I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, đất nước ta không
ngừng hoàn thiện, đổi mới và phát triển về mọi mặt. Trong xu thế đó, Đảng ta
luôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xem việc đổi mới, nâng
cao chất lượng trong giáo dục là yếu tố sống còn trong việc đào tạo, bồi dưỡng
những con người giàu tri thức, năng động, sáng tạo đảm nhận vai trò quan trọng
quyết định đến sự phát triển của đất nước trong tương lai.
Việc nâng cao chất lượng giáo dục phải được thực hiện gắn liền với việc
đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới về phương pháp, phương tiện
và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng.
“ Phương pháp là sự vận động của nội dung”, nên cùng với sự phát triển
của nội dung, phương pháp dạy học cũng đang được đổi mới theo hướng hiện
đại hóa. Luật giáo dục điều 28.2 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Việc đổi
mới phương pháp dạy học (PPDH) đòi hỏi phải tìm kiếm các PPDH mới và cải
tạo các phương pháp cổ truyền cho phù hợp với nội dung hiện đại, theo hướng
nâng cao tính tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực nội sinh của người
học, đổi mới cách điều khiển quá trình dạy học và đưa công nghệ hiện đại vào
nhà trường.
Những năm gần đây, qua quá trình giao lưu học hỏi, nghiên cứu và tiếp
thu những thành tựu giáo dục ở các nước phát triển, chúng ta đã ghi nhận và
thực hiện thành công nhiều phương pháp dạy học tích cực, hiện đại, mang lại
hiệu quả cao trong quá trình dạy học và quan trọng là phù hợp với tình hình giáo
dục Việt Nam hiện nay. Trong những phương pháp dạy học hiện đại đó không
thể không kể đến PBL (Project Based Learning: dạy học theo dự án).
PBL là một trong những PPDH hiện đại, chiếm một vị thế đáng kể trong
các lớp học, đang phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học ở những
được thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng trong
hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội; trong sản xuất nông nghiệp, trong nghiên
cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội…
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục,
đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử
dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học.
Đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho
phương pháp dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy
học lấy HS là trung tâm, khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi
GV là trung tâm. Ban đầu phương pháp dự án (PPDA) chỉ được vận dụng trong
việc dạy thực hành ở các môn học kỹ thuật trong các trường đại học và cao
đẳng, về sau PPDA được dung hầu hết các môn học, kể cả các môn khoa học xã
hội.
Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay phương pháp dạy học
dựa trên dự án lại được chú ý vận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục phát
triển như: Mỹ, Đức, Hà Lan…Ở nước ta dạy học dựa trên dự án đang được
nghiên cứu vận dụng trong dạy học Đại học, Cao đẳng, Chuyên nghiệp cũng
như các trường phổ thông.
1.1.2. Định nghĩa về dạy học dựa trên dự án
Cách học dựa trên dự án PBL là một hoạt động học tập dựa trên dự án
được thiết kế cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật
lấy HS làm trung tâm, hòa nhập với những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại.
Trong PBL, giáo viên (GV) là người cung cấp thông tin nền và đưa ra những chỉ
dẫn, nhưng HS phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng và cách giải quyết vấn
đề trong phạm vi những tiêu chí do GV đặt ra. Chính vì lẽ đó PBL còn được
nhìn nhận như là một hình thức dạy học, vì khi thực hiện một dự án có nhiều
PPDH cụ thể đươc sử dụng.
3
Từ nhiều cách đưa ra khái niệm của các nhà khoa học trên thế giới ta có
thể hiểu: “PBL là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một
Ra quyết định và
giải quyết vấ đề
Rèn luyện năng lực phát, và giải quyết những
vấn đề phức hợp.
Phát triển năng lực lập kế hoạch và thực hiện
kế hoạch, khả năng vận dụng tri thức vào
kinh nghiệm.
Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành
động, Nhà trường và xã hội
Đương đầu với Rèn luyện tính bền bỉ và kiên nhẫn
4
cảm xúc và căng
thẳng
Quan hệ liên
nhân cách và
giao tiếp
Phát triển năng lực giao tiếp và khả năng
trình bày
Có thể thấy, phần lớn các KNS phù hợp với mục tiêu của DHDA, số còn
lại tuy không giống nhau hoàn toàn nhưng cũng có sự tương đồng nhất định,
chẳng hạn:
- Tự nhận thức là kĩ năng nhận biết và hiểu rõ bản thân mình (về
tiềm năng, tình cảm, mặt mạnh, mặt yếu…) DHDA sẽ kích thích động cơ, tạo
hứng thú học tập cho HS, giúp họ tích cực huy động nhiều tiềm năng của bản
thân như: Tư duy, thực hành, trình bày, giao tiếp để giải quyết vấn đề học tập
mang tính phức tạp, qua đó khám phá các ưu điểm và hạn chế của bản thân.
- Kỹ năng thấu cảm ( bày tỏ sự thông cảm bằng cách tự đặt mình vào
vị trí của người khác và có sự hỗ trợ cần thiết đối với người đó) được rèn luyện
qua hoạt động nhóm trong quá trình HS thực hiện dự án.
- Việc rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn trong DHDA cũng là một
thể xác lập mục tiêu dự án.
3.2.Thiết kế ý tưởng dự án
Một dự án có tính khả thi thường bắt nguồn từ một ý tưởng tốt. Các hoạt
động học tập trong PBL được thiết kế mang tính thiết thực, liên quan đến nhiều
lĩnh vực kiến thức, lấy người học làm trung tâm và gắn kiến thức nhà trường với
những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại. Vì vậy GV cần nhìn thấy những
vấn đề trong cuộc sống xung quanh, nhất là các vấn đề có tính thời đại.
Xuất phát từ nội dung bài học, GV đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấp
dẫn, thực sự có thể lôi cuốn HS, kích thích HS hứng thú tham gia thực hiện
thông qua các hoạt động học tập như:
- Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: Những dự án này thường gắn
liền với cộng đồng địa phương và HS có thể áp dụng bài học trong lớp học vào
tình huống thực tế. Ví dụ, tạo những vật dụng hay đồ chơi từ các vật liệu phế
thải cho các em nhỏ trong “Mái ấm tình thương”.
- Mô phỏng và đóng vai: Những dự án này được thiết kế nhằm cung cấp
cho HS một kinh nghiệm thực tế đầu tay. HS sẽ vào vai một người khác, sống
trong một tình huống mô phỏng tái tạo lại thời gian và không gian nhất định. Mô
phỏng và đóng vai là cách rất hữu hiệu để phản ánh lịch sử, mang lại nhiều hiệu
quả hay tạo được sự thấu cảm tốt. Ví dụ, để nâng cao ý thức về “An toàn giao
thông”, HS hóa thân vào một vở kịch hay xây dựng một video clip với nội dung
nói về hậu quả của một tai nạn giao thông.
6
- Xây dựng và thiết kế: Những dự án này dựa trên nhu cầu thực tế hay có
thể được tạo nên bởi chuỗi sự kiện đáng tin cậy. Các dự án này đòi hỏi HS phải
xây dựng được mô hình thực sự hay lập kế hoạch đề xuất giải pháp cho các vấn
đề thực tế. Ví dụ, chế tạo tên lửa nước.
- Hợp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực
hiện trực tuyến. Các dự án cung cấp kinh nghiệm học tập thực tế khi hợp tác
trực tuyến với các lớp khác, các chuyên gia hay cả cộng đồng.
- Tra cứu web: Đây là các hoạt động yêu cầu định hướng trong đó một số
HS phải tư duy bậc cao. Thông thường câu hỏi khái quát phải gắn với nhu cầu
có thực trong thực tế cuộc sống, sở thích của HS và gây được sự tò mò, sự hứng
thú muốn khám phá ở HS.
* Câu hỏi BH: Câu hỏi BH cũng là câu hỏi mở nhưng hướng HS đi vào trọng
tâm một bài học, một chủ đề cụ thể. Câu hỏi BH đòi hỏi phải đủ rộng để bao
quát hầu hết các chủ đề của bài học, giúp HS tự khám phá và thể hiện những
hiểu biết của mình quanh các vấn đề cốt lõi của dự án một cách sáng tạo, độc
đáo, duy trì sự hứng thú ở HS. Với Câu hỏi BH có nhiều hơn một câu trả lời
đúng duy nhất nên cũng đòi hỏi HS phải tư duy bậc cao. Câu hỏi BH hỗ trợ việc
nghiên cứu câu hỏi khái quát.
* Câu hỏi ND: Câu hỏi ND là những câu hỏi cụ thể, trọng tâm, tập trung trực
tiếp vào các chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập; là câu hỏi hỗ trợ cho các câu
hỏi khái quát và Câu hỏi BH. Câu hỏi ND được xếp vào loại câu hỏi “đóng”, nó
đòi hỏi phải có câu trả lời đúng, rõ ràng, cụ thể, không thể bác bỏ.
d. Yêu cầu của bộ câu hỏi định hướng
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV với tác dụng khuyến
khích, kích thích tư duy của HS, hướng HS tập trung vào nội dung bài học, đồng
thời giúp HS ghi nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức của mình. Do đó việc
xây dựng bộ câu hỏi định hướng phải xuất phát từ nội dung cần học: Xác định
ai, lĩnh vực nào ứng dụng kiến thức cần học, đối tượng nào cần được chọn ưu
tiên; HS có thể thực hiện vai trò gì trong dự án liên quan chặt chẽ với nội dung
cần học.
Yêu cầu của việc đặt câu hỏi là phải thích hợp, có sức lôi cuốn sẽ khuyến
khích HS suy nghĩ sâu hơn, tạo nên một ngữ cảnh hiệu quả đối với việc học. Khi
HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc
các em cảm thấy thích thú với việc học. Khi câu hỏi giúp HS nhận ra được mối
liên hệ giữa môn học với đời sống bản thân, đó cũng là lúc việc học sẽ trở nên
có ý nghĩa. Những câu hỏi hay có thể giúp HS trở thành những người có động
cơ học tập, có khả năng tự định hướng hoạt động học tập và cao hơn nữa là khả
năng tự học suốt đời.
trình thực hiện dự án, hoạt động nhóm thể hiện được:
Thứ nhất, sự hợp tác làm việc, biết chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau của
tất cả các thành viên trong nhóm. Tuy nhiên trong quá trình làm việc cùng nhau,
không tránh khỏi sự tranh luận nhưng sự tranh luận lại là một hoạt động rất hữu
ích, vì qua đó mỗi HS mới tìm được cái đúng, cái sai và nguyên nhân dẫn đến
những quan niệm khác nhau đó. Nhờ vậy, HS sẽ nắm vững kiến thức, vừa có
được kỹ năng xây dựng kiến thức. Kết quả học tập của nhóm được tạo ra khi có
sự thống nhất, sự kết hợp tất cả kết quả của các thành viên.
Thứ hai, mỗi thành viên đều được phân công thực hiện một phần của công
việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung. Qua đó thể hiện tính
trách nhiệm của mỗi thành viên.
Thứ ba, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội để rèn luyện các kỹ
năng như: giao tiếp, hợp tác, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản
hồi tích cực, thuyết phục, ra quyết định…
9
Thứ tư, rèn luyện cho HS kỹ năng đánh giá: các nhóm HS thường xuyên rà
soát công việc đang làm “Chúng ta cần làm gì?” và “Kết quả ra sao?”. HS có thể
đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện
các nhiệm vụ được giao và kết quả chung của nhóm.
b. Đặc điểm của làm việc theo nhóm trong PBL: Trong PBL, lớp học
thường được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 4 đến 8 HS. Việc chia nhóm
thường xuất phát từ mục tiêu, nội dung bài học nhưng phải đảm bảo tính đồng
đều về trình độ nhận thức và tính năng động trong các hoạt động. Tuy nhiên
cũng có thể chia nhóm theo sở trường của HS.
Sau khi phân nhóm, mỗi nhóm bầu nhóm trưởng, thư ký. Nhóm trưởng có
nhiệm vụ giao cho mỗi thành viên một nhiệm vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ
chung hoặc tất cả các thành viên đều thực hiện cùng một nhiệm vụ và quản lý
được tiến độ thực hiện dự án. Nhóm trưởng phải biết điều khiển hoạt động của
nhóm, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau; thảo luận, thống nhất kết quả chung của
nhóm. Còn thư ký có nhiệm vụ ghi nhận lại việc phân công của nhóm trưởng,
phẩm của dự án giúp HS thể hiện năng lực của bản thân mình, khả năng diễn đạt
và làm chủ quá trình học tập, đồng thời giúp HS áp dụng những điều đã học vào
thực tế cuộc sống.
3.6. Đánh giá dự án
Đánh giá là một hoạt động thường xuyên trong quá trình dạy và học, nó giữ
một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng đào tạo.
Mục đích của việc đánh giá: Mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao
chất lượng học tập và năng lực của HS. Căn cứ vào kết quả đánh giá, HS biết
được mức độ đạt được của mình so với mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Trên cơ
sở đó HS điều chỉnh cách học để nâng cao kết quả học tập, đồng thời giúp GV
điều chỉnh cách dạy cho phù hợp.
3.7. Quy trình tổ chức thực hiện PBL
Dựa trên cấu trúc của PBL, để thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động
dạy học, có thể chia tiến trình dạy học theo PBL thành 3 bước được biểu diễn
bằng sơ đồ sau:
11
Bước 1: Lập kế hoạch
1.1 Lựa chọn chủ đề
1.2 Xác định mục tiêu dự án
1.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện
Bước 2: Thực hiện dự án
2.1 Thu thập và xử lý thông tin
2.2 Tổng hợp thông tin
2.3 Xây dựng sản phẩm
3.8. Bản chất, mục tiêu và đặc điểm của PBL
3.8.1. Bản chất của PBL: HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện các kỹ năng tư
duy bậc cao thông qua quá trình tự giải quyết một bài tập tình huống gắn liền
với thực tiễn cuộc sống, dưới sự hướng dẫn của GV. Kết thúc dự án sẽ cho ra
một sản phẩm cụ thể.
3.8.2. Mục tiêu của PBL
với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện
các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.
b. Định hướng hoạt động HS: Trong quá trình thực hiện dự án, có sự kết
hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực
tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết
cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
c. Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm
được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý
thuyết, mà trong đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật
chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng,
công bố, giới thiệu.
d. Định hướng ứng dụng CNTT: Trong thời đại bùng nổ CNTT, HS có
nhiều cơ hội để mở rộng tầm hiểu biết từ thế giới bên ngoài. Thông qua CNTT,
HS tìm thấy các nguồn tài nguyên để thực hiện dự án và tạo sản phẩm. Qua đó,
kỹ năng sử dụng CNTT ở HS được hình thành và phát triển.
3.9.So sánh phương pháp dạy học dự án với các phương pháp dạy học
truyền thống
Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học dự án
1. Quan niệm về quá trình dạy học
- Học là quá trình tiếp thu, lĩnh hội,
qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng,
thái độ.
- Dạy là quá trình truyền đạt, chuyển
tải nội dung đã được quy định trong
chương trình, SGK.
- Học là quá trình tìm tòi, khám phá,
phát hiện và xử lý thông tin, tự hình
thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
thông qua hoạt động học tập, dưới sự
hướng dẫn của GV.
4. Vai trò của HS
Thụ động theo dõi, ghi nhớ kiến thức,
thừa hành, bắt chước.
Chủ động tham gia các hoạt động
nhằm chiếm lĩnh kiến thức, tự tìm hiểu
và giải quyết nhiệm vụ học tập.
5. Mục tiêu dạy học
- Chuẩn bị cho HS vào đời và tiếp tục
học lên.
- Chú trọng đến việc hình thành kiến
thức cho HS.
- Chuẩn bị cho HS sớm thích ứng với
đời sống xã hội, hòa nhập và góp phần
phát triển cộng động.
- Chú trọng hình thành năng lực nhận
thức, năng lực hoạt động, năng lực tự
học và các kỹ năng mềm như kỹ năng
giải quyết vấn đề, cộng tác…
- Tôn trọng lợi ích, nhu cầu, năng lực
của HS.
14
6. Nội dung dạy học
- Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo.
- Nhiều kiến thức đã học ít được dùng
đến trong cuộc sống hàng ngày.
- Không chỉ quan tâm đến kiến thức lý
thuyết mà còn chú trọng đến các kỹ
năng thực hành vận dụng kiến thức,
năng lực phát hiện và giải quyết các
mỗi HS.
8. Hình thức, tổ chức dạy học
- Chủ yếu dạy học toàn lớp, GV đối
diện với cả lớp.
- Thường cố định trong không gian lớp
học.
- Bàn ghế cố định, không thay đổi.
- Học cá nhân, đôi bạn, học theo nhóm.
- Địa điểm học tập cơ động, linh hoạt:
học ở lớp, học ở phòng thí nghiệm, ở
hiện trường, trong thực tế.
- Thường dùng bàn ghế cá nhân, hoặc
có thể thay đổi cách bố trí cho phù hợp
với các hoạt động học tập.
9. Phương tiện dạy học
15
- Phương tiện dạy học được sử dụng
chủ yếu để minh họa, kiểm nghiệm
những nội dung trong SGK hoặc lời
nói của GV.
- Phương tiện dạy học được sử dụng
như là nguồn thông tin dẫn HS đến
kiến thức mới.
- Quan tâm vận dụng các phương tiện
dạy học hiện đại để HS hoàn thành
nhiệm vụ học tập theo tiến độ phù hợp
với năng lực.
10. Đánh giá
- Thường đánh giá theo nội dung dạy
học, khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến
so với cách dạy học thông thường lâu nay. Cụ thể: Trong các năm học 2011
-2012, 2012 -2013 và 2013 -2014 tôi được Nhà trường phân công giảng dạy
môn Vật lý ở một số lớp trong đó có hai lớp C3 và C4 là hai lớp có số HS bằng
nhau, trình độ HS đầu vào là như nhau và là các lớp Ban Tự Nhiên, tôi đã áp
dụng phương pháp dạy học theo tinh thần dự án cho lớp C3 còn lớp C4 tôi giảng
dạy theo phương pháp truyền thống thì kết quả thu được là tất cả các bài kiểm
tra định kỳ và tổng kết cuối năm của lớp C3 luôn luôn cao hơn lớp C4, hơn nữa
bản thân tôi còn cảm nhận được tình cảm, tinh thần đoàn kết, sự gần gũi, mạnh
dạn và biết chia sẻ ở HS lớp C3 là rất rõ rệt qua quá trình thực hiện các dự
án.Trong thời gian tiến hành dự án các KNS của HS được hình thành và phát
triển. Dưới sự định hướng và gợi ý của GV hầu hết các nhóm đã xây dựng được
kế hoạch rất chi tiết nhằm thực hiện mục tiêu dự án. Các thành viên trong một
nhóm hoạt động rất hiệu quả, vai trò của mỗi người như một mắt xích của nhóm.
Quá trình thực hiện dự án đã hình thành và phát triển ở HS các năng lực như: tư
duy sáng tạo, hành động, thực hiện kế hoạch, hợp tác giải quyết vấn đề, đề xuất
giải pháp tình thế…và cuối cùng là giai đoạn báo cáo sản phẩm kỹ năng thuyết
trình và tự tin của HS được thể hiện rất rõ ràng.
Với giới hạn eo hẹp của một SKKN tôi không thể trình bày hết những
việc mình đã làm song tôi xin khẳng định rằng việc lồng ghép đưa tinh thần
DHDA vào giảng dạy bộ môn Vật lý là không khó khăn vì đây là một môn học
có tính thực tiễn cao. Ví dụ như ở chương trình lớp 10 ta có thể vận dụng đưa
dạy học dự án vào áp dụng cho khối kiến thức phần năng lượng, các định luật
bảo toàn… Ở lớp 11 ta có thể áp dụng các kiến thức về dòng điện, về hiện tượng
cảm ứng điện từ…để tạo ra những sản phẩm trong thực tế hoặc những đồ dùng
dạy học mà ở kho thiết bị Nhà trường chưa có qua DHDA. Trong chương trình
Vật lý lớp 12 cũng có rất nhiều kiến thức có thể tích hợp DHDA đặc biệt là ở
chương “ Dòng điện xoay chiều” là một chương có khối lượng kiến thức rất lớn
chiếm tỷ lệ cao nhất của chương trình Vật lý 12. Tôi xin gới thiệu một giáo án
lồng ghép DHDA mà tôi đã sử dụng trong SKKN này (xem phần phụ lục).
Sau đây là bảng thống kê kết quả tổng kết cuối năm lớp 12 của 2 lớp C3 và C4
sự vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn). Thời gian, phương tiện, kinh phí,
trình độ HS không còn là khó khăn, nan giải trong DHDA mà điều quan trọng
nhất là mỗi GV cần nỗ lực, sáng tạo trong khi vận dụng.
Do yêu cầu đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nên phương
pháp giảng dạy cũng được thay đổi. Do đó việc nghiên cứu phương pháp giảng
dạy nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Vật lý cần được đề cập đến một cách có
hiệu quả hơn. Để đạt được điều đó các đề tài nghiên cứu cần được thử nghiệm ở
các trường phổ thông có diện rộng. Việc thu nhận xử lý kết quả cần tới sự cộng
tác đắc lực của nhiều nhóm nghiên cứu. Vì vậy cần có sự liên kết giữa đề tài đặt
ra với các đề tài nghiên cứu khác trong lĩnh vực phương pháp giảng dạy Vật lý.
Đề tài này cũng đã được thử nghiệm ở trường phổ thông xong mới chỉ ở phạm
vi hẹp nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
ý kiến đóng góp của các đồng chí trong tổ Vật lý trường THPT Yên Định 2 nói
riêng và bạn bè đồng nghiệp nói chung để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Mọi góp ý và chia sẻ xin được gửi về địa chỉ Hồ Thị Minh
GV trường THPT Yên Định 2 – Thanh Hóa ([email protected])
Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị Thanh Hóa, ngày 12 tháng 5 năm 2014
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do tôi
viết, không sao chép của ngừơi khác.
Người viết SKKN
Hồ Thị Minh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Cao Đàm (1995), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Hà Nội.
2. Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc
Hưng, Nguyễn Đức Thâm,Vũ Đình Túy, Phạm Quý Tư (2008) Vật lý
12, Sách Giáo Khoa, Sách GV Nâng cao, NXB Giáo Dục.
19
3. Nguyễn Quang Lạc (1990), Lý luận dạy học Vật lý ở trường phổ
đang xảy ra?Bạn có tưởng tượng rằng cảnh tượng này sẽ diễn ra thường xuyên
đối với chính mình không?
Bạn đang là một HS THPT, đã nắm được những kiến thức cơ bản về
dòng điện xoay chiều, bạn có suy nghĩ gì về hiện tượng này, hãy trình bày
những hiểu biết của mình và đưa ra những biện pháp khả thi để khắc phục tình
trạng này. Nội dung nghiên cứu của bạn là gì để góp phần vào việc cải thiện tình
hình trên?
1. Mục tiêu dự án:
Dự án “ Một ngày không có điện” giúp HS:
+ Về kiến thức:
- Hiểu nguyên tắc hoạt động, cấu tạo, đặc điểm của máy phát điện
xoay chiều một pha và ba pha, động cơ không đồng bộ ba pha.
- Hiểu được vai trò và ảnh hưởng của điện năng đối với đời sống.
- Nắm được những thông tin thực tế về tình hình sử dụng điện năng
và các phương pháp sử dụng điện tiết kiệm trong gia đình cũng như
ở Nhà trường.
+ Về kỹ năng:
- Biết phân tích, tổng hợp và xử lý các thông tin thu được để tự xây
dựng cho mình những kiến thức cơ bản về máy phát điện, động cơ
điện…
- Biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để
thu thập thông tin về tình hình sử dụng và tiết kiệm điện năng. Biết
21
chế tạo sản phẩm minh họa và gới thiệu tuyên truyền cho mọi
người về ý thức tiết kiệm khi sử dụng điện năng.
- Biết hợp tác trao đổi và làm việc theo nhóm.
+ Về thái độ:
- Có ý thức sử dụng điện tiết kiệm, tích cực hưởng ứng sự kiện “ Giờ
Trái Đất” nhằm góp phần bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự
nhiên.
nào?
Câu hỏi ND 4: Việc sử dụng điện năng tiết kiệm có những lợi ích gì?
Câu hỏi ND 5: Hãy trình bày các phương pháp giúp ta tiết kiệm điện năng
ở gia đình và trong trường học?
Câu hỏi ND 6: Bạn hiểu như thế nào về “Giờ Trái Đất”? Bạn đã hưởng
ứng phong trào “Giờ Trái Đất” như thế nào?
Câu hỏi ND 7: Bạn phải làm gì để mọi người thấy rõ tầm quan trọng của
việc tiết kiệm điện năng?
3.2.2. Các phiếu đánh giá, tự đánh giá (Theo mẫu)
3.3. Kế hoạch đánh giá
Đánh giá 3 tiêu chí: Năng lực làm việc, tinh thần và tác phong làm việc,
chất lượng sản phẩm nhóm.
4. Tiến trình thực hiện dự án
Giai đoạn 1: Lựa chọn đề tài và xác định mục tiêu dự án
GV Trình bày thách thức: Trước sự khắc nghiệt của thời tiết và khí hậu
như hiện nay. Tình trạng cúp điện lại xảy ra thường xuyên.Việc cúp điện thường
xuyên đã ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào? Chúng có lợi hay có hại? Chúng
ta phải làm gì để hạn chế các tác động tiêu cực đó?
GV và HS cùng nhau xác định đề tài, xây dựng ý tưởng và mục tiêu dự
án.
GV thông báo các mục tiêu cần đạt sau khi dự án kết thúc.
Giai đoạn 2: Triển khai dự án và xây dựng kế hoạch thực hiện.
Hoạt động của GV:
Tiến hành chia lớp học thành 4 nhóm hoạt động, mỗi nhóm có nhiệm vụ
đi tìm câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề đặt ra trong ý tưởng của dự án.
23
Có thể phát biểu các câu hỏi khung định hướng và yêu cầu các nhóm HS
ghi nhận để có thể thực hiện tốt mục tiêu dự án.
Thông báo hình thức trao đổi thông tin, liên lạc với GV. Thông báo các
kế hoạch thời gian, kế hoạch báo cáo tiến trình dự án.
-Thường xuyên theo dõi báo cáo tình
hình hoạt động, thái độ làm việc của
các thành viên trong nhóm cho GV.
Hoạt động chung của nhóm:
-Thu thập và tham khảo các kiến thức,
thông tin về máy phát điện động cơ
điện.
-Các thành viên trong nhóm tập trung
và thảo luận với nhau để lọc lại những
kiến thức thông tin cần thiết và xây
dựng một hệ thống kiến thức lý thuyết
trọng tâm cần đạt. Chọn lọc những
kiến thức có ý nghĩa về máy phát điện,
động cơ điện, sử dụng điện tiết
kiệm….
-Cả nhóm cùng nhau đi điều tra tình
hình và ý thức sử dụng điện tiết kiệm
của người dân nơi mình sinh sống.
-Tổ chức các buổi kiểm tra và bảo trì
các thiết bị điện trong lớp mình.
-Sau 10 ngày thực hiện các nhóm nạp
lại tài liệu lý thuyết (sơ thảo) trình bày
những kiến thức trọng tâm cơ bản.
Hoạt động của tổ:
Tổ hoạt động 1: Biên soạn tài liệu lý
thuyết, trình bày nội dung dự án.
Hỗ trợ HS thực hiện dự án:
-Theo dõi nhắc nhở đôn đốc về tiến
trình làm việc của HS, xử lý những HS
chưa tích cực trong hoạt động.