Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trên thế giới, quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế chung
của toàn nhân loại. Không một quốc gia nào có thể phát triển mà không có sự
liên kết, giao lưu với các quốc gia khác. Vì vậy, thương mại quốc tế là hoạt
động giữ vai trò hết sức quan trọng làm thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội
nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy được những tiềm năng vốn có của
quốc gia mình.
Trong những thập kỷ vừa qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển bùng
nổ không ngừng của kinh tế toàn cầu. Để hoà chung cùng với dòng chảy của
nền kinh tế thế giới, Việt nam phải chú trọng phát triển Thương mại quốc tế
một hoạt động không thể thiếu đối với các nước từ chậm phát triển, đang phát
triển đến các nước phát triển. Trong quá trình hội nhập, hoạt động nhập khẩu
đã giúp người tiêu dùng tiếp cận với những tinh hoa văn hoá của nhân loại,
với những sản phẩm đa dạng, phong phú, hiện đại với giá cả cạnh tranh. Nhập
khẩu tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất và đời sống của một quốc gia,
góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Vì vậy nâng cao hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu là mục tiêu quan trọng của Nhà nước nói chung và
của các doanh nghiệp trong nước nói riêng.
Trong bối cảnh đó, công ty xuất nhập khẩu xi măng Việt nam
(VINACIMEX) là một công ty Nhà nước hàng đầu về xuất nhập khẩu phụ
tùng thiết bị, vật tư phục vụ cho các đơn vị trong ngành đã không ngừng cải
tổ lại cơ cấu tổ chức, cải tiến cơ sở hạ tầng, nâng cao trình đô chuyên môn và
chất lượng dịch vụ để luôn hoàn thiện mình,có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường trong và ngoài nước và là bạn hàng đáng tin cậy với các đối tác nước
ngoài.
Trong thời gian thực tập tại công ty xuất nhập khẩu xi măng, em đã cố
gắng tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
của công ty và em thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động
1. Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của kinh
doanh thương mại quốc tế, là mặt không thể thiếu được trong hoạt động ngoại
thương. Có thể hiểu rằng nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá và dịch vụ từ
nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích
thu lợi. Thực chất nhập khẩu là việc mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các
công ty nước ngoài về trong nước và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu
tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và kết nối
sản xuất với tiêu dùng.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu
tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong
nước. Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất
được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế,
nghĩa là nhập khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có
lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu
được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế
quốc dân, trong đó cân đối trực tiếp 3 yếu tố của sản xuất: công cụ lao động,
đối tượng lao động, và lao động. Với các tác động đó, ngoại thương được coi
là như một phương pháp sản xuất trực tiếp.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của
nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá đất nước.
Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát
triển kinh tế cân đối và ổn định
Góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây nhập
khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, Vừa
doanh đó có hai mức chi phí khác nhau.
Quan điểm 2: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này đã nói lên quan hệ
so sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được
kết quả đó, nhưng lại chỉ xét tới phần kết quả và chi phí bổ sung.
Quan điểm 3: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả
thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã phản ánh
được mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn được kết quả
với các chi phí bỏ ra, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí
(các nguồn lực). Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động nên
quan điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và về chất giữa kết
quả và chi phí.
Quan điểm 4: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ giữa sự
vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó đồng thời
phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này đã chú ý
đến sự so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó
là tốc độ vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí. Mỗi quan hệ này
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội
với chi phí thấp nhất.
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
1.2. Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực ( lao động, thiết
bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng
của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp-mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của
người tiêu dùng, an toàn vệ sinh, môi trường, vấn đề lao động và trách nhiệm
xã hội thì hiệu quả kinh doanh nhiều nhiều khi còn gắn với hiệu quả chính trị
- xã hội. Về mặt định lượng, đó là một đại lượng biểu thị mối tương quan giữa
kết quả mà doanh nghiệp đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để
đạt được kết quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động giữa kết quả với sự vận
động của chi phí tạo ra nó trong những điều kiện nhất định.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong
tất cả các lĩnh vực xã hội, kinh tế và kỹ thuật. Nhưng đối với doanh nghiệp để
tiện cho việc quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh người ta thường phân
loại hiệu quả theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là một trong các cách
phân loại hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả có hiệu quả tuyệt đối
và hiệu quả tương đối
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối
quan hệ giữa kết quả và chi phí
Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án
kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó được tính toán
bằng công thức:
∑ Kết quả - ∑ Chi phí = P (1)
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản
xuất của doanh nghiệp. Nó được tính bằng công thức
KQ
H
1
= (2)
CP
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
CP
Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài.
Hiệu quả này thường gắn liền với những chiến lược, kế hoạch dài hạn và liên
quan đến sự tồn tại và sự phát triển của doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả dài hạn và hiệu quả ngắn hạn có mối hiệu quả biện chứng
với nhau nhưng cũng có nhiều trường hợp mâu thuẫn nhau. Hiệu quả kinh doanh
ngắn hạn có thể đảm bảo cho hiệu quả kinh doanh dài hạn cho tương lai nhưng
nếu có xuất hiên mâu thuẫn giữa hai loại hiệu quả này thì ta nên lấy hiệu quả lâu
dài làm thước đo chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả có hiệu quả trực tiếp
và hiệu quả gián tiếp
Hiệu quả trực tiếp là những lợi ích thu được từ chính hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Hoạt động đó có tác động trực tiếp đến các chỉ tiêu
đo lường hiệu quả kinh doanh. Ví dụ vốn bỏ ra để kinh doanh nhập khẩu thì
sẽ thu được một khoản lợi nhuận nhất định, đó chính là hiệu quả trực tiếp
Hiệu quả gián tiếp là những lợi ích mang lại do hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp tác động đến những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp như các yếu tố về môi trường kinh doanh như môi
trường kinh tế, pháp lý, cạnh tranh…, các yếu tố bên trong doanh nghiệp như
nguồn nhân lực, yếu tố quản trị.
Căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả có hiệu quả tài
chính và hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh
tế tài chính được biểu hiện qua các chỉ tiêu thu chi trực tiếp của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả tài chính là hiệu lợi nhuận cao nhất và ổn
định. Đây là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
Hiệu quả chính trị - xã hội là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về
mặt chính trị - xã hội - môi trường. Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn
lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
quả sử dụng vốn tự có của doanh nghiệp nói riêng. Các chỉ tiêu doanh lợi bao
gồm: doanh lợi theo doanh thu bán hàng, doanh lợi theo vốn kinh doanh,
doanh lợi theo chi phí kinh doanh.
3.2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
Hiệu quả sử dụng vốn
Thực ra muốn có các yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh
doanh, nếu thiếu vốn mọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặc kém
hiệu quả. Do đó các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu
hiệu quả kinh doanh bộ phận. Để đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn và
từng bộ phận vốn của doanh nghiệp các nhà kinh tế đưa ra các chỉ tiêu:
+ Thời hạn thu hồi vốn kinh doanh
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng lao động
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất, góp
phần quan trọng trong năng llực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. hiệu
quả sử dụng lao động biểu hiện ở năng suất lao động, chỉ tiêu mức sinh lời
bình quân của lao động, chỉ tiêu hiệu suất tiền lương. Các chỉ tiêu này càng
cao thì doanh nghiệp sử dụng lao động càng hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng khai thác các nguồn nguyên vật liệu của
doanh nghiệp, đánh giá chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để
đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu người ta sử dụng hai chỉ tiêu sau:
+ Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
+ Vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang
Hai chỉ tiêu trên mà cao thì cho biết doanh nghiệp giảm được chi phí cho
nguyên vật liệu dự trữ, rút ngắn chu kỳ hoạt động về nguyên vật liệu tồn kho
và tăng vòng quay vốn lưu động. Ngoài ra sử dụng nguyên vật liệu có hiệu
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
và sử dụng chúng. Trong khi đó một mặt, dân cư ở từng vùng, từng quốc giâ
và toàn thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân
số rất lớn và mặt khác, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm
trù không giới hạn: không có giới hạn ở sự phát triển các loại cầu và ở từng
loại cầu thì cũng không có giới hạn - càng nhiều, càng phong phú, càng có
chất lượng cao càng tốt. Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và
ngày càng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó. Khan hiếm
đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm
tăng lên dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm
túc, gay gắt. Tức là việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề cấp thiết.
Do trình độ khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển do đó
người ta có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo ra sản phẩm. kỹ thuật
sản xuất phát triển cho phép cùng với những nguồn lực đầu vào nhất định
người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép
các doanh nghiệp có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh sao cho có lợi
nhuận tối đa nhất. Lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm)
tối ưu, sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh
doanh cao nhất thu được nhiều lợi ích nhất. Giai đoạn phát triển kinh tế theo
chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu: sự tăng
trưởng kết quả kinh tế của sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ việc cải tiến các
yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công
nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị…, và nâng cao chất lượng các hoạt
động kinh tế.
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử
dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong
điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh
là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh
doanh nào.
Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế
hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh
doanh nhập khẩu và những chi phí cho hoạt động nhập khẩu đó. Và phản ánh
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
trình độ tổ chức và quản lý, trình độ sử dụng các nguồn lực cần thiết phục vụ
cho hoạt động nhập khẩu.
Chi phí kinh doanh nhập khẩu là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản
chi phí cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp bao gồm chí
phí trực tiếp cho việc mua sắm hàng hoá nhập khẩu (như giá mua, thuế nhập
khẩu, lãi vay, phí mở L/C), chi phí vận tải, chi phí gián tiếp như chi phí quản
lý doanh nghiêp và một số chi phí khác.
Kết quả kinh doanh nhập khẩu là toàn bộ những thành quả thu được sau
một quá trình kinh doanh nhập khẩu được xã hội thừa nhận. Có nhiều đại
lượng xác định kết quả kinh doanh nhập khẩu như doanh thu nhập khẩu, giá
trị sản lượng….
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một vấn đề hết sức phức tạp
bởi nó bao gồm nhiều nội dung và chịu tác động của nhiều yếu tố. Hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp đạt được mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, đảm bảo cho người lao động
có mức sống cao hơn mà còn phải đảm bảo đem lại lợi ích cho kinh tế - xã
hội.
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu có vai trò rất quan trong đối
với cá doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nói riêng và cho toàn xã hội nói
chung. Trong cơ chế thị trường không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu là vấn đề bao trùm và xuyên suốt thể hiện chất lượng của toàn bộ
công tác quản lý kinh tế. Tất cả những cải tiến những đổi mới về nội dung,
phương pháp và biện pháp ứng dụng trong quản lý chỉ thực sự mang lại ý
nghĩa khi và chỉ khi làm tăng được kết quả kinh doanh mà qua đó làm tăng
được hiệu quả kinh doanh.
kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng giống như hệ thống chỉ tiêu đo
lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Nhưng hệ thống này
có một số chỉ tiêu đánh giá riêng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
nghiệp. Hệ thống chỉ tiêu đó bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu bộ
phận.
3.1. Các chỉ tiêu tổng hợp
3.1.1. Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Lợi nhuận phản ánh kết quả việc các yếu tố cơ bản của
việc sản xuất kinh doanh.Trong cơ chế thị trường, lợi nhuận vừa được coi là
nhân tố để tính toán hiệu quả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu tổng hợp
của doanh nghiệp. chỉ tiêu này được tính theo công thức:
P = D – (Z + Th + C)
Trong đó:
P: Lợi nhuận nhập khẩu của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh
D: Doanh thu tiêu thụ hàng nhập khẩu trong kỳ kinh doanh.
Z: Giá mua hàng nhập khẩu.
Th: thuế nhập khẩu
C: chi phí lưu thông.
Trong công thức này không phản ánh được chính xác chất lượng kinh
doanh nhập khẩu cũng như tiềm lực để nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này không phát hiện được doanh nghiệp đã
hao phí hay tiết kiệm lao động xã hội.
3.1.2. Chỉ tiêu doanh lợi nhập khẩu
Việc tính toán hiệu quả kinh doanh nhập khẩu theo chỉ tiêu lợi nhuận gặp
không ít khó khăn do việc tính toán chi phí của hàng hoá nhập khẩu. Để giúp
tính toán và so sánh dễ dàng những kết quả hoạt động nhập khẩu người ta
dùng chỉ tiêu doanh lợi để xem xét. Chỉ tiêu doanh lợi nhập khẩu phản ánh kết
3.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát
triển của mỗi doanh nghiệp. phân tích hiệu quả sử dụng vốn thì các nhà quản
trị mới biết được khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp và từ đó có những
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
chiến lược kinh doanh phù hợp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp kinh doanh nhập khẩu người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Hiệu quả sử dụng vốn cố định
* Sức sản xuất của vốn cố định
Tổng doanh thu thuần
H
1
=
Vốn cố định
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn cố định bỏ vào hoạt động nhập
khẩu thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu.
* Sức sinh lợi của vốn cố định
Lợi nhuận nhập khẩu
H
2
=
Vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bỏ vào hoạt động nhập
khẩu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Sức sản xuất của vốn lưu động
Tổng doanh thu thuần
H
1
chuyển càng lớn.
3.2.2. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là nhân tố sang tạo trong sản xuất kinh doanh, số lượng và chất
lượng lao động là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Vì vậy các nhà quản trị luôn phải quan tâm đến hiệu quả sử
dụng lao động để có những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động người ta
thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
* Năng suất lao động
Doanh thu thuần
W =
Tổng lao động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu trong một kỳ kinh doanh.
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
* Mức sinh lợi bình quân của lao động.
Lợi nhuận
P =
Tổng số lao động
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của mỗi lao động vào lợi nhuận
của doanh nghiệp.
Tóm lại, để đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của một doanh
nghiệp, người ta sử dụng đồng thời một hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu. Đồng thời, qua việc phân tích sự biến động của từng
chỉ tiêu và sự vận động của chúng mà đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
nhập khẩu của doanh nghiệp, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh
doanh thấp để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp.
4. Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu
được xem xét dưới góc độ thống nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác
phải có, thời gian phân tích được cho phép.
- Kỹ thuật so sánh: Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu người ta thường
sử dụng các kỹ thuật sau:
+ So sánh bằng số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa hiệu số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối
lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế.
+ So sánh bằng số tương đối là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết
cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
+ So sánh bình quân: là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện đặc
trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị,
một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất.
Quy trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực
hiện theo 3 hình thức sau:
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
• So sánh theo chiều dọc
• So sánh theo chiều ngang
• So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu.
Ngoài việc sử dụng phương pháp so sánh trong việc phân tích hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu người ta còn sử dụng các phương pháp:
* Phương pháp phân tích theo nhân tố: Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp và
các nhân tố tác động vào nhân tố đó.
* Phương pháp cân đối: Được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch
và công tác thanh toán.
* Phương pháp phân tích chi tiết: Theo các bộ phận cấu thành của chỉ
tiêu theo thời gian, theo địa điểm và phạm vi kinh doanh.
IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH
NHẬP KHẨU
1.2. Môi trường kinh tế
Tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế của chính phủ, lạm
phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh… luôn tác động
mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của mỗi doanh
nghiệp. Sự biến động của môi trường kinh tế là các nhân tố tác động trực tiếp
đến quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp và từ đó tác động mạnh mẽ,
trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nói chung và hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các doanh
nghiệp nói riêng. Nếu môi trường kinh tế ổn định thì các doanh nghiệp không
lo phải đối mặt với những rủi ro không lường trước được, hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ được thuận lợi hơn. Còn nếu môi trường kinh tế
mà mất ổn định, mà các nhà quản trị không dự báo trước được sẽ làm cho
doanh nghiệp thua lỗ và đi tới phá sản. Như vậy, để hiệu quả kinh doanh được
nâng cao các nhà quản trị phải có một hệ thống phân tích sự biến động môi
trường kinh tế giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro không đáng.
Sinh viên: Trần Lệ Quyên Lớp: QTKDQT 44
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
1.3. Môi trường cạnh tranh
Môi trường cạnh tranh có tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Sự cạnh tranh này buộc các doanh
nghiệp phải giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất
lượng dịch vụ, phải luôn tạo được hình ảnh mới của công ty trong mắt người
tiêu dùng, do vậy sẽ làm tăng chi phí kinh doanh. Ngoài ra, khi có nhiều sản
phẩm tương tự nhau xuất hiện trên thị trường sẽ làm giảm doanh thu bán hàng
của doanh nghiệp. Nếu môi trường cạnh tranh khốc liệt sẽ đẩy những doanh
nghiệp hoạt động không hiệu quả ra khỏi thị trường.
1.4. Hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc là những phương tiện
rất quan trọng trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Hoạt động nhập