MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam vốn là đất nước có nhiều làng nghề truyền thống được hình thành
và phát triển từ nhiều đồ nay. Trải qua hàng trăm. hàng ngàn năm, có rất nhiều
nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển như một phần không thể tách rời lịch
sử dân tộc. Như là làng nghề dệt vải, làm gốm sứ, đúc đồng, dệt chiếu, dệt thổ
cẩm ... Trong đó chúng ta không thể không kể đến nghề làm đồ gỗ truyền thống
đã gắn bó với cuộc sống của bao thế hệ người dân Việt Nam từ thuở cha ông ta
dựng nước đến nay. Những sản phẩm của nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu
hàng ngày mà còn là những sản phẩm văn hóa phục vụ cho đời sống tinh thần
của người dân Việt.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành nghề
truyền thống này đã phát triển thành ngành công nghiệp sản xuất và chế biến gỗ.
Sản phẩm của ngành là mặt hàng xuất khẩu mang nhiều nét đặc trưng độc đáo
của nền văn hóa dân tộc, do vậy nó cũng là thông điệp giới thiệu cho bạn bè
quốc tế về đất nước, cảnh quan thiên nhiên và con người Việt Nam. Bên cạnh
đó, các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam còn đem lại giá trị ngoại tệ rất
lớn. Chính bởi những lợi ích kinh tế – xã hội lâu dài và tiềm năng phát triển của
chúng mà hiện nay nhà nước đang có nhiều biện pháp và chính sách để khuyến
khích ngành chế biến sản xuất gỗ xuất khẩu phát triển.
Trong đề án này tôi xin được đề cập đến ba vấn đề lớn là: tổng quan về
ngành gỗ Việt Nam, thực trạng của ngành sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu và các
giải pháp để đẩy mạnh ngành nghề này.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, do còn nhiều sai sót và kiến thức
còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý của thầy cô
và các bạn.
Tôi xin cảm ơn thầy Nguyễn Đình Trung đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực
hiện đề tài này.
2
I.TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GỖ VIỆT NAM:
mạnh dạn mở rộng sản xuất với quy mô lớn, nên hoạt động đầu tư trong lĩnh vực
sản xuất và chế biến gỗ xuất khẳu đang tăng rất mạnh. Lực lượng doanh nghiệp
trong ngành chế biến gỗ hiện nay có khoảng 1.800 doanh nghiệp, trong đó có
trên 300 doanh nghiệp đang sản xuất hàng xuất khẩu. Cả nước có 3 cụm công
nhiệp chế biến gỗ là: Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương; Bình Định – Tây
Nguyên và Hà Nội – Bắc Ninh. Riêng Bình Dương đang có 371 doanh nghiệp
sản xuât và xuất khẩu sản phẩm gỗ, trong đó có 176 doanh nghiệp trong nước và
195 doanh nghiệp có vốn FDI.
3
2. Vai trò và những lợi ích kinh tế – xã hội từ việc phát triển ngành sản
xuất , chế biến đồ gỗ xuất khẩu:
a) Giúp chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Trong quá trình phát triển các làng nghề, hoạt động sản xuất, chế biến đồ gỗ
đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông
nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
Lịch sử ra đời và phát triển của mặt hàng này đã làm thay đổi cơ cơ cấu kinh tế
nông thôn của các làng nghề. Sự tác động này đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở
nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các
ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ, cùng tồn tại và phát triển.
Phát triển sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là quá trình hình thành và phát triển các
cơ sở, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ở nông thôn ngoại thành. Thông qua
việc làm tăng thêm số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
quá trình tích tụ, tập trung sản xuất cũng như thông qua việc tích luỹ vốn của các
cơ sở đó hoặc qua sự liên kết giữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sự phát
triển của ngành hàng này cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm
năng, lợi thế hiện có trong nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch
đồ gỗ công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ khắp nơi. Tuy nhiên, chúng ta cần
tạo cho sản phẩm những nét riêng, độc đáo mang bản sắc văn hoá đặc trưng của
dân tộc hay của mỗi vùng miền (như những nét chạm trổ bằng tay), từ đó mà
làm nên lợi thế cạnh tranh riêng của sản phẩm “Made in Viet Nam”. Do vậy,
đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ thủ công mỹ nghệ nói riêng và các sản phẩm đồ gỗ
khác nói chung sẽ góp phần giới thiệu và quảng bá văn hoá Việt Nam với bạn bè
Quốc tế.
d) Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và mở rộng
giao lưu hợp tác quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế:
Sản phẩm đồ gỗ không chỉ là một mặt hàng chủ lực của Việt Nam mà chúng
còn có thể mang những yếu tố văn hoá đậm nét. Điển hình là trên những sản
phẩm đồ gỗ mỹ nghệ tryền thống thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con
người, cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống, quan niệm về tự nhiên…
Những nét chấm phá nghệ thuật trên các sản phẩm chạm khắc gỗ, khảm trai…
vói cánh cò bay, cành trúc uốn cong, mái đình, cây đa, con đò, bến nước, con
sông trải dài… đã thể hiện hình ảnh đất nước, con người và tâm hồn tình cảm
Việt Nam, làm cho người nước ngoài thêm yêu mến dân tộc và đất nước Việt
Nam.
3. Đặc điểm của ngành sản xuất và chế biến gỗ:
a) Đã hình thành và phát triển từ lâu đời ở nước ta:
b) Được sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề:
Sự ra đời của mặt hàng đồ gỗ truyền thống lúc đầu là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của từng gia đình, đồng thời giải quyết lao động dư thừa, nhàn rỗi giữa
các mùa vụ. Sau xuất hiện những gia đình chuyên làm nghề này để sản xuất sản
phẩm phục vụ nhu cầu của người dân trong làng. Song đa phần các gia đình này
vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nào đó. Hiện nay, Việt Nam
5
có khoảng 200 làng nghề làm đồ gỗ. Do đặc điểm , điều kiện giao thông trước
kia nên các làng nghề truyền thống thường gắn với các con sông để thuận tiện
cho việc đi lại, vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm.
hầu hết ở các làng nghề người ta chưa hề quan tâm đến vấn đề này.
6
II.THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA VIỆT NAM:
1.Những thành tựu ngành sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã
giành được trong những năm gần đây:
Theo nhận định của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, liên tục trong ngững
năm qua, nhóm hàng đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam luôn đứng trong nhóm hàng
xuát khẩu có tốc độ tăng trưởng cao nhất,với mức tăng trưởng trung bình trên
30%. Các sản phẩm đồ gỗ đứng thứ 5 trong số các mặt hàng xuất khẩu nhiều
nhất sau dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản. Việt Nam đã qua mặt cả
Malaisia, Thái Lan và Indonesia để trở thành nước xuất khẩu nhiều nhất về đồ
gỗ ở Đông Nam Á trong năm 2007.
Biểu đồ cột thể hiện kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ từ năm 2001
đến nay.
(triệu USD)
Bảng tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ:
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng
trưởng
74% 100% 37,2% 23,5% 22%
7
Theo dự kiến, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt 3 tỷ USD năm
2008, tăng 28,2% so với năm 2007. Riêng tỉnh Bình Dương trong năm 2007 kim
ngạch xuất khẩu gỗ đã đạt 1,7 tỷ USD. Ngày 2/1/2008 tỉnh Bình Dương nhận
được một dự án lớn của tập đoàn DongWha ( Hàn Quốc) trị giá 180 triệu USD
về đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại tỉnh. Sản phẩm đồ gỗ chế biến của
tỉnh Bình Dương đang xuất khẩu trực tiếp sang thị trường của tất cả các khu vực
sang mỹ còn chưa cao so với các nước khác nên chưa có nguy cơ bị kiện
phá giá. Việc xúc tiến quảng bá các mặt hàng gỗ tại thị trường Mỹ những
năm qua cũng đã phát huy tác dụng, nhất là việc tham gia các hội chợ
triển lãm hàng gỗ nội thất và đồ gỗ danh tiếng ở Mỹ của các doanh nghiệp
8
Việt Nam, Vì thế làm gia tăng hiểu biết về sản phẩm gỗ đối với các nhà
nhập khẩu Mỹ. Uy tín của Việt Nam được nâng cao nhờ tư cách là thành
viên WTO và nhà nước Việt Nam đang có các cơ chế ngày càng thông
thoáng.
Với thị trường Nhật Bản, Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng đồ gỗ khá đa
dạng, phong phú, bao gồm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ công nghiệp, ván sàn,
khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí… Việt Nam đứng thứ 2, sau Trung
Quốc về xuất khẩu mặt hàng này vào Nhật Bản. Đồ gỗ Việt Nam xuất
khẩu sang Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng khá. Năm 2004: đạt 180 triệu
USD; năm 2005: 240 triệu USD; năm 2006: 286 triệu USD; 9 tháng đầu
năm 2997 đạt 228 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2006.
Với thị trường EU, đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện được hưởng thuế
GSP với mức thuế suất chủ yếu là 0% (một số mã hàng chịu thuế 2,1%)
đã giúp Việt Nam có một lợi thế nhất định khi chen chân vào thị trường
EU so với Trung Quốc, Indonesia, Braxin, Malaisia… do các nước này
không được hưởng GSP. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ Việt Nam vào
EU trong thời gian qua có mức tăng trưởng trung bình 15%/năm, tập
trung vào đỗ gỗ nội thất và đồ dùng ngoài trời. Trong năm 2006 đạt 501,9
triệu USD, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, riêng 3 tháng
đầu năm 2007 đạt 200,72 triệu USD. Tuy nhiên so với tổng lượng nhập
khẩu của EU thì mức xuất khẩu của Việt Nam còn rất khiêm tốn và chưa
phản ánh đúng tiềm năng.
2. Những thuận lợi với ngành chế biến, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam:
a) Việt Nam đã gia nhập WTO:
Điều này là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội đối với các doanh
nhau đã đạt tới mức rất điêu luyện thể hiện qua những tác phẩm mộc, điêu khắc
trong các đình, chùa. Ngày nay, những sản phẩm chế biến gỗ của chúng ta rất
tinh xảo, tinh tế. Tâm hồn, bản sắc dân tộc trong các sản phẩm đồ gỗ chất lượng
cao sản xuất tại Việt Nam đã tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, làm nên lợi thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp và đã thuyết phục được cả những thị trường khó
tính trên thế giới. Vì vậy, phát triển sản xuất đồ gỗ xuất khẩu cũng chính là giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
d) Nhu cầu sử dụng đồ gỗ trên thế giới ngày càng cao.
Ngày nay những thị trường đồ gỗ chính trên thế giới như châu Âu, Mỹ, Úc có
xu hướng chuyển dịch dần đầu tư và mua hàng ở Việt Nam. Thị trường xuất
khẩu ngày càng được mở rộng nên hoạt động đầu tư trong lĩnh vực này cũng
tăng rất mạnh. Chính tốc độ phát triển ngành chế bién gỗ tăng mạnh, đặc biệt là
từ cuối năm 2002 đã nói lên điều đó.
Các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã tạo được vị thế mới trên thị
trường quốc tế. Trước đây, ít ai nghĩ rằng đồ gỗ Việt Nam có thể chen chân vào
các siêu thị lớn, thì nay, hầu hết các siêu thị lớn trên thế giới đều có bán đồ gỗ
chế biến tại Việt Nam. Việc có nhiều nhà nhập khẩu đồ gỗ quốc tế tới tham dự
hội chợ EXPO
đồ gỗ hàng năm vào tháng 10 tại TPHCM trong 4 năm qua, để tìm hiểu và ký
kết hợp đồng đã phần nào khẳng định vị thế của công nghiệp chế biến gỗ Việt
Nam trên thị trường thế giới.
e) Nguồn nhân lực dồi dào, phong phú:
Nước ta có dân số trên 84 triệu người, đa phần là dân số trẻ, do vậy lực lượng
lao động rất đông đảo. Người dân Việt Nam từ lâu đã có truyền thống chăm chỉ,
11