Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực nông nghệp giai đoạn 2003 – 2008 - Pdf 49

Đề án Kinh tế phát triển
Lời Mở Đầu
Việt Nam đang từng bước tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước, đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, để đạt được mục tiêu
công nghiệp hoá đất nước Việt nam cần tập trung đầu tư phát triển nông
nghiệp tạo tiền đề, cơ sở thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, dịch
vụ. Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất
khẩu mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên
WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
được nâng cao qua Hội nghị cấp cao APEC năm 2006. Quan hệ ngoại giao,
các hoạt động hợp tác kinh tế, đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được
củng cố và tăng cường thông qua các cuộc thăm cấp cao của lãnh đạo
Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhà doanh nghiệp. Tình hình
chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng bảo đảm, đã tạo môi trường thuận
lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệp trong
nước. Trong thời gian qua lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam tăng một cách đột biến mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách
thức lớn. Mặc dù tổng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế tăng nhanh
nhưng tổng đầu tư cho khu vực nông nghiệp- khu vực quan trọng của kinh
tế Việt Nam lại có không tăng và có xu hướng suy giảm, chưa tương xứng
với tiềm năng của nền nông nghiệp nước nhà. Vì vậy bài nghiên cứu của
em xin đề cập đến một khía cạnh của vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp:
“ Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực nông
nghệp giai đoạn 2003 – 2008 ”
Lê Thị Thuý Ngọc 1 Lớp: KTPT 47B
Đề án Kinh tế phát triển
Chương I: Một số vấn đề chung về FDI cho phát triển
nông nghiệp
I- Tổng quan về FDI
1. Đầu tư

Theo chức năng vốn đầu tư được chia thành hai loại: vốn đầu tư cho
sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất.
- Vốn đầu tư cho sản xuất được hiểu là toàn bộ các khoản chi phí
nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất. Vốn đầu tư cho sản xuất
được chia thành hai loại: vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư cho
tài sản lưu động.
+ Đến lượt mình, vốn đầu tư vào tài sản cố định lại chia thành vốn đầu
tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối
lượng thực tế của tài sản cố định, đảm bảo bù đắp số tài sản cố định bị hao
mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang. Vốn sửa chữa lớn nhằm đảm bảo
thay thế tài sản bị hư hỏng.
- Vốn đầu tư phi sản xuất là các khoản chi để duy trì và mở rộng mức
vốn phi sản xuất. Là những tài sản không trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất nhưng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế, bao gồm:
Các công trình công cộng, các công trình kiến trúc, nhà ở và các cơ sở quân
sự.
Theo phạm vi thì ở phạm vi doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh hộ
gia đình, vốn đầu tư bao gồm giá trị mua sắm máy móc, nhà xưởng, tài sản
lưu động và chi phí khác cho mục đích sản xuất của chính đơn vị cơ sở đó.
- Vốn đầu tư của nhà nước bao gồm cả những chỉ tiêu công cộng cho
hạ tầng kĩ thuật như cầu cống, đường xá, đê điều, các công trình phúc lợi
như trường học, bệnh viện. Mặc dù nó không tạo ra lợi nhuận hay mở rộng
năng lực sản xuất cho cụ thể một ngành hay lĩnh vực nào, song hiển nhiên
đây cũng là nguồn lực được sử dụng để nâng cao năng lực của cả nền kinh
tế, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư ở doanh nghiệp và
cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Lê Thị Thuý Ngọc 3 Lớp: KTPT 47B
Đề án Kinh tế phát triển
* Các hình thức đầu tư
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết phải sử

dịch vốn giữa các quốc gia.
- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo
nên lực đẩy với đầu tư quốc tế.
- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát
triển là rất lớn, tạo nên lực hút mạnh mẽ với nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Bản chất của đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình
thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm:
- Vốn đầu tư của tư nhân, được chia thành: vốn đầu tư trực tiếp (FDI) ,
vốn đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại.
- Vốn trợ giúp phát triển chính thức của Chính Phủ và của các tổ chức
quốc tế được chia thành: vốn hỗ trợ dự án, vốn hỗ trợ phi dự án và tín dụng
thương mại.
Trong đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nguồn vốn
lớn có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển,
đặc biệt trong giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam.
II- Vai trò của FDI trong phát triển kinh tế
1.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Trong lịch sử thế giới FDI đã tồn tại từ lâu, ngay từ thời kỳ tiền tư bản.
Cho đến ngày nay FDI đã trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế
hóa sản xuất và lưu thông. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ dù
phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi nó là nguồn lực quốc
tế quan trọng cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộn đồng quốc tế
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song chủ yếu là hợp đồng hợp
tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài
Lê Thị Thuý Ngọc 5 Lớp: KTPT 47B
Đề án Kinh tế phát triển

Đề án Kinh tế phát triển
tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên
thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tuợng
này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một phẩm đạt tới giai
đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản
phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải
tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do
đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung
cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất
thấp hơn.
Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981),
Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia
có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt
qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi
nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi
thế đặc thù nói trên.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột
thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu
phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt
thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường
đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay
tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang.
Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị
trường Bắc Mỹ và châu Âu.
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước
kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật
Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia
ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở

và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển
Lê Thị Thuý Ngọc 8 Lớp: KTPT 47B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status