Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THU HUYỀN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
XUẤT KHẨU HÀNG CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƢỜNG APEC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
tại Việt Nam.
.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Huyền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iii
MỤC LỤC
i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5. Bố cục của luận văn 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ 6
1.1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá 6
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2. Những lý thuyết về xuất khẩu hàng hoá 6
1.1.3. Những yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hoá 24
1.2. Cơ sở thực tiễn về xuất khẩu hàng chế biến 27
1.2.1. Ứng dụng mô hình gravity trong thực tiễn 27
1.2.2. Một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thương mại
hai chiều 29
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
số liệu 35
2.2.1. Chọn mẫu nghiên cứu 35
2.2.2. Phương 35
4.1. Một số quan điểm cơ bản 74
4.1.1. Quan điểm phát triển xuất khẩu ở Việt Nam thời kỳ 2012-2020 . 74
4.1.2. Định hướng phát triển xuất khẩu thời kỳ 2012-2020 85
4.1.3. Mục tiêu tổng quát 86
4.2. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị
trường APEC 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v
4.2.1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực 88
4.2.2. Chính sách về phát triển thị trường xuất khẩu 89
4.2.3. Chính sách về xây dựng thương hiệu cho hàng xuất khẩu 90
4.2.4. Tăng cường xây dựng đối tác thương mại 91
4.2.5. Nâng cao quy mô GDP và thu nhập bình quân đầu người 92
4.2.6. Chính sách về dân số 93
4.2.7. Điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 94
4.2.9. Đẩy mạnh hợp tác, giao lưu văn hóa 95
4.2.10. Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 3.7: Kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị
trường APEC 60
Bảng 3.8: Tốc độ tăng trưởng bình quân xuất khẩu hàng chế biến của Việt
Nam sang thị trường APEC 62
Bảng 3.9: Cơ cấu mặt hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường APEC 66
Bảng 3.10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam 69
Bảng 3.11: Các hợp phần trong tăng trưởng xuất khẩu hàng chế biến
sang APEC 70
Bảng 3.12: Kết quả của mô hình hồi quy 70 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên gần đây, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế đã và đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Đây là một xu thế
mang tính tất yếu khách quan với những biểu hiện mới về vai trò của thương
mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ, … Quá trình này đã có
tác động rất lớn đối với nền kinh tế thế giới và đặc biệt là tạo điều kiện rất
thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Kết quả là tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế lớn hơn nhiều so với tốc
độ tăng trưởng sản xuất. Phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn
vào công cuộc đổi mói của đất nước. Xuất khẩu đã trở thành một trong những
động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội
như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995,
APEC vào năm 1998, ký hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000
biệt là trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Phát triển xuất khẩu đã góp
phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là với khu
vực nông thôn. Phát triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc
nâng cao trình độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa
nông thôn và thành thị, thúc đẩy quá trình dịch chuyển kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát triển xuất khẩu một cách bền vững mang tính cấp bách với nước ta
trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu chủ yếu là coi trọng chất lượng, hiệu
quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, ổn định xã
hội, bảo vệ môi trường. Đây là chủ trương lớn của Đảng giai đoạn 2011-2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3
Yêu cầu phát triển xuất khẩu bền vững đặc biệt quan trọng trong bối cảnh
nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau
khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện các cam kết
FTA ở mức độ cao hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng cơ hội mở rộng thị
trường xuất khẩu, khuyến khích khai thác tài nguyên và gia tăng sử dụng các
yếu tố đầu vào liên quan đến môi trường, tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường
qua biên giới. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự biến động kinh tế
thế giới đang là thách thức đối với duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và
bền vững, hạn chế mất cân đối ngoại thương. Mở cửa thị trường, thực hiện
các cam kết thương mại quốc tế có thể làm nảy sinh các vấn đề xã hội như
việc làm, thu nhập, xung đột xã hội nếu như không có các chính sách đúng
đắn và kịp thời. Như vậy ở nước ta, trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế tiếp
theo còn đang tiềm ẩn những nhân tố làm chêch lệch định hướng phát triển
bền vững kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu xuất khẩu hàng chế
biến của Việt Nam sang thị trường APEC.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu được thu thập từ năm 1997 đến năm 2012.
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung đánh giá hoạt động xuất khẩu
hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường APEC.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- : Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời đề xuất các giải pháp có
cơ sở khoa học, có tính khả thi để đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến của Việt
Nam sang thị trường APEC.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 5
- : Đề tài được ứng dụng sẽ góp phần nâng cao năng
lực và kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ xuất
khẩu hàng chế biến sang thị trường APEC, đồng thời có thể làm tài liệu tham
khảo cho việc xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường các
nước thuộc khu vực khác có điều kiện tương tự.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về xuất khẩu hàng hóa.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng
chế biến của Việt Nam sang thị trường APEC
kỳ đó, nhiều quốc gia châu Âu tin rằng sự giàu có của thế giới là hữu hạn.
Bất cứ một quốc gia nào được hưởng lợi thì quốc gia khác sẽ chịu thiệt. Để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7
đảm bảo phần chia của mình từ miếng bánh, các quốc gia theo đuổi một
chính sách kinh tế được gọi là chủ nghĩa trọng thương.
Nền tảng của chủ nghĩa trọng thương là ở chỗ họ cho rằng nguồn cung
cấp vàng và bạc của một quốc gia phản ánh sự giàu có và sức mạnh kinh tế của
quốc gia đó. Ngoài ra, vàng cho phép quốc gia có thể mua được vũ khí quân
sự. Càng trang bị cho quân đội nhiều bao nhiêu thì quốc gia đó càng có sức
mạnh quân sự bấy nhiêu. Do đó, các quốc gia đều tìm mọi cách để tăng lượng
vàng và bạc cho quốc gia đó. Tuy nhiên, biện pháp hữu hiệu nhất để tăng dự
trữ vàng, bạc của quốc gia là thông qua ngoại thương. Cụ thể là để thu được
nhiều vàng và bạc thì quốc gia cần phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Một
quốc gia mà xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu thì đều nhận được sự chi trả của
quốc gia khác bằng vàng, bạc. Chính vì vậy, các nhà trọng thương đều ủng hộ
việc điều tiết thương mại quốc tế theo hướng khuyến khích xuất khẩu.
Như vậy, những nội dung chính của chủ nghĩa trọng thương có thể
được tóm tắt như sau. Thứ nhất, chủ nghĩa trọng thương đề cao vai trò của
tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải. Nhà nước nào càng
nhiều tiền thì càng giàu có. Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương đặc biệt coi
trọng các hoạt động thương mại, đặc biệt là xuất khẩu. Theo chủ nghĩa
trọng thương thì chỉ có hoạt động ngoại thương mới là nguồn gốc thực sự
của của cải vì nó làm tăng khối lượng tiền tệ.
Học thuyết trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều
khiển kinh tế thông qua bảo hộ (Võ Thanh Thu, 2010). Những người theo chủ
nghĩa này kêu gọi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế thông qua
quốc tế, như cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế và
cũng chưa thấy được tính hiệu quả cũng như lợi ích do quá trình chuyên môn
hóa và trao đổi mang lại. Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương cho rằng một quốc
gia chỉ có thể có lợi từ thương mại trên sự hy sinh của một quốc gia khác. Tuy
nhiên, thực tế lại cho thấy rằng các quốc gia chỉ mong muốn tham gia vào
thương mại quốc tế với nhau khi cả hai quốc gia đều thu được lợi ích từ
thương mại. Thứ ba, chủ nghĩa trọng thương hiểu sai về khái niệm “tài sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9
quốc gia”, đo lường sự giàu có của quốc gia bằng quý kim. Ngược lại, ngày
nay sự giàu có của một quốc gia được đo lường bởi khả năng của quốc gia đó
về nguồn lực con người, tài nguyên có thể cung cấp được cho sản xuất và dịch
vụ. Nguồn lực này càng phong phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy
hàng hoá và dịch vụ thoả mãn con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của
quốc gia càng cao.
1.1.2.2. Lợi thế tuyệt đối
Bắt đầu bước sang thế kỷ XVIII, cùng với quá trình phát triển kinh tế,
chủ nghĩa trọng thương mất dần đi vị trí của mình. Trong tác phẩm “Sự giàu
có của quốc gia” năm 1766, Adam Smith, nhà kinh tế học cổ điển người
Scotland, đã không nhất trí với quan điểm “thương mại quốc tế là một trò
chơi có tổng lợi ích bằng không” của các nhà trọng thương. Theo ông, muốn
cho hai quốc gia thương mại với nhau một cách tự nguyện thì cả hai quốc gia
đều phải thu được lợi ích từ thương mại. Bất cứ một quốc gia nào mà chịu
thiệt từ thương mại quốc tế trong khi quốc gia kia lại có lợi thì quốc gia chịu
thiệt sẽ không bao giờ tham gia vào thương mại quốc tế.
Theo Adam Smith thì thương mại tự do sẽ giúp cho việc phân bổ và sử
dụng nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, và từ đó tạo ra lợi ích cho từng
thương. Một là, thương mại tự do mang lại lợi ích cho các bên tham gia
thương mại. Hai là, chuyên môn hoá sản xuất cho phép thực hiện lợi thế theo
quy mô, và như vậy nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ba là,
trong một môi trường tự do thương mại mà không có sự can thiệp của chính
phủ thì phúc lợi công cộng sẽ tăng lên do có sự cạnh tranh.
Như vậy, Adam Smith ủng hộ tự do thương mại. Theo ông, tự do
thương mại thúc đẩy phân công lao động quốc tế và cho phép các quốc gia có
thể tập trung vào sản xuất hàng hóa mà họ có thể sản xuất với chi phí thấp
nhất. Tuy nhiên, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần thương mại
quốc tế. Lợi thế tuyệt đối không giải thích được trường hợp khi một quốc gia
nào đó lại bất lợi thế hơn so với các quốc gia còn lại trong việc sản xuất tất cả
các hàng hoá và dịch vụ thì liệu quốc gia đó có nên tham gia vào thương mại
quốc tế hay hay không. Vì sự hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trước tình
hình phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế nên đã ra đời lý thuyết lợi
thế tương đối, còn gọi là lợi thế so sánh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 11
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Mô hình của Ricardo là một trong những mô hình đơn giản nhất về
thương mại quốc tế. Tuy nhiên, mô hình này đưa ra một số lý do mang tính
thuyết phục nhất giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế. Điều ngạc
nhiên của mô hình này là ở chỗ mô hình đã chứng minh được rằng các
quốc gia có năng suất lao động thấp cũng có thể thu được lợi ích từ thương
mại tự do với các nước láng giềng có năng suất lao động cao hơn, và trong
rất nhiều trường hợp, những quốc gia có chi phí lao động thấp lại không có
khả năng tận dụng lợi thế về chi phí sản xuất.
Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo là một trong những quy luật
lao động (1/a
ij
) và số đơn vị lao động cần thiết (a
ij
) được giả định là không đổi
theo L
ij
. Bản thân giả định sản phẩm biên không đổi không quan trọng, mà
quan trọng là sự khác nhau về năng suất giữa các quốc gia phải đủ lớn sao cho
sự khác biệt này không bị mất đi bởi thương mại.
Tính cạnh tranh của ngành i ở quốc gia j so với quốc gia k phụ thuộc
vào tiền công (W
ij
và W
ik
) và tỷ giá hối đoái song phương (e
jk
). Đây chính
là những yếu tố quyết định chi phí lao động đơn vị, được ký hiệu là c
ijk
đối
với một đồng tiền chung:
C
ijk
=a
ij
w
ij
/a
ik
Nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì sản lượng của thế giới về
ít nhất một hàng hoá có thể tăng lên thông qua việc phân bổ lại cơ cấu sản
xuất giữa các quốc gia và hàng hoá vì yêu cầu về đơn vị lao động không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 13
được tối thiểu hoá. Trong trường hợp chỉ có hai quốc gia và hai hàng hoá
thì quốc gia 1 có lợi thế so sánh về hàng hoá 1 và quốc gia 2 có lợi thế so
sánh về hàng hoá 2 nếu a
11
/a
12
<a
21
/a
22
. Điều cần ghi nhớ là việc so sánh lợi
thế so sánh là cần thiết mặc dầu đây không phải là điều kiện đủ để thực
hiện tối ưu hoá toàn cầu.
Chuyên môn hoá không hoàn toàn: Có lẽ là vấn đề cơ bản của mô hình
Ricardo đơn giản, đứng trên quan điểm thực nghiệm, là ở chỗ các quốc gia
chuyên môn hoá hoàn toàn vào sản xuất hàng hoá có thể thương mại được,
ngoại trừ trường hợp khi một quốc gia nhỏ không thể đáp ứng cầu của một
nước lớn. Trong thực tế, các ngành cạnh tranh nhập khẩu ít khi biến mất khi
có mặt của cạnh tranh từ nước ngoài. Có hai khả năng có thể hoà giải vấn đề
chuyên môn hoá không hoàn toàn với sự khác biệt về năng suất lao động:
khác biệt hoá sản phẩm và hiệu ứng phi cân bằng.
Giải thích hiện tượng phi cân bằng của mô hình Ricardo là do sự mất
tính di chuyển cao như vốn và nguyên liệu, lợi thế tuyệt đối trở nên thích
hợp đối với địa điểm sản xuất. Vị trí của các yếu tố có thể di chuyển một
cách hoàn toàn là nội sinh và không thể được coi là một nguồn lợi thế so
sánh độc lập. Trong trường hợp đặc biệt, khi sự khác biệt về công nghệ
giữa các quốc gia là do sự khác biệt về hiệu quả lao động, Ferguson đã
chứng minh rằng năng suất lao động tương đối là yếu tố duy nhất quyết
định lợi thế so sánh. Sự thật là trong một vài trường hợp, tính di chuyển
của vốn và thương mại có thể thay thế cho nhau một cách hoàn toàn tới
một chừng mực mà thương mại đưa đến sự cân bằng về giá nhân tố, do đó
tỷ lệ vốn/lao động có thể quyết định cơ cấu thương mại thậm chí trong điều
kiện vốn có thể di chuyển một cách hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu có sự khác
biệt về công nghệ theo ngành giữa các quốc gia thì giá nhân tố sẽ ít có khả
năng cân bằng bởi thương mại. Nói tóm lại, sự di chuyển vốn quốc tế muốn
nói lên rằng lý thuyết lợi thế so sánh dựa trên chi phí lao động ít bị hạn chế
hơn so với ban đầu, mặc dầu chi phí lao động tương đối là nhân tố duy nhất
quyết định lợi thế so sánh trong những trường hợp đặc biệt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 15
Thứ hai, các nghiên cứu so sánh gần đây đã xác định sự khác nhau
đáng kể về năng suất lao động theo ngành giữa các quốc gia. Vẫn ít các
nghiên cứu gắn sự khác biệt về năng suất tương đối với thương mại.
Ưu điểm của quy luật lợi thế so sánh là nó đi xa hơn lợi thế tuyệt đối
của Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi
giao thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không. Tuy
nhiên, lý thuyết này cũng gặp phải một số hạn chế nhất định. Một là, David
Ricardo đã dựa trên hàng loạt các giả thiết đơn giản hóa lý thuyết về giá trị
lao động để chứng minh cho quy luật này. Trong khi đó trên thực tế lao động
lý do tại sao chi phí cơ hội của sản xuất lại khác nhau giữa các quốc gia.
Theo lý thuyết này, lợi thế so sánh phụ thuộc vào sự khác nhau tương đối
về nguồn lực sẵn có của quốc gia (đất đai, lao động, và vốn) và quy trình
sản xuất các mặt hàng khác nhau đòi hỏi sử dụng tỷ lệ các yếu tố sản xuất
khác nhau. Ảnh hưởng lớn nhất của lý thuyết này liên quan đến khả năng
phối hợp các nhân tố sản xuất (như đất đai, lao động, vốn, lao động phổ
thông và lao động lành nghề, và chính sách). Điều quan trọng là, lý thuyết
HOS tập trung vào sự tương tác giữa các đặc điểm của quốc gia và sản
phẩm - những yếu tố cấu thành nền tảng của lợi thế so sánh.
Lý thuyết H-O được xây dựng trên một số giả thiết sau đây:
Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn) và
hai mặt hàng;
Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia;
Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi
yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần;
Hàng hóa khác nhau về hàm lượng các yếu tố sản xuất, và không có
sự hóa vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương
quan nào;
Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị
trường yếu tố sản xuất;
Chuyên môn hóa là không hoàn toàn;