SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn chính tả - Pdf 24


MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5
HỌC TỐT PHÂN MÔN CHÍNH TẢ
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng trong nhà trường
nhằm mục đích giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh. Cuối bậc tiểu
học, yêu cầu về kiến thức kĩ năng học sinh phải đạt được là đọc thông, viết
thạo, sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp. Phân môn Chính tả
cùng với các phân môn khác như Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu,
giúp cho người đọc chiếm lĩnh được môn Tiếng Việt là công cụ cần thiết
trong giao tiếp, tư duy và học tập. Ở tiểu học riêng phân môn Chính tả có vị
trí vô cùng quan trọng. Vì đây là giai đoạn then chốt trong quá trình hình
thành kĩ năng chính tả cho học sinh. Nhiệm vụ phân môn Chính tả là giúp học
sinh nắm vững các quy tắc chính tả và hình thành các kĩ năng chính tả, nói
rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt
chuẩn mực. Bên cạnh đó phân môn Chính tả còn rèn cho học sinh tính cẩn
thận, chính xác, có óc thẩm mĩ, bồi dưỡng lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết
của tiếng Việt. Vì vậy phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong môn tiếng
Việt nói riêng và các môn học khác nói chung. Tuy nhiên thực tế hiện nay,
hiện tượng học sinh viết sai lỗi chính tả còn rất phổ biến. Đồng thời năm học
này Ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị
về cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ; Chỉ
thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc
phục bệnh thành tích trong Giáo dục gắn với cuộc vận động "Hai không" ;
cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức về tự học và sáng tạo ;
phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Để
nâng cao chất lượng dạy học, mỗi giáo viên cần phải tự độc lập suy nghĩ, tự
nghiên cứu, sáng tạo trong quá trình dạy học. Đối với học sinh lớp 5, tuy các
1

em đã được rèn luyện về chính tả ở các lớp dưới nhưng nếu không duy trì

+ Thanh : thanh hỏi / thanh ngã : sẻ / sẽ ; nghĩ / nghỉ ; giã / giả ;
bổng / bỗng ; mải / mãi ;
- Về hình thức, các âm, vần, thanh dễ lẫn được luyện viết thông qua
những kiểu bài tập khác nhau.
3/ Về chính tả viết hoa :
Ôn luyện cách viết hoa chính tả tên người, tên địa lí Việt Nam, tên
người, tên địa lí nước ngoài. Bước đầu rèn luyện để học sinh có ý thức về
cách viết hoa tên riêng tổ chức, danh hiệu, giải thưởng, huân chương,
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nên ngay từ đầu năm học,
tôi đã điều tra, khảo sát các bài viết chính tả của 33 học sinh lớp 5 tôi đang
dạy để nắm được lỗi chính tả phổ biến của lớp và của từng học sinh để từ đó
có biện pháp khắc phục.
Các bài khảo sát cụ thể:
Chính tả (nghe - viết) :
+ Bài Việt Nam thân yêu (Tiếng Việt 5, tập I, trang 6).
+ Bài Lương Ngọc Quyến (Tiếng Việt 5, tập I, trang 17).
Chính tả (nhớ - viết) :
+ Bài Thư gửi các học sinh (Tiếng Việt 5, tập Một, trang 26).
Kết quả khảo sát qua 99 bài :
STT Số lượng lỗi Số lượng bài Tỉ lệ %
1 Không có lỗi nào 06 6,0
2 Từ 1 - 2 lỗi 12 12,1
3 Từ 3 - 5 lỗi 26 26,3
4 Từ 6 - 10 lỗi 35 35,4
5 Trên 10 lỗi 20 20,2
Qua thống kê các lỗi của học sinh, tôi nhận thấy số lỗi mà các em mắc
phải nhiều nhất (kể cả học sinh khá, giỏi) đó là : lỗi âm cuối (c - t, n - ng, n -
3

nh ) ; lỗi âm đầu (ch - tr, s - x, d - gi ) ; lỗi các vần khó (uôc - uôt, oan -

sơ sài, chưa phân tích kĩ các từ khó, chưa giải thích đầy đủ, rõ ràng những từ
khó trong bài.
Từ những đặc điểm tình hình trên, bản thân tôi đã có nhiều suy nghĩ,
nghiên cứu, thực hiện các biện pháp để rèn kĩ năng viết chính tả nhằm nâng
cao chất lượng học tập của học sinh.
PHẦN II : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trong thực tế, lỗi chính tả tiếng Việt rất đa dạng. Trước đây để khắc
phục các hiện tượng chính tả của học sinh, ta dựa trên cơ sở là học sinh viết
đúng chính tả thì phải phát âm đúng, nhưng từ năm 2000 trở lại cơ sở nêu trên
là duy ý chí, không thể thực hiện vì có ảnh hưởng của phương ngữ khác nhau.
Vậy để viết đúng (nhưng vẫn tôn trọng bản sắc địa phương) phải hiểu được từ
ngữ đó (văn hóa đọc phải cao), phải nhìn thấy từ ngữ đó để viết đúng. Đó là
sự xuất hiện của từ trong ngữ cảnh. Để khắc phục những lỗi về chính tả cho
học sinh thì trước hết yêu cầu giáo viên phải phát âm chuẩn, chính xác, phát
âm theo tiếng địa phương. Bên cạnh đó giáo viên cần phải chú ý :
- Luôn luôn nhắc nhở cho học sinh có ý thức viết đúng chính tả, đúng
kích cỡ vì nét chữ là nết người. Viết cẩn thận, viết đúng là thể hiện thái độ
yêu mến chữ viết, giữ gìn sự thống nhất về mặt chữ viết trong cả nước và tôn
trọng người đọc.
- Tập phát âm đúng. Phát âm đúng được hiểu là phát âm theo chuẩn, có
phát âm đúng thì mới viết đúng - vì chính tả Tiếng Việt là chính tả ghi âm.
- Cố gắng nhớ từng chữ một. Kĩ năng ngôn ngữ đòi hỏi phải đạt đến
mức tự động cao. Nhiều trường hợp chính tả khó quy về quy tắc hoặc "mẹo".
- Cách tốt nhất là phải kiên trì, nhẫn nại học nhớ từng trường hợp.
- Nhiều trường hợp chính tả có thể khái quát thành quy tắc phổ quát
đơn giản có cơ sở ngữ âm. Một số khác có thể kiểm tra bằng các "mẹo" chính
tả.
5

Nhờ các quy tắc, các "mẹo" sẽ giúp ta học nhanh hơn và khi cần có thể

- Tiếng "khuỷu" trong từ "khúc khuỷu" có phần vần gồm âm đệm "u",
âm chính "y" và âm cuối là 'u". Vì vậy nếu học sinh viết "khủy" là thiếu con
chữ "u" thể hiện âm cuối.
- Tiếng "ngoèo" trong từ "ngoằn ngoèo" có phần vần gồm âm đệm 'o",
âm chính "e" và âm cuối "o". Vì vậy nếu học sinh viết 'ngèo" thiếu con chữ
"o" thể hiện âm đệm.
b) Hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả âm, vần :
Tôi đã áp dụng một số biện pháp như :
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập bằng cách cho học sinh
đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu bài tập, giáo viên giải thích thêm cho rõ nếu
thấy cần thiết. Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của bài tập
để cả lớp nắm được yêu cầu của bài tập đó.
Ví dụ :
a) Mỗi cột trong bảng dưới đây ghi một cặp tiếng chỉ khác nhau ở âm
cuối n hay ng. Hãy tìm những từ ngữ chứa các tiếng đó.
trăn dân răn lượn
trăng dâng răng lương
Mẫu : trăn trở / ánh trăng
b) Thi tìm nhanh : Các từ gợi tả âm thanh có âm cuối ng.
Mẫu : oang oang
c) Tìm các từ láy theo những khuôn vần ghi ở từng ô trong bảng sau:
1 an - at ang - ac
2 ôn - ôt ông - ôc
3 un - ut ung - uc
Mẫu : man mát, khang khác
- Khi tổ chức học sinh thực hiện bài tập, giáo viên cho học sinh làm
việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm, cho học sinh báo cáo kết quả bằng
7

nhiều hình thức khác nhau. Giáo viên có thể trao đổi với học sinh, sửa lỗi cho

c) Rèn kĩ năng nghe cho học sinh :
Do phải thay đổi giáo viên chủ nhiệm nên ở những ngày đầu năm các
em chưa quen với cách phát âm của tôi nên đã dẫn đến viết sai nhiều lỗi chính
tả thông thường. Vì thế tôi đã dành ra hai tuần đầu để giúp các em nghe được
cách phát âm chuẩn, chú trọng vào các tiếng thông thường.
Ví dụ :
(Đôi) mắt - mắc (cửi), (đi) lên - lênh (đênh)
Buồn (vui) - buồng (chuối), nghỉ (hè) - (suy) nghĩ
(Cây) tre - che (chở), sung (sướng) - xung (quanh)
d) Đọc viết chậm, quen dần dẫn đến viết đúng tốc độ :
Trong những tiết chính tả của các tuần học đầu, tôi hướng dẫn tỉ mỉ
cách viết các chữ khó. Khi đọc, tôi đọc chậm hơn so với yêu cầu, đọc rõ ràng,
phát âm chuẩn, sau đó nâng dần tốc độ theo đúng yêu cầu.
e) Hướng dẫn học sinh hiểu được nghĩa của từ qua giờ chính tả
nghe - viết cũng như chính tả nhớ - viết :
Trong giờ chính tả nghe - viết, trước khi viết bài vào vở, tôi đọc toàn
bài một lượt cho học sinh nghe. Khi đọc giáo viên cần phát âm rõ ràng, tốc độ
vừa phải và phải đọc bằng giọng liên phương ngữ để tạo điều kiện cho học
sinh chú ý đến những hiện tượng chính tả cần viết đúng. Cố gắng giúp học
sinh hiểu nội dung bài chính tả, hướng dẫn học sinh nhận xét về các hiện
tượng chính tả cần chú ý trong bài. Tổ chức cho các em luyện viết những từ
dễ viết sai chính tả trên bảng con hoặc vở nháp. Qua đó tôi giúp cho các em
biết cách phân tích từ, phân biệt nghĩa của từ đó, cần thiết là đặt từ đó trong
câu văn cụ thể để học sinh hiểu thấu đáo hơn.
Ví dụ : Để viết đúng từ "giữ", tôi giúp học sinh hiểu nghĩa bằng cách
phân tích : giữ = gi + ư + thanh ngã (~).
Giải thích :
Giữ : (giữ gìn, giữ trẻ, giữ nước)
Giữ có nét nghĩa là chăm sóc bảo vệ.
9


tả cho cả lớp. Sau khi chấm bài xong cho một số học sinh, việc sửa lỗi và cho
học sinh tự kiểm tra bài có thể thực hiện theo một trong hai cách sau :
- Giáo viên viết toàn bộ bài chính tả trên bảng (bài có thể được chuẩn bị
sẵn trên bảng gấp, bảng quay) hoặc chiếu bằng máy chiếu lên màn hình, chỉ
dẫn cách viết những chữ dễ sai chính tả để học sinh rà soát bài làm của mình.
- Giáo viên đọc từng câu, có chỉ dẫn cách viết những chữ dễ sai chính
tả để học sinh tự rà soát bài của mình, sau đó đổi vở cho bạn để giúp nhau
soát lỗi trong bài.
Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả âm, vần, giáo viên cần căn
cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của từng học sinh hoặc nhóm
học sinh ở lớp mình để chọn bài tập nhỏ thích hợp cho học sinh, giúp học sinh
nắm vững yêu cầu của bài tập, giúp học sinh chữa một phần của bài tập làm
mẫu, tổ chức cho học sinh làm bài và báo cáo kết quả, chữa bài.
Về hình thức các âm, vần, thanh dễ lẫn được luyện viết thông qua
những kiểu bài tập sau :
+ Điền âm, vần vào chỗ trống hoặc điền thanh trên chữ chưa đánh dấu
thanh trong câu, đoạn văn hoặc bài văn.
Ví dụ : Tìm một vần có thể điền vào cả 3 chỗ trống dưới đây :
Chăn trâu, đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít, gió đông thì nh
Mải mê đuổi một con d
Củ khoai nướng để cả ch thành tro.
+ Điền tiếng vào chỗ trống trong câu, đoạn văn hoặc bài văn.
Ví dụ : Tìm tiếng có vần "uyên" thích hợp với mỗi ô trống sau :
Chỉ có mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biếât
đi đâu, về đâu.
+ Chọn tiếng thích hợp để hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn.


Cháu đáp :
- Nhưng thời ông đi học thì lịch sử ngắn hơn bây giờ ạ.
+ Ngoài ra giáo viên có thể đưa ra một số dạng bài tập chính tả khác
nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc
sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể như :
Bài tập chọn lọc :
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống trong câu
sau :
a) Em bé đang uống . (sửa, sữa)
b) Đôi này đế rất . (dày, giày)
c) Sau khi con, chị ấy trông thật . (xinh, sinh)
d) Lan thích nghe kể hơn đọc . (truyện, chuyện)
e) Trời nhiều gió heo lại về. (may, mây)
Bài tập điền khuyết :
Điền vào chỗ trống :
s / x : san ẻ, ẻ gỗ, uất khẩu, năng uất.
ươn / ương : con l , tiền l , v vấn, v thở.
an / ang : g tấc, tim g , miên m , mênh m
+ HS có thể ghi vào sổ tay chính tả các lỗi chính tả thường mắc và cách
sửa những lỗi ấy. Đóù cũng là một cách để giúp các em khắc phục dần những
lỗi chính tả của mình.
g/ Sửa lỗi chính tả theo nhóm :
Để phát huy cao hơn tinh thần tự giác học tập của các em, tôi còn áp
dụng biện pháp sửa lỗi chính tả theo nhóm. Tôi chia các học sinh thường hay
mắc cùng loại lỗi chính tả thành một nhóm và dùng ngay tên lỗi chính tả đó
đặt tên cho nhóm (nhóm viết hoa, nhóm âm đầu, nhóm âm cuối ). Mỗi
nhóm sẽ do một em có học lực khá, giỏi trong lớp phụ trách. Dưới sự gợi ý,
dẫn dắt của giáo viên, nhóm trưởng sẽ hướng dẫn các bạn trong nhóm phát
hiện các lỗi chính tả trong bài viết và cùng các bạn thống nhất cách sửa các

tìm đọc thêm trong sách giáo khoa, truyện thiếu nhi, báo chí để các em
14

thuộc và nhớ thêm các từ. Từ đó khi viết, các em sẽ ít mắc lỗi chính tả hơn và
câu văn cũng trôi chảy, rõ nghĩa hơn.
Trong thời gian học tập ở nhà, cách tổ chức học theo nhóm cũng là một
biện pháp để rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh. Những nhóm này thường
gồm các em ở gần nhau, có điều kiện học cùng nhau. Trong mỗi nhóm, em có
học lực khá nhất sẽ phụ trách. Mỗi buổi học ở nhà sẽ có một tiết rèn chính tả,
một em sẽ đọc một đoạn văn cho các bạn trong nhóm viết, sau đó cả nhóm sẽ
mở sách ra đối chiếu, sửa và viết lại những từ đã viết sai. Thời kỳ đầu, giáo
viên cần tăng cường kiểm tra, theo dõi và động viên kịp thời. Sau này khi các
em đã thành nếp thì nhóm trưởng sẽ chịu trách nhiệm báo cáo lại với lớp
trưởng trước giờ truy bài, lớp trưởng sẽ phản ánh lại cho giáo viên biết vào
đầu giờ học.
3. Biện pháp dùng "mẹo" để nhớ một số từ khó :
- Đặt các từ thành câu có vần điệu để dễ nhớ :
Ví dụ : Tai nghe i ngắn bạn ơi
Bàn tay là chữ y dài chớ quên.
Hay : Cái bàn chữ cuối âm nờ (n)
Cây bàng chữ cuối âm ngờ (ng) đừng quên.
- Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy : Từ láy tiếng Việt gồm hai
tiếng luôn có sự tương ứng về thanh điệu. Một từ láy hai tiếng các dấu thanh
bao giờ cũng cùng một nhóm : huyền, ngã, nặng và không, hỏi, sắc. Có thể
dạy cho học sinh dễ dàng nhớ mẹo này qua câu lục bát :
Chị Huyền mang nặng ngã đau
Hỏi không sắc thuốc lấy đâu mà lành.
Theo mẹo này, nếu gặp một tiếng mà ta còn lưỡng lự không biết là dấu
gì thì hãy thử tìm từ láy với tiếng đó. Nếu từ kia có dấu huyền hoặc nặng thì
nó có dấu ngã.

+ Phụ âm đầu "gờ" được viết bằng con chữ "g"
+ Phụ âm đầu "ngờ" được viết bằng con chữ "ng".
- Khi đứng trước các nguyên âm hàng trước (ví dụ : i, ê, iê, e ) thì :
16

+ Phụ âm đầu "cờ" được viết bằng con chữ "k"
+ Phụ âm đầu "gờ" được viết bằng con chữ "gh"
+ Phụ âm đầu "ngờ" được viết bằng con chữ "ngh".
Với những biện pháp trên, tôi đã hình thành cho học sinh thói quen viết
đúng chính tả ở lớp cũng như ở nhà. Khi đã hình thành được thói quen viết
đúng, viết đẹp, các bài viết văn, chính tả của các em sẽ trình bày rõ ràng, sáng
sủa và sạch đẹp hơn nhiều. Nó sẽ tạo ra thêm hứng khởi cho giáo viên và
cũng tạo ra nhiều hứng thú đối với học sinh, các em sẽ có ý thức hơn trong
việc viết bài nói riêng và học tập nói chung. Đồng thời cũng tạo cho học sinh
tính tích cực học tập nhằm đáp ứng với việc thực hiện phong trào thi đua
"Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Với sự nỗ lực của bản
thân cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, sự cố gắng phấn đấu vươn lên
của các em học sinh, kết quả học tập nói chung và kết quả phân môn Chính tả
nói riêng của lớp tôi đã được nâng lên rõ rệt.
PHẦN III : KẾT QUẢ - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thống kê một số bài viết chính tả cuối kỳ của học sinh để đối chiếu với
kết quả khảo sát ban đầu, tôi có kết quả cụ thể như sau :
Các bài viết khảo sát :
- Chính tả (nghe - viết) :
+ Bài Chuỗi ngọc lam (Tiếng Việt 5, tập I, trang 134).
+ Bài Về ngôi nhà đang xây (Tiếng Việt 5, tập I, trang 148).
- Chính tả (nhớ - viết) :
+ Bài Hành trình của bầy ong (Tiếng Việt 5, tập I, trang 117).
Kết quả khảo sát qua 99 bài :
STT Số lượng lỗi Số lượng bài Tỉ lệ,%

nghĩ chắc chắn việc dạy - học sẽ đạt hiệu quả cao.
18

Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm của bản thân tôi qua quá trình
giảng dạy. Với kết quả đạt được như vậy, tôi còn phải tiếp tục tìm tòi, suy
nghĩ, trao đổi, nghiên cứu để có thêm những biện pháp hay hơn, hoàn thiện
hơn. Rất mong được sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp để bản thân tôi ngày
càng có kinh nghiệm nhiều hơn trong công tác chuyên môn.
Tài liệu tham khảo :
19

+ Nguyễn Thị Hạnh, Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục,
2006.
+ Lê Phương Nga - Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tĩnh, Giáo trình phương
pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2001.
+ Nguyễn Minh Thuyết, Sách giáo khoa và Sách giáo viên Tiếng Việt
5, NXB Giáo dục, 2006.
+ Võ Xuân Trang, Muốn viết đúng dấu hỏi - dấu ngã, NXB Trẻ, 1999.
+ Thế giới trong ta, CĐ 47+48-2006.
+ Thế giới trong ta, CĐ 50+51- 4+5/2006.
+ Thế giới trong ta, CĐ 73-3/2008.

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status