng
ký, trong đó vốn FDI thực hiện khoảng 1, 2 tỷ USD. Phần lớn các KCN do
nhà đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư đều cơ bản hoàn thành xây dựng kết
cấu hạ tầng và đi vào hoạt động. Kết cấu hạ tầng KCN, KCX vừa có tác dụng
tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thứ cấp trong việc triển khai nhanh dự
án sản xuất kinh doanh, vừa góp phần cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng
chung, đặc biệt là hạ tầng nông thôn của các địa phương phục vụ tích cực cho
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước.
17
FDI trong KCN, KCX có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng sản
xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh
tế.
Thực tế 20 năm xây dựng và phát triển cho thấy, khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài trong các KCN, KCX đã có những đóng góp ngày càng lớn vào
việc nâng cao giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp. Tỷ trọng vốn FDI
trong KCN, KKT chiếm tới 80% tổng vốn FDI đầu tư vào ngành công nghiệp
cả nước. Ngoài ra, qua vai trò của FDI trong KCN, KKT, sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp KCN, KKT trên thị trường thế giới được nâng cao đáng kể
trong thời gian qua, thể hiện ở giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN,
KKT tăng đều qua các năm với tốc độ tăng bình quân cao hơn tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu bình quân của cả nước. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các
doanh nghiệp KCN, KKT trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã
tăng lên từ mức 20% năm 2005 và 25-30% trong những năm gần đây.
Khu vực FDI trong KCN, KKT đã góp phần quan trọng trong việc giải
quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tính đến 12/2011, các KCN, KKT đã giải quyết việc làm cho khoảng 2
triệu lao động trực tiếp, trong đó hơn 1,2 triệu lao động làm việc cho khu vực
tiếp tục hoàn thiện thêm một bước cơ chế, chính sách đối với KCN, KKT.
Nghị định đã thống nhất các quy định liên quan tới KCN, KKTnằm rải rác ở
các văn bản pháp luật trước đây vào một văn bản; cụ thể hóa chủ trương tăng
cường phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý KCN, KKT
thực hiện đầu mối quản lý Nhà nước KCN, KCX trên các lĩnh vực.
Quá trình xây dựng và phát triển KCN, KKT gắn liền với việc xây
dựng mô hình quản lý và hoạt động của các KCN, KKT tương đối đặc thù,
19