ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cỏ ngọt (Stevia rebaudiana Bertoni) là cây dược liệu có nguồn gốc
xuất xứ ở Paraguay, Brazil, Argentina, được phát hiện từ năm 1908 nhưng chính
thức đưa vào trồng năm 1931. Sau đó được trồng ở Canada, Liên Bang Nga,
Trung Quốc, Nhật Bản và một số các nước khác, trong đó có Việt Nam. Sản
phẩm của cây cỏ ngọt được sự dụng trong y học và trong thực phẩm. Trong y
học, nó được dùng như một loại trà cho những người bị bệnh đái tháo đường,
người bị bệnh béo phì, cao huyết áp. Trong thực phẩm, cỏ ngọt dùng để pha chế
làm tăng độ ngọt của các loại thực phẩm khác nhau, và chế thành các viên
đường làm giảm độ nóng khi dùng đường saccarôza. Ngoài ra, người ta còn
dùng để chế biến rượu màu, nước hoa quả, các loại bánh kẹo, món tráng miệng
đông lạnh, ướp các loại hải sản sấy khô, chế biến dấm…Hiện nay giá cỏ ngọt
trên thị trường dao động khoảng 180.000đ/1kg khô mà cỏ ngọt có thể cho thu
hoạch quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa hè và thời gian thu hoạch ngắn
khoảng hai tháng một lần. Do đó, cỏ ngọt có giá trị cao về kinh tế được nhiều
người quan tâm đầu tư nghiên cứu và diện tích trồng loại cây này dần tăng lên.
Để phục vụ mục đích sản xuất, trước tiên cây giống cần đảm bảo chất
lượng tốt đưa năng suất và chất lượng sản phẩm lên cao. Hiện nay, nhân giống vô
tính cây cỏ ngọt bằng phương pháp giâm cành đang sử dụng phổ biến, ưu điểm
của phương pháp này là cây con giữ nguyên tính trạng của cây mẹ, cây đồng đều
thuận tiện quá trình chăm sóc, thu hoạch, thời gian nhân giống tương đối nhanh,
hệ số nhân giống cao chu kỳ khai thác ngắn và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, để
cung cấp kịp thời nhanh chóng cây giống có chất lượng tốt cho quá trình sản xuất,
đòi hỏi người trồng dược liệu thường xuyên đổi mới và áp dụng các biện pháp kỹ
thuật tiên tiến vào trong sản xuất nói chung, cây cỏ ngọt nói riêng.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên
cứu kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật trồng giống cỏ ngọt Stevia rebaudiana
Bertoni tại thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ”.
1
1.2. Mục đích của đề tài
Brazil. Cỏ ngọt không thấy trồng ở Tây Ấn Độ và vùng Amazon.
Vào thế kỉ 16, các thủy thủ người Tây Ban Nha đã từng đề cập đến loại
thảo mộc này rồi nhưng đến năm 1888 các nhà thực vật học người Paraguay là
Mises Santiago Bertoni mới phân loại và chính thức đặt tên gọi nó là Stevia
rebaudiana Bertoni [5][7].
2.2. Đặc điểm thực vật của cây cỏ ngọt
2.2.1. Bộ rễ
Cây thực sinh (nhân giống hữu tính), cây có rễ cọc có thể ăn sâu tới 30
cm. Các rễ phụ lan rộng, ít phân nhánh và có bán kính tới 20 cm. Bởi vậy để cây
phát triển tốt khi trồng phải lên luống, đảm bảo cho rễ ăn sâu trên tầng đất mặt.
Nếu là cây nhân giống vô tính, cây không có rễ cọc, chỉ có rễ chùm nhưng các rễ
phát triển khá tốt và cũng có thể ăn sâu như cây thực sinh [2].
2.2.2. Thân, cành
- Thân: Là loại cây thân gỗ nhỏ, trên thân có nhiều lông mềm, chiều cao
cây từ 50 - 80 cm. Chiều cao tối đa của thân đạt tới 1,2 m. Đường kính thân biến
động từ 0,5 - 0,8 cm. Trên thân có nhiều đốt, vị trí phân đốt đầu tiên cách gốc
khoảng 10 cm. Các mắt đốt phía gốc thân có khả năng ra rễ bất định. Trong sản
xuất tiến hành thu hoạch khi cây cao 50 - 60 cm.
- Cành: Trên cây có 3 cấp cành. Cành cấp 1 phát sinh trước khi cây ra
hoa, các cành cấp 2, 3 chỉ phát sinh sau khi cây có nụ và nở hoa [2].
3
2.2.3. Lá
Lá mọc đối theo từng cặp chéo nhau, là loại lá đơn nguyên, có răng cưa,
Dạng lá thuôn dài 5 - 7 cm, rộng 1,5 - 2 cm, có 3 gân chính. Mép lá có từ 4 - 6
đôi răng cưa tù, hai mặt lá có lông láng mịn [2].
2.2.4. Hoa, quả
- Hoa: Là loại hoa phức, tập hợp thành cụm hoa đầu màu trắng, là loại hoa
lưỡng tính nhưng chủ yếu là giao phấn, tự thụ tỉ lệ thấp. Thời gian nở hoa vào
tháng 5 và tháng 9.
- Quả: Quả bế, màu nâu đậm, hạt không có nội nhũ, kích thước, trọng
cần phải cung cấp đủ nước tưới cho cỏ ngọt. Thường người ta tưới rãnh 2 – 3 giờ
thì nước rút hết. Ẩm độ đất thích hợp cho cỏ ngọt vào khoảng 70 – 75 %[2].
4
2.3.3. Ánh sáng
Cỏ ngọt là cây sinh trưởng phát triển tốt nơi có cường độ ámh sáng tương
đối mạnh. Khi trồng trọt ở điều kiện Việt Nam cây cho thu hoạch tốt nhất vào
các tháng 5, 9,10. Sau tháng 10 do phản ứng với điều kiện ánh sáng ngày ngắn,
cây nhanh ra hoa và làm tăng số lần thu hoạch. Trong các tháng mùa đông nếu
chăm sóc tốt cây vẫn tiếp tục cho thuhoạch nhưng năng suất thấp. Ở cường độ
ánh sáng mạnh hàm lượng Steviozit tăng [2].
2.3.4. Đất đai và dinh dưỡng
Cây cỏ ngọt có thể sinh trưởng trên hầu hết các loại đất, tuy nhiên để
trồng đạt năng suất cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao thì các loại đất có thành
phần cơ giới nhẹ, giàu mùn, có mực nước ngầm thấp, có độ pH từ 6 - 7. Đối
tượng thu hoạch của cỏ ngọt là lá và thu hoạch nhiều lứa trong năm nên yêu cầu
lượng phân bón khá lớn cả về hữu cơ và vô cơ [2].
2.4. Tác dụng của cây cỏ ngọt
Trong chi Stevia có tới 100 loài nhưng chỉ có cây cỏ ngọt là có hàm lượng
glucozit cao nhất và có thể sử dụng trontg y học và công nghệ thực phẩm. Chất
chứa trong cỏ ngọt được đặc biệt quan tâm là Steviozit (C
38
H
60
O
18
) đã tạo nên vị
ngọt mà ít có cây trồng nào có được, độ ngọt của Steviozit gấp 300 lần đường
Saccarozo và không có tính độc nên có thể dùng Steviozit thay thế đường hoá
học trong công nghệ thực phẩm.
Theo dược sỹ Lê Trần Đức, cỏ ngọt có tính bình, có tác dụng làm hạ hàm
2.5.1. Trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nước đã và đang phát triển và sử dụng cây cỏ
ngọt bắt đầu được sử dụng rộng rãi ở Nhật Bản. Hàng năm ở Nhật Bản sử dụng từ
45-50 tấn steviozit (tương đương 450 - 500 tấn lá khô). Ở Hàn Quốc dùng 6 - 8
tấn Steviozit/tháng (tương đương 60 - 80 tấn là cỏ ngọt khô). Sản phẩm đường cỏ
ngọt ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới đặc biệt là Nhật Bản và các nước
Đông Nam Á. Các chất cỏ ngọt (glucozit) chiết suất từ lá cỏ ngọt khô được công
ty RSIT ở Canađa gọi là “chất ngọt Hoàng gia” bởi tuyệt vời của nó như mô tả
của các nhà nghiên cứu, các nhà sản xuất và kinh doanh Nhật Bản, Brazil, Pháp,
Mỹ, Inđonêxia và Trung Quốc…. Một số nghiên cứu gần đây, từ cơ sở dữ liệu
Medicina đã nêu lên tác dụng của cỏ ngọt trong việc duy trì hàm lượng đường
trong máu, cỏ ngọt còn tỏ ra có hiệu quả đối với việc cải thiện chế độ tiêu hoá,
điều hoà hoạt động của hệ động mạch và sự chuyển hoá nói chung, tạo ra một sự
minh mẫn về trí óc, làm cho giấc ngủ sâu hơn, êm đềm hơn. Hiện nay trên thế
giới, trong kết quả nghiên cứu về tính an toàn của các chất phụ gia thực phẩm,
người ta đã kiến nghị cấm dùng một số chất ngọt có hại cho người đang có lẫn
trong các loại rượu và nước ngọt [8]
6
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất và sử dụng cỏ ngọt ở một số nước trên thế giới.
Năm
Sản lượng
(tấn)
Nguồn lá cỏ ngọt (tấn)
Nhật
Bản
Hàn
Quốc
Đài
Loan
Trung
ty Cổ phần Stevia Ventures và Trung tâm Nghiên cứu Giống và Phát triển cây
7
trồng Hà Nội (Viện Dược liệu) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Bắc
Giang, UBND xã Nội Hoàng (huyện Yên Dũng) đã tổ chức hội nghị triển khai
dự án cây cỏ ngọt với kế hoạch là mở rộng diện tích vùng nguyên liệu cỏ ngọt
để đáp ứng thị trường xuất khẩu[8].
Ở Nghệ An, Cây cỏ ngọt mới phát triển khoảng 2 năm, được trồng đầu
tiên ở xã Nghi Đồng (huyện Nghi Lộc). Nhận thấy đây là loại cây có thể phát
triển được ở địa phương, huyện Hưng Nguyên đã chủ động liên hệ với Công ty
Á Châu để trồng thí điểm ở xã Hưng Yên Bắc, hiệu quả của cây cỏ ngọt đã được
khẳng định, từ chỗ chỉ có vài hộ tham gia trồng sau đã được nhân rộng 25 hộ với
khoảng gần 3 ha. Dù trồng trong điều kiện thời tiết không thuận lợi nhưng bình
quân mỗi lần thu hoạch khoảng 6 tạ/sào, thậm chí có hộ đạt 9 – 10 tạ/sào, giá trị
thu nhập đạt khoảng 3,5 - 4,7 triệu đồng/sào/lứa. Nếu chăm sóc tốt, áp dụng
đúng kỹ thuật trồng một lần cỏ ngọt có thể cho thu hoạch 2 năm. Mỗi năm thu
hoạch 5 - 6 lứa. Năng suất bình quân từ 10 - 12 tấn lá tươi/ha/năm, lợi nhuận ó
thể đạt từ 70 - 90 triệu đồng/ha/năm[9].
2.5. Cơ sở khoa học của đề tài
2.5.1. Tính toàn năng của tế bào
Haberlandt (1902) lần đầu tiên đã quan niệm rằng mỗi tế bà bất kỳ của
một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cở
thể hoàn chỉnh. Theo quan niệm của sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng rẽ đã
phân hóa đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền (bộ AND) tương đương
với lượng thông tin di truyền của một cơ thể trưởng thành. Vì vậy, trong điều
kiện nhất định mỗi tế bào bất kỳ đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn
chỉnh. Đặc tính đó của tế bào gọi là tính toàn năng của tế bào.
Bất kỳ một tế bào nào cũng có thể hình thành một cây hoàn chỉnh. Đó
cũng là cơ sở khoa học của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào nói chung và kỹ thuật
nhân giống vô tính nói riêng. Cho đến nay con người đã hoàn toàn chứng minh
được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ.
cân bằng này sẽ quy định mức độ hình thành rễ và chồi khác nhau trong cây.
Hiện tượng ưu thế ngọn được điều chỉnh bởi cân bằng auxin/xytokinin.
Auxin được tổng hợp trong đỉnh sinh trưởng và lằm tăng ưu thế ngọn; còn
9
xytokinin thì được tổng hợp trong rễ và làm yếu ưu thế ngọn. Đi từ ngọn xuống
rễ, tỷ lệ cân bằng này giảm dần và hiện tượng ưu thế ngọn cũng giảm dần.
Sự rụng của cơ quan được điểu chỉnh bởi cân bằng của auxin/ABA +
etylen tức do ba hoocmon quyết định. Trong cơ quan sắp rụng thì hàm lượng
auxin rất thấp còn hàm lượng ABA và cả etylen rất cao, nên sự hình thành tầng
rời được hoạt hóa. Người ta xử lý auxin đề kìm hẵm sự rụng, xử lý ethrel (chất
sản sinh etylen) kích thích sự rụng.
Ý nghĩa của cân bằng hoocmon riêng: tất cả quá trình sinh trưởng và phát
triển của cây được biểu hiện bằng các quá trình phát sinh hình thái riêng biệt
trong cây đều được điều chỉnh bằng các cân bằng hoocmon nhất định. Hiểu biết
quy luật điều chỉnh hoocmon của các cân bằng riêng này rất có ý nghĩa trong
việc điều chỉnh cây trồng theo hướng có lợi cho con người. Hầu hết các ứng
dụng của chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng đều dựa trên các cân bằng
hoocmon này[6].
2.5.3. Cơ sở của việc giâm cành
Khi có tác động cắt cành thì auxin sẽ được hình thành một cách nhanh
chóng tại đỉnh sinh trưởng và các cơ quan non, sau đó qua hệ thống mạch libe
auxin được vận chuyển về phần vết cắt cành chiết, cành giâm để kích thích tạo
rễ bất định. Người ta chia sự hình thành rễ bất định làm ba giai đoạn :
- Giai đoạn phản phân hoá của tế bào tượng tầng trở lại chức năng phân
chia của mô phân sinh tạo khối tế bào bất định (callus). Lượng auxin lớn phản
phân hoá tế bào (10
-4
- 10
-5
g/cm
hom tuy sinh trưởng chậm hơn cây Pơ mu nhưng có khả năng phát triển tốt ở
những nơi khô hạn. Đặc biệt với tán lá đẹp và thường xanh nên có khả năng
trồng làm cây xanh đường phố.
Kết quả của giâm hom Thông Ba lá có thể đưa vào sản xuất đại trà với
một số lượng lớn để phục vụ trồng rừng. Hom giâm Thông ba lá tốt nhất ở giai
đoạn 2 - 7 tuổi, bằng chồi đã qua giai đoạn tạo chồi. Tỷ lệ ra rễ từ 80 - 90% khi
xử lý bằng IBA 0,5 - 1% (hoặc không xử lý khi chọn hom tốt) trên giá thể bằng
cát hay lúi bầu [4].
Họ cam quýt để giâm cành, dùng α-NAA ở nồng độ 4000 – 6000 ppm xử
lý nhanh trong 3 – 5 giây. Để giâm cành hoa hồng, người ta sử dụng α-NAA ở
nồng độ từ 2000 – 4000 ppm tùy theo giống[6].
Nhân giống cây Lô hội bằng việc tách chồi nách khi áp dụng phun chế
phẩm dinh dưỡng bao gồm 10%MS + 5 ppm cho tỷ lệ nảy chồi và hệ số nhân
chồi lớn đây là biện pháp khoa học và có hiệu quả. Nhân giống vô tính cây Lô
hội bằng phương pháp giâm hom thân cho hiệu quả thấp, tỷ lệ sống dao động từ
22,2% đến 35,5% ở các nồng độ 10 ppm IBA, 50 ppm IBA, 100 ppm IBA, IBA
dạng bột [1].
Bốn thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nhà ươm có mái che nhằm
nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, chiều dài cành, vị trí cành giâm và nồng độ
chất điều tiết sinh truởng α -NAA đến khả năng ra rễ, bật mầm và sinh truởng
của cành giâm cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L. Harms). Kết quả chỉ
11
ra: sử dụng giá thể là 50% đất + 50% trấu hun giúp cây sinh truởng phát triển
cao nhất về chiều cao chồi (14,2 cm), đường kính thân (0,51 cm), số lá/cây cao
nhất (3 lá/cây) và số rễ (4,2 rễ/cây). Sử dụng cành thân có chiều dài cành giâm
từ 15 – 20 cm, xử lý nồng độ α -NAA 2000 – 3000 ppm trong thời gian từ 3 - 5
giây giúp cành giâm ra rễ nhiều, khả năng sinh truởng của cành giâm cao hơn
hẳn công thức đối chứng [3].
Khảo sát sự bén rễ của việc giâm hom cây cỏ ngọt bằng cách sử dụng chất
điều hòa sinh trưởng khác nhau được thực hiện trong điều kiện nhà ươm có mái
3.2.2. Vật liệu nghiên cứu
- Chất kích thích sinh trưởng: NAA, các chế phẩm phân hữu cơ và phân
hóa học.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng (NAA)
đến khả năng ra rễ của cây cỏ ngọt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm phân hữu cơ vi sinh đến sự
sinh trưởng của hom cỏ ngọt
- Áp dụng quy trình trồng cây cỏ ngọt và nghiên cứu ảnh hưởng của một
số công thức bón phân tới các chỉ tiêu sinh trưởng của cây cỏ ngọt trồng tại Việt
Trì – Phú Thọ
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm
Trong nghiên cứu chúng tôi thực hiện trên 4 thí nghiệm về các biện pháp
kỹ thuật tác động đến nhân giống cây cỏ ngọt bằng phương pháp giâm cành. Các
thí nghiệm được bố trí độc lập. Hom cỏ ngọt có chiều dài 6cm giâm trên tầng
đất B vớii chế độ tưới nước 2 lần/ngày và che sáng bằng lưới đen.
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích sinh
trưởng (NAA) tới nhân giống vô tính cây cỏ ngọt tại Việt Trì – Phú Thọ.
Thí nghiệm được bố trí một khối gồm bốn công thức và ba lần nhắc lại:
13
- Công thức 1 (ĐC): Nhúng hom cỏ ngọt trong nước lã
- Công thức 2: Nhúng hom cỏ ngọt trong thuốc kích thích NAA với liều
lượng 5mg/l
- Công thức 3: Nhúng hom cỏ ngọt trong thuốc kích thích NAA với liều
lượng 10mg/.
- Công thức 4: Nhúng hom cỏ ngọt trong thuốc kích thích NAA với liều
lượng 15mg/l
- Phương pháp xử lý: Nhúng hom cỏ ngọt trong vòng 3 - 5 giây.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
2
O
5
+ 60 kg K
2
O + 800 kg HCVS Quế Lâm
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Dải bảo vệ
CT8 CT6 CT5
CT5 C8 CT8
CT7 CT7 CT6
CT6 CT5 CT7
*Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến khả
năng sinh trưởng của cây cỏ ngọt
14
CT9: Đối chứng bằng nước lã
CT 10: Bón 10gN +10P
2
O
5
+10g K
2
O/m
2
/ lần bón
CT11: Bón 15gN +10g P
2
O
5
- Tỷ lệ cây xuất vườn (%):
Tỷ lệ cây xuất vườn (%) =
Số cây đạt chất lượng xuất vườn
x 100
Tổng số cành đem giâm
3.4.3. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Ở các thí nghiệm, mỗi công thức điều tra 10 cây theo đường chéo 5 điểm,
mỗi điểm 2 cây với 3 lần nhắc lại.
Tiến hành theo dõi, thu thập số liệu sau khi giâm cành 5 ngày.
3.4.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình Excel và phần mềm IRRI STAT 5.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng (NAA) tới giâm
hom cây cỏ ngọt.
15
4.1.1. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích sinh trưởng (NAA) đến tỷ lệ ra mô
sẹo của cành giâm cây cỏ ngọt
Chất kích thích sinh trưởng NAA có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành rễ, nếu sử dụng NAA đúng liều lượng sẽ quyết định đến sự phát triển
của bộ rễ. Ở thực vật nói chung và cỏ ngọt nói riêng bộ rễ là cơ quan hút nước
và muối khoáng dưới dạng hòa tan chính vì vậy bộ rễ không chỉ quyết định đến
các chỉ tiêu dưới mặt đất như chiều dài rễ, số lượng rễ mà còn quyết định đến
các chỉ tiêu sinh trưởng trên mặt đất của cây như: Số lượng lá, số chồi, chiều cao
cây…
Trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng hom cỏ ngọt ngâm trong dụng
dịch NAA với các nồng độ 5mg/l, 10mg/l, 15mg/l và so sánh với đối chứng là
nhúng trong nước lã để đánh giá ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỷ lệ ra mô
sẹo của cây cỏ ngọt. Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 4.1.
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ chất kích sinh trưởng (NAA) đến tỷ lệ hom
50.9%, chiều dài rễ TB đạt 3.4cm và tổng số rễ TB đạt 4.9 tiếp theo là CT2 tỷ lệ
sống đạt 72.6%, chiều dài rễ TB đạt 4.1cm và tổng số rễ TB/hom đạt 5.7 cái. Ở
CT3 các chỉ tiêu đạt cao nhất với tỷ lệ sống đạt 80.4%, chiều dài rễ đạt 5.2% và
riêng tỷ lệ rễ TB/hom bằng với CT4 đạt 5.7 cái/hom. Đến CT4 các chỉ tiêu bắt
đầu giảm. Kết quả trên cho thấy hàm lượng NAA thích hợp nhất là công thức 3
với liều lượng sử dụng là 10mg/l.
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của chất kích sinh trưởng (NAA) đến tỷ lệ sống,
chiều dài rễ TB, tổng số rễ trung bình của hom cỏ ngọt (sau 20 ngày)
Chỉ tiêu
CTTN
Tỷ lệ sống
(%)
Chiều dài rễ
TB (cm)
Số rễ TB/hom
CT1 (ĐC) 50.9 3.4 4.9
CT2 72.6 4.1 5.7
CT3 80.4 5.2 5.7
CT4 75.4 4.2 4.8
LSD
0,05
2,56 3.12 2.46
CV% 3.17 3.67 3.18
4.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích sinh trưởng (NAA) đến một số chỉ
tiêu sinh trưởng của cành giâm cây cỏ ngọt
Khi sử dụng NAA chủ yếu ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển
của bộ rễ tuy nhiên khi hom có một bộ rễ khỏe mạnh sẽ kéo theo các chỉ tiêu sinh
trưởng khác như chiều cao cây, chiều dài rễ, số lá…Chính vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu ảnh hưởng của NAA đến chiều cao cây và số lá của hom cỏ ngọt.
17
biệt nhiều giữa các CT thí nghiệm. Tuy nhiên ở các ngày sau thì thấy rõ sự khác
biệt giữ các CT thí nghiệm và CT được đánh giá tốt nhất là CT3.
4.2. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến các chỉ tiêu sinh
trưởng của hom cỏ ngọt.
18
Sau khi cấy hom được 25 ngày chúng tôi tiến hành lấy các hom ở công
thức 3 ở thí nghiệm 1 làm thí nghiệm tiếp theo. Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng
của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới một số chỉ tiêu tăng tưởng của hom cỏ
ngọt.
4.2.1. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới thời gian tăng
trưởng của hom cỏ ngọt
Khi cắm hom sau thời điểm hom đã hồi và rễ đã hình thành và phát triển
thì cây cần một lượng chất dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng. Chính vì vậy
đây là thời điểm bón phân thích hợp cho hom. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành
theo dõi ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới thời gian sinh trưởng
ở các giai đoạn của hom cỏ ngọt nhằm lựa chọn được loại phân bón thích hợp
nhất cho hom cỏ ngọt.Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.4.
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới thời gian sinh
trưởng ở các giai đoạn của hom cỏ ngọt (tính từ thời điểm bón phân)
Chỉ tiêu
Công thức
Bắt đầu ra chồi
cấp 1(ngày)
Bắt đầu ra chồi
cấp 2 (ngày)
Hom xuất vườn
(ngày)
CT5(ĐC) 6 27 54
CT6 5 25 54
CT7 5 24 50
ngày
50
ngày
55 ngày
Số lá
Tỷ lệ so
với ĐC
(%)
CT5(ĐC) 8.7 9.1 9.9 10,9 12,5 14,6 18,3 100,0
CT6 8.7 9.3 10.5 11,0 13,7 16,7 20.0
*
118,0
CT7 8.7 9.1 10.2 11,5 14,8 17,3 20,9
*
112,2
CT8 8.7 9.1 10.1 11,3 13,9 16,9 21,6 109.3
LSD
0,05
1,7
CV (%) 4,9
Ghi chú: * : Sai khác so với đối chứng ở độ tin cậy 95%
Trong số liệu bảng 4.5 cho thấy: Trong các giai đoạn đầu số lá của những
công thức bón không có sự khác biệt nhiều, càng về sau các công thức có sự sai
khác rõ rệt, nổi bật là công thức 7 và công thức 8, số lá ở giai đoạn sau trồng 55
ngày tăng hơn so với đối chứng từ 2,6 đến 3,3 lá tương đương với mức tăng từ
14,2% đến 18,0% ở độ tin cậy 95%.
4.2.3. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới chiều cao hom cỏ
ngọt
Chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng không
nhỏ tới sự sinh trưởng của cây cỏ ngọt. Chiều cao cây quyết định đến năng xuất
lá
Tỷ lệ so
với ĐC
(%)
CT5(ĐC) 8.8 8,6 11,5 15,5 20,3 25,6 30,7 100,0
CT6 8.8 8,6 11,8 15,9 20,5 26,0 34,1 111,1
CT7 8.8 8,7 12,1 16,2 21,1 26,8 35,7
*
116,3
CT8 8.8 8,7 11,8 16,0 20,8 26,0 34,4
*
112,1
LSD
0,05
3,6
CV (%) 5,4
Ghi chú: * : Sai khác so với đối chứng ở độ tin cậy 95%
Trong đó, công thức 7 và công thức 8 làm tăng kích thước chiều cao thân
lên 16,3% và 12,1% so với đối chứng ở độ tin cậy 95%. Như vậy, các loại phân
HCVS đều có tác động làm tăng khả năng sinh trưởng về chiều cao của thân.
Thân là bộ phận quan trọng quyết định đến toàn bộ tán cây và số chồi hữu hiệu
trên cây chính vì vậy nó sẽ quyết định đến năng xuất của cây. Bên cạnh việc tác
động làm tăng nhanh về chiều cao cây giai đoạn 50 – 55 ngày sau trồng, các
loại phân HCVS đã làm hom có nhiều chồi hơn, làm tiền đề cho hom xuất vườn
đạt tiêu chuẩn tốt.
21
4.3. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến khả năng sinh trưởng
của cây cỏ ngọt
4.3.1.Ảnh hưởng của một số công thức bón phân tới thời gian sinh trưởng
của cây cỏ ngọt
ngày ở công thức 12.
Như vậy trong các công thức bón phân chúng tôi tiến hành chỉ thay đổi
hàm lượng đạm bởi giai đoạn trồng thì năng xuất cây phụ thuộc vào hàm lượng
đạm là chủ yếu và qua kết quả nghiên cứu trên chúng tôi thấy với CT12 là cho
thời gian được thu hoạch sớm nhất là 55 ngày. Tuy nhiên trong thí nghiệm lại
22
chưa bố trí được ngưỡng cao hơn nên chưa đánh giá được lượng đạm tăng lên
nữa thì thời gian cho thu hoạch có giảm nữa hay không.
4.3.2. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân tới số lá của cây cỏ ngọt
Khi hom cỏ ngọt đạt yêu cầu chúng tôi tiến hành trồng đại trà đã phải tiến
hành cắt bỏ ngọn để tránh làm mất nước khi trồng dẫn đến cây bị chết. Chính vì
vậy lúc này số lá trên cây chỉ còn khoảng 3-4 lá. Tuy nhiên trong thí nghiệm
chúng tôi chỉ đếm số lá mới được hình thành ở các thời điểm khác nhau sau khi
trồng. Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.8.
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân tới số lá của cây cỏ
ngọt ở các giai đoạn sau trồng
Chỉ tiêu
Công
thức
Số lá ở các giai đoạn sau trồng (lá)
7
ngày
14
ngày
21
ngày
28
ngày
35
ngày
Tốc độ ra lá tăng nhanh vào giai đoạn sau trồng 42 đến 49 ngày, đây là
thời kỳ chính của giai đoạn hình thành tán do cây hình thành chồi các cấp 2,3,
các lá cỏ ngọt xanh mở rộng theo cả chiều cao và chiều ngang. Thời kỳ này vô
cùng quan trọng với cây cỏ ngọt nó vừa là thời kỳ tích lũy đường vừa là thời kỳ
quyết định đến năng suất của cây. Cây tăng nhanh về số lá và diện tích tán lá,
đây chính là thời kỳ chính tạo tán, lá làm nhiệm vụ đồng hóa thì mới tập trung
dinh dưỡng, tiền đề tạo nên năng suất và chất lượng của cỏ ngọt. Các công thức
bón phân HCVS đều làm tăng số lá so với đối chứng. Và đây cũng là lần thu
hoạch đầu tiên nên nên năng suất chưa cao do số cành và số lá hữu hiệu còn ít và
năng suất cây cỏ ngọt sẽ được tăng dần ở các lần thu hoạch tiếp theo và ổn định
ở lần thu hoạch thứ 5, thứ 6.
4.3.3. Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới chiều cao cây của
cây cỏ ngọt khi cho thu hoạch lần 1
Cây cỏ ngọt sau khi trồng khoảng năm ngày bắt đầu có động thái tăng
trưởng về chiều cao cây và lúc này cây cần bổ sung một lượng phân bón phù
hợp sự phát triển của cây nhằm tăng năng suất cà chất lượng của giống khi thu
hoạch bởi sản phẩm thu hoạch của cỏ ngọt là lá và thân cây. Chính vì vậy mà
chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân tới
chiều cao của cây cỏ ngọt ở các thời điểm khác nhau. Kết quả thí nghiệm thu
được thể hiện ở bảng 4.9
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân tới chiều cao của cây
cỏ ngọt ở các giai đoạn sau trồng
Chỉ tiêu
Chiều cao ở các giai đoạn sau trồng (cm)
7 14 21 28 35 42 49 ngày
24
Công
thức
ngày ngày ngày ngày ngày Ngày
Chiều
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
Với các kết quả nghiên cứu đã đạt được, chúng tôi có một số kết luận như
sau:
25