thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp, khu kinh tế ở thành phố hải phòng - Pdf 25

i

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Ngô Công Thành
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Vân Chinh
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại
HÀ NỘI – NĂM 2014
ii

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Thị Vân Chinh, là tác giả khóa luận: “Thu hút vốn đầu
tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào khu công nghiệp, khu kinh tế ở thành phố Hải

1.2.3. Phân loại FDI 20
1.2.4. Tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 23
1.3. Một số nhân tố ảnh hƣởng đến thu hút FDI vào KCN, KKT 26
1.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc về cơ sở hạ tầng 26
1.3.2. Nhóm các nhân tố thuộc về môi trƣờng kinh doanh 28
1.3.3. Nhóm các nhân tố về kinh tế 30
1.4. Kinh nghiệm thu hút FDI của một số địa phƣơng 31
1.4.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dƣơng 31
1.4.2. Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai 33
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP, KHU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN
2010-2013 35
2.1. Những nét khái quát về thành phố Hải Phòng và các KCN, KKT ở Hải
Phòng 35
2.1.1. Giới thiệu về thành phố Hải Phòng 35
2.1.2. Các KCN, KKT ở Hải Phòng 39
iv

2.2. Thực trạng thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ở Hải
Phòng giai đoạn 2010 – 2013 42
2.2.1. Tình hình thu hút FDI trên địa bàn thành phố nói chung 42
2.2.2. Tình hình thu hút FDI vào các KCN, KKT ở Hải Phòng giai
đoạn 2010 - 2013 45
2.3. Đánh giá chung về hoạt động thu hút FDI vào khu công nghiệp, khu
kinh tế ở Hải Phòng giai đoạn 2010-2013 59
2.3.1. Một số thành công đạt đƣợc 59
2.3.2. Một số mặt còn hạn chế 64
2.3.3. Nguyên nhân của những mặt hạn chế trong hoạt động thu hút
FDI vào các KCN, KKT ở thành phố Hải Phòng 66
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÚT

CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
DWT
Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy tính
bằng tấn
EU
Liên minh Châu Âu
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
JETRO
Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản
JICA
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
KCN
Khu công nghiệp
KCNC
Khu công nghệ cao
KCX
Khu chế xuất
KKT
Khu kinh tế
KOTRA
Cơ quan xúc đầu tƣ thƣơng mại Hàn Quốc
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD

ở Hải Phòng lũy kế đến cuối năm 2013
45
2-5
Tình hình đăng ký mới và tăng vốn của các dự án FDI
vào các KCN, KKT Hải Phòng giai đoạn 2010-2013
46
2-6
Danh mục các nhà đầu tƣ FDI đầu tƣ vào các KCN, KKT
thành phố Hải Phòng tính đến ngày 16/09/2003
50
2-7
Doanh thu, giá trị xuất khẩu và đóng góp cho Ngân sách
nhà nƣớc từ hoạt động của các dự án FDI tại các KCN,
KKT Hải Phòng
56
2-8
Tỷ lệ lấp đầy của một số KCN Hải Phòng
58
3-1
Danh mục các lĩnh vực ƣu tiên thu hút FDI trong giai
đoạn 2013-2015, định hƣớng đến năm 2020
77 vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Trang

55
Hình 2-9
Số lƣợng lao động trong các KCN, KKT ở Hải
Phòng lũy kế từng năm trong giai đoạn 2010-2013
57 1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế, sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia có sự liên kết chặt chẽ với
các quốc gia khác trên toàn thế giới. Đối với mỗi nƣớc và đặc biệt là các nƣớc
đang phát triển, việc huy động, tập trung các nguồn lực cho quá trình phát
triển của đất nƣớc để đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất
và kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và thúc đẩy quá
trình tăng trƣởng nền kinh tế… là những nhiệm vụ rất quan trọng cần phải
thực hiện để đất nƣớc ngày càng phát triển và bắt kịp với các nƣớc đứng đầu
thế giới. Trong tình hình đó, mối quan hệ giữa đầu tƣ trong nƣớc với đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài là một trong những vấn đề quan trọng và rất đƣợc quan
tâm. Hiện nay, FDI đang trở thành một trong những nguồn vốn có vai trò vô
cùng quan trọng, có đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của Việt Nam. Nguồn vốn FDI đầu tƣ vào Việt Nam giúp tạo ra nhiều ngành
nghề và sản phẩm mới, không những tạo cơ hội nâng cao chất lƣợng nguồn
nhân lực và năng lực quản lý cũng nhƣ thúc đẩy chuyển giao công nghệ và
nâng cao trình độ công nghệ mà còn góp phần mở rộng thị trƣờng xuất khẩu,

vào năm 2013 tại trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân.
“Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tƣ nhằm phát triển các khu công
nghiệp ở Việt Nam” là Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thu Hƣơng,
bảo vệ năm 2005 tại trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân.
Ngoài những công trình trên còn có những bài tổng hợp, phân tích nhƣ
các số liệu về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào thành phố Hải Phòng nói chung
và vào các KCN, KKT ở Hải Phòng nói riêng, các bài báo nhƣ “Thu hút FDI:
Hải Phòng là bến đậu cho dự án đến từ Nhật Bản”, “FDI vào Hải Phòng vẫn
tăng mạnh”, “Hải Phòng chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua thu hút FDI”, “Thu
hút vốn FDI vào các KCN, KKT của Hải Phòng: Đứng trong tốp đầu cả
nƣớc”, “Hải Phòng: Các doanh nghiệp trong KCN, KTK đẩy mạnh hoạt
động”
3

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích những vấn đề từ lý luận cho đến
thực tiễn về tình hình thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các khu
công nghiệp và khu kinh tế ở địa bàn thành phố Hải Phòng, khóa luận đƣợc
nghiên cứu với mục đích nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề xuất phƣơng
hƣớng cũng nhƣ giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút và vận động hiệu quả
nguồn vốn FDI vào các khu công nghiệp và khu kinh tế ở Hải Phòng.
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ của khóa luận gồm có:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về KCN, KKT và FDI nhƣ
khái niệm, đặc điểm, vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Phân tích, làm rõ tình hình thu hút vốn FDI vào các KCN, KKT ở thành
phố Hải Phòng trong giai đoạn 2010-2013.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI vào KCN,
KKT của Hải Phòng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn về thu hút

1.1 Một số vấn đề cơ bản về khu công nghiệp và khu kinh tế
1.1.1. Khái niệm KCN, KKT
Khu công nghiệp
Tùy vào điều kiện từng nƣớc mà khu công nghiệp có những nội dung
hoạt động kinh tế khác nhau. Hiện nay, ở Việt Nam có 3 khái niệm do Nhà
nƣớc quy định về khu công nghiệp, xuất phát từ đặc điểm sản xuất, quản lý.
Khu công nghiệp (KCN) là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,
không có dân cƣ sinh sống, đƣợc thành lập theo điều kiện, do Chính phủ hoặc
Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh
nghiệp chế xuất.
Khu chế xuất (KCX) là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp
chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho các hoạt
động sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, không có dân cƣ sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ
quyết định thành lập. Tại đây, Nhà nƣớc ban hành các chính sách ƣu đãi nhằm
khuyến khích đầu tƣ của các doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Khu công nghệ cao (KCNC) là khu tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ
cao, gồm nghiên cứu-triển khai khoa học-công nghệ, đào tạo và các dịch vụ
có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng
Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có nhà ở, công trình
thƣơng mại dịch vụ cao, nghỉ ngơi, giải trí. Khu công nghệ cao là một KCN
đặc biệt và ở nƣớc ta số lƣợng còn hạn chế.
6

Thực tế hiện nay có xuất hiện thêm một số khái niệm KCN mới nhƣ
KCN địa phƣơng, KCN nông thôn. Đây là các KCN phục vụ chủ yếu cho các
doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trong nƣớc, hoạt động của các doanh
nghiệp này không chỉ đơn thuần là sản xuất mà còn gắn liền với các hoạt động

- Có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát
triển tổng hợp của khu kinh tế;
- Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tƣ với quy mô lớn, quan
trọng và có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực;
- Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hƣởng phát triển
lan tỏa đến các khu vực xung quanh;
- Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây
ảnh hƣởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng
cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp
với bố trí quốc phòng và đảm bảo quốc phòng, an ninh; có điều kiện đảm bảo
yêu cầu về môi trƣờng, môi sinh và phát triển bền vững.
1.1.2. Đặc điểm của KCN, KKT
Khu công nghiệp
Cho đến nay, các KCN đã và đang đƣợc phát triển ở hầu hết các quốc
gia, đặc biệt là các nƣớc phát triển và các nƣớc đang phát triển. Dù có thể
khác nhau về quy mô, địa điểm, phƣơng thức xây dựng hạ tầng nhƣng nhìn
chung các KCN có những đặc điểm sau:
Về không gian
KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát
triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lƣới đô thị
và phân bố dân cƣ hợp lý. Đây là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân
biệt với các vùng lãnh thổ khác và thƣờng không có dân cƣ sinh sống.
Các khu công nghiệp đều đƣợc xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống
hàng rào KCN, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi
hoạt động đầu tƣ, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ đƣợc
điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế
8

pháp lý riêng và đƣợc hƣởng rất nhiều ƣu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật khu
công nghiệp đƣợc xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và

kinh doanh bằng sáng chế; quy trình công nghệ…
Về tổ chức quản lý
Trên thực tế, trong các KCN đều có thành lập hệ thống Ban quản lý
KCN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng để trực tiếp thực hiện chức
năng quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong
KCN. Ngoài Ban quản lý KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có các Bộ,
Ngành nhƣ UBND tỉnh - thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Thƣơng mại,
Bộ Xây dựng,… KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ƣu đãi nhằm thu hút
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi và hấp dẫn đối với các
nhà đầu tƣ. KCN cho phép các doanh nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai
nhất định bên trong KCN để thành lập các nhà máy xí nghiệp, các cơ sở kinh
tế, dịch vụ với nhiều ƣu đãi nhƣ thủ tục hành chính, giá thuê đất…
Về chức năng hoạt động
KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Lĩnh vực đầu tƣ chủ yếu của các doanh
nghiệp trong KCN là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất
công nghiệp. Trong KCN, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngƣ
nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này.
Sản phẩm của các doanh nghiệp KCN thƣờng chủ yếu dành cho thị
trƣờng thế giới và phục vụ xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ. Bên cạnh đó, cũng
có rất nhiều doanh nghiệp KCN sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ thị trƣờng
nội địa. Các doanh nghiệp sản xuất trong KCN rất quan tâm đến vấn đề giảm
nhập khẩu máy móc, thiết bị và hàng hóa tiêu dùng, đồng thời cũng rất chú
trọng đến việc sản xuất hàng hóa chất lƣợng cao với mục đích thay thế hàng
nhập khẩu.
Về thành lập KCN
KCN không phải là khu vực đƣợc thành lập tự phát mà đƣợc thành lập
theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã đƣợc phê duyệt.
10



Phân biệt KCN và KKT
Thứ nhất, về mục tiêu thành lập. Mục tiêu thành lập của KCN là nhằm
thu hút vốn đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài. Còn KKT đƣợc thành lập với
mục tiêu khuyến khích và thu hút đầu tƣ, áp dụng cơ chế chính sách mới,
khắc phục những vƣớng mắc trong chính sách và cơ chế quản lý kinh tế hiện
hành trong khi chƣa có điều kiện thực thi trên phạm vi cả nƣớc, tạo môi
trƣờng đầu tƣ kinh doanh thuận lợi nhất cho nhà đầu tƣ.
Thứ hai, về không gian thành lập. KCN có đặc điểm nổi bật là có ranh
giới địa lý xác định, đã có sự giải phóng mặt bằng, thiết kế và xây dựng mới
theo quy hoạch, không có dân cƣ sinh sống. Còn KKT lại đƣợc xây dựng trên
cơ sở một diện tích đất tự nhiên sẵn có, đã tồn tại các điều kiện nhất định về
dân cƣ, địa lý… Các yếu tố thuận lợi này đƣợc khai thác trong quá trình quy
hoạch, xây dựng mới các khu chức năng, các công trình kĩ thuật hạ tầng, tạo
thành một không gian kinh tế rộng lớn và đặc thù bởi sự kết hợp các yếu tố
này.
Thứ ba, về chức năng hoạt động. Ở KCN thì chỉ chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Lĩnh vực đầu
tƣ chủ yếu của các doanh nghiệp là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ
cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngƣ
nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho các loại sản xuất này không tồn tại. Còn ở
KKT thì đƣợc phép đầu tƣ đa ngành, đa lĩnh vực nhƣng có mục tiêu trọng tâm
phù hợp với từng khu vực kinh tế đƣợc thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau.
Thứ tư, về gắn kết với khu dân cư. Đối với KKT, ở khu phi thuế quan
thì bao gồm cả các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu
dân cƣ, khu hành chính… trong khi đó, KCN thì tách bạch riêng, phân biệt
với các vùng lãnh thổ khác và thƣờng không có dân cƣ sinh sống. Nhƣ vậy,
có thể thấy KKT là mô hình kinh tế đặc biệt, có quy mô lớn và không chỉ tập
trung phát triển công nghiệp hay chế biến xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định nhƣng không tách biệt với khu dân cƣ.

13

Cơ sở hạ tầng ở các KCN đƣợc xây dựng hoàn chỉnh tạo điều kiện tập
trung hóa sản xuất cao, do vậy thu hút đƣợc các nhà đầu tƣ sản xuất công
nghiệp với công nghệ, phƣơng tiện và phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại đầu tƣ
vào KCN. Dây chuyền sản xuất hiện đại của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ tạo ra
các sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng trong nƣớc cũng nhƣ xuất khẩu với năng
suất lao động cao chính là nền tảng của sự nghiệp CNH-HĐH. Đồng thời, các
doanh nghiệp Việt Nam còn có cơ hội tiếp thu, học hỏi phƣơng thức tổ chức
quản lý sản xuất và đƣợc tiếp cận với công nghệ hiện đại.
Các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trƣởng
kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị,
tạo bƣớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tăng tỷ trọng công nghiệp
chế biến phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nƣớc. Đồng thời, KCN cũng
giải quyết việc làm, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng trên cả nƣớc.
Sự phát triển nhanh, có chất lƣợng của các KCN có tác động rất tích
cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng và của cả nƣớc. Từ
một nƣớc nông nghiệp đang ở giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH, nhu
cầu việc làm là rất lớn. Phát triển công nghiệp nói chung và phát triển KCN
nói riêng nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động dƣ
thừa ở khu vực nông thôn góp phần nâng cao năng suất lao động ở khu vực
này.
Các KCN góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển biến cơ cấu sản xuất
công nghiệp theo hƣớng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu quả,
nâng dần tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến, hạn chế đến mức thấp nhất
việc xuất khẩu nguyên liệu thô.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ. Quốc gia nào có khả năng sở hữu
lớn về vốn và công nghệ thì quốc gia đó sẽ có những bƣớc tiến nhảy vọt trong
kinh tế. Thông qua các KCN, Việt Nam có khả năng đón nhận các nguồn vốn

tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới, các công ty
phải nghiên cứu và đƣa vào dây chuyền sản xuất những công nghệ hiện đại và
tiên tiến nhất. Việc thu hút đƣợc những nhà đầu tƣ sở hữu những công nghệ
15

kỹ thuật hiện đại, mà đặc biệt là công nghệ nguồn, sẽ góp phần thúc đẩy
chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực trong nƣớc sẽ có cơ hội tiếp xúc,
nghiên cứu và sử dụng các loại máy móc và công nghệ sản xuất hiện đại đó.
Thứ năm, KCN, KKT góp phần đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thúc
đẩy quá trình CNH-HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Tác động của vốn, khoa học kỹ thuật do đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
mang lại làm cơ cấu kinh tế đƣợc chuyển dịch. Hƣớng chuyển dịch là tăng
tỷ
trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng sản phẩm nông
nghiệp. Số doanh nghiệp nƣớc ngoài đầu tƣ vào trong KCN tăng sẽ thu hút
đƣợc số lƣợng khá lớn lao động, giải quyết đƣợc công ăn việc làm cho nƣớc sở
tại. Ngoài ra, KCN còn góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất
nƣớc.
Mục tiêu phát triển các KCN là tạo đà tăng trƣởng công nghiệp, tạo
nguồn hàng xuất khẩu, tạo việc làm và từng bƣớc phát triển công nghiệp theo
quy hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu
tƣ phát triển hạ tầng, hạn chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra.
Thứ sáu, tạo việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động,
nâng cao chất lượng lao động.
Các KCN, KKT đƣợc đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ và chất
lƣợn sẽ thu hút các nhà đầu tƣ đến đầu tƣ, đặc biệt là các nhà đầu tƣ FDI. Các
nhà đầu tƣ khi đến tƣ sẽ sử dụng nguồn lao động ở địa phƣơng, thông qua đó
giúp tạo công ăn việc làm, giảm tình trạng thất nghiệp cũng nhƣ góp phần
nâng cao chất lƣợng lao động.
Thứ bảy, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như giao lưu, hợp

Trong 11 tháng đầu năm 2013 đã đƣa thêm 5 KCN đi vào hoạt động.
1.2. Một số vấn đề chung về FDI
1.2.1. Khái niệm về FDI
Hoạt động nghiên cứu về FDI đã đƣợc bắt đầu từ lâu và cho đến hiện
nay, có rất nhiều quan điểm về FDI.
17

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã nghiên cứu và đƣa ra khái niệm về FDI
vào năm 1977, FDI đƣợc hiểu là khoản vốn đƣợc đầu tƣ trực tiếp nhằm thu
đƣợc lợi nhuận có tính dài hạn trong doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ
của một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nƣớc chủ đầu tƣ; và mục đích
của chủ đầu tƣ đó là dành đƣợc quyền quản lý thực sự và chi phối đối với
doanh nghiệp đó.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), FDI là hoạt động
đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm mục đích thiết lập các mối quan hệ kinh tế dài
hạn với một doanh nghiệp,trong đó nhà đầu tƣ giành đƣợc sự ảnh hƣởng quan
trọng và có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp. Cũng theo OECD, đầu tƣ có
thể dƣới hình thức thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi
nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ; mua lại toàn bộ doanh nghiệp
đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; hoặc cấp tín dụng trong dài hạn.
Theo Diễn đàn Thƣơng mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD),
FDI là hoạt động đầu tƣ có quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát
lâu dài của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc công ty mẹ đối với doanh nghiệp của
mình ở một nền kinh tế khác.
Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), FDI là hoạt động đầu tƣ
đƣợc diễn ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một
tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) đi kèm với quyền quản lý tài
sản đó.
Theo Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996, FDI đƣợc hiểu là
hoạt động mà nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam một khoản vốn bằng

các chủ đầu tƣ theo quy định của Luật đầu tƣ nƣớc ngoài của từng nƣớc.
Thứ hai, FDI được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau.
FDI thƣờng đƣợc thực hiện thông qua nhiều hình thức tùy theo quy
định của Luật đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc Luật đầu tƣ tại nƣớc sở tại và điều kiện
cụ thuể của từng lĩnh vực để thành lập các khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài mà các
quốc gia lựa chọn cho phù hợp với các hình thức FDI khác nhau. Các hình
thức FDI đƣợc thực hiện thông qua có thể kể đến nhƣ hợp tác kinh doanh trên

Trích đoạn Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Hải Phòng Điều kiện thu hút các dự án FDI vào thành phố Hải Phòng Giải pháp từ phía Chính phủ Giải pháp từ phía UBND thành phố Hải Phòng Giải pháp đối với Ban Quản lý các KKT Hải Phòng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status