tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá và bước đầu thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê vối kinh doanh tại dak lak - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN SANH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THANG DINH DƯỠNG KHOÁNG
TRÊN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM BÓN PHÂN THEO
CHẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG CHO CÀ PHÊ VỐI KINH
DOANH TẠI DAK LAK

Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại:
Viện đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 15 tháng 5 năm 2009.
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thư viện Trường Đại họ
c Tây Nguyên
iiDANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Văn Sanh và CTV(1991), "Trạng thái dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê vối

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cà phê cung cấp loại thức uống nóng được nhân loại ưa thích, ngày nay hầu như
không có nhân dân của một Quốc gia nào là không dùng cà phê. Nhu cầu tiêu thụ ngày một
tăng nên cây cà phê được xác định là cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Ở Dak Lak, sau ngày giải phóng chỉ có vài ngàn ha nhưng đến nay (2007)
diện tích cà phê đã ổn định đến 169.345 ha với sản lượng hàng năm đạt kho
ảng 330.000 tấn
nhân, kim ngạch xuất khẩu cà phê trên 300 triệu USD, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu của
tỉnh. Nhờ cà phê mà đời sống của người dân trồng cà phê từng bước được đổi mới. Song
không phải thế mà không chấp nhận thực tế: quy luật thị trường chi phối cũng làm cho
người trồng cà phê ít vốn lao đao khốn khổ. Rõ ràng vốn ít, đầu tư thấp, năng suất thấp, thu
nhập kém là
điều không tránh khỏi, nhưng cũng phải thừa nhận rằng trên cùng một loại đất
với cùng một giống năng suất cà phê phụ thuộc rất lớn vào phân bón và năng lực tay nghề
của người quản lý chăm sóc. Hơn nữa, khi cà phê đạt được năng suất cao thì dinh dưỡng bị
mất đi thông qua sản phẩm càng lớn, cân bằng dinh dưỡng trong cây trở nên không phù hợp,
cần phải nghiên cứu nhu cầ
u dinh dưỡng của cây theo từng giai đoạn để đáp ứng yêu cầu
năng suất cao, độ phì đất không giảm sút mà còn mang lại hiệu quả kinh tế nữa. Để làm
được điều đó thì phải kiểm soát và phát hiện sớm những việc thừa, thiếu các nguyên tố dinh
dưỡng trong lá trước khi chúng thể hiện ra triệu chứng bên ngoài nên Sylvain đã nhấn
mạnh: 'vấn đề chẩn đoán dinh dưỡng trên lá cà phê là cơ sở
khoa học để đưa ra công thức

trồng trên đấ
t nâu đỏ basalt của Dak Lak;
- Đây là đề tài rất phức tạp và chưa được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, nên
nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu hướng tới việc đưa ra một thang dinh dưỡng của các
nguyên tố khoáng N, P, K trong lá cà phê trước khi bón phân vào đầu mùa mưa để làm cơ
sở cho các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này nên chưa đưa ra được các ứng dụng cụ thể
của thang dinh dưỡng này. Vì vậy, cần có các nghiên cứu tiếp tụ
c theo hướng này để có thể
hoàn chỉnh được phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cây cà phê;
- Việc thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá theo DRIS (Diagnosis and
Recommendation Integrated Systems) để bón phân cho cà phê cũng chỉ bước đầu thực hiện ở
công ty cà phê Thắng Lợi, Êa Pok đại diện cho các vùng trồng cà phê vối của Dak Lak.
5. Những đóng góp mới của luận án
+ Đã xây dựng được thang dinh dưỡng các nguyên tố khoáng trong lá cà phê vối Dak
Lak vào đầu mùa mưa một cách hoàn chỉnh từ rất thi
ếu, thiếu, trung bình, tối ưu, thừa, làm
tiền đề cho việc bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá;
+ Lần đầu tiên ở Việt Nam đã sử dụng phương pháp DRIS (N/P, P/K, N/K) để chẩn
đoán dinh dưỡng, đề xuất và kiểm nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê;
+ Bước đầu đã thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trong lá để điều chỉnh lượng phân
bón theo DRIS cho 2 công ty cà phê Thắng Lợi và Êa Pok đạt kết quả tốt.
6. Bố c
ục của luận án
Luận án gồm 123 trang (không kể tài liệu tham khảo, phụ lục). Mở đầu 4 trang;
Chương 1: Tổng quan tài liệu 34 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp
nghiên cứu 11 trang; Chương 3: Kết quả và thảo luận 75 trang; Kết luận và đề nghị 3 trang.
Luận án có 24 bảng biểu số liệu, 17 hình vẽ đồ thị, 8 hình ảnh và tham khảo 99 tài liệu trong
& ngoài nước.

3

2
O
5
% K
2
O%
> 70cm 4,5 - 5,5 > 2 0,15 - 0,20 12 0,10 - 0,15 0,10 - 0,15
Theo Nguyễn Sỹ Nghị (1982) [37] tiêu chuẩn của đất để trồng được cà phê cho năng
suất bình thường phải nằm trong giới hạn sau: N% = 0,15 - 0,20%, P
2
O
5
%= 0,08 - 0,10%,
K
2
O% = 0,10 - 0,15%, hàm lượng mùn tối thiểu là 2%. Theo Trương Hồng, Tôn Nữ Tuấn
Nam và CTV (1996)[19] tỷ lệ NPK 1:0,3:0,91 đạt năng suất cao nhất, nhưng Phan Kim
Hồng Phúc (2000) [42] cho rằng cây cà phê cần dùng lượng N và K gấp ba lần so với lượng
P. Vì vậy, phân hỗn hợp NPK phải được sản xuất theo tỷ lệ 1 : 0,3 : 1 là hợp lý hơn cả. Tôn
Nữ Tuấn Nam (1993)[32] tiến hành cân đối P trên nền NK (N
0
= 0, N
1
= 150, N
2
= 300 kg
N/ha; K
0
= 0, K
1

= 200 kg
P
2
O
5
/ha; K
1
= 200, K
2
= 300, K
3
= 400 kg K
2
O/ha) bón N từ 200 đến 400 kg N/ha có làm

4
thay đổi năng suất cà phê khá rõ, tương quan giữa các nguyên tố cho thấy bón N cao trên
nền P và K cao mới làm tăng năng suất cà phê. Còn trên nền P và K thấp có bón tăng N
cũng không làm thay đổi năng suất cà phê.

1.3 Những nghiên cứu bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới phương pháp bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá đã được áp
dụng từ lâu. Năm 1957, Chaverri ở Costa Rica (dẫn qua Đoàn Triệu Nhạn,1984 [39]) cho
rằng hàm lượng N thích hợp trong lá
đầu mùa mưa là 3,0%, vượt quá giới hạn này được
xem là thừa N. Hàm lượng P trong lá biến thiên từ 0,12 đến 0,14% là thích hợp. Về K từ 1,5
đến 2,5% được xem là mức độ thích hợp nhất cho cà phê ở Costa Rica. Về Ca, hàm lượng
thích hợp lớn hơn 1,5%. Loue, A. (1958)[93] đưa ra giá trị dinh dưỡng ở cặp lá thứ 3 như
sau: 1,5-1,8% thiếu N nghiêm trọng, từ 2,5-2,8% thiếu ít, từ 2,8-3,0% cần bón ít, từ

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng
Cây cà phê vối Coffea canephora var. robusta ở độ tuổi 10 - 15 trồng trên đất nâu đỏ
basalt FRr (Rhodic Ferralsols) của Dak Lak.
2.2 Nội dung
+ Điều tra, đánh giá tình hình sử dụng phân bón của nhân dân trồng cà phê ở Dak Lak;
+ Nghiên cứu chẩn đoán dinh dưỡng khoáng qua lá cho cà phê vối kinh doanh Dak
Lak;
+ Bước đầu thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá cho cà phê vối
kinh doanh tại Dak Lak:
- Thử nghiệm 1: Nghiên cứu thử nghiệm thang dinh dưỡng khoáng trên lá để điều
chỉ
nh lượng phân bón cho cà phê vối kinh doanh ở Công ty cà phê Thắng Lợi, Dak Lak;
- Thử nghiệm 2: Hiệu quả của việc thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh
dưỡng kết hợp phân hữu cơ sinh học cho cà phê ở Công ty cà phê Êa Pok, Dak Lak.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và năng suất cà phê vối
Dak Lak: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal);
+ Phương pháp tính hiệu quả đầu tư phân bón: FIE = GR - (TVC1+ TVCf)/TVCf;
VCR = VY/CF
+ Phương pháp l
ấy mẫu và phân tích đất, lá theo quy trình phổ biến hiện hành;
+ Phương pháp xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê theo giá trị trung
bình x = ∑ x
i
/ n và độ lệch chuẩn δ = ∑(x
-
x)
2

nhất 26,4 kg đến cao nhất 840 kg K
2
O/ha. Như vậy đầu tư lượng phân ở mức thấp thì quá
thiếu, ở mức cao lại vượt quá xa so với quy trình[28], cá biệt tổng lượng phân thương phẩm
cao nhất lên tới 5284 kg/ha. Trong 86 hộ điều tra chỉ có 22% số hộ bón phân cân đối, tỷ lệ
thích hợp, hiệu quả cao.
Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng phân bón và năng suất cà phê của 3 huyện Krông Ana,
Êa Kar, Buôn Đôn, tỉnh Dak Lak (2002-2003) (trích một số hộ đạ
i diện)
stt Họ và tên kg nguyên chất/ha Tỷ lệ phân hữu cơ Năng suất
N P
2
O
5
K
2
O NPK tấn/ha tấn nhân/ha
2. Nguyễn Văn Hòa 384 384 192 1. 1.0,5 20 6,0
5. Nguyễn Cảnh Hải 493 177 260 1. 0,35.0,53 15 5,7
11. Đặng Ngọc Nhân 460 460 230 1. 1.0,5 18 5,0
19. Nguyễn Thị Liên 328 128 343 1. 0,39.1,05 10 4,4
28. Y Mi Niê 416 252 216 1. 0,61.0,52 14 4,0
33. Hồ Đăng Khoa 390 294 100 1. 0,75.0,26 12 3,8
36. Đặng Văn Ngọc 304 120 360 1. 0,39.1,18 - 3,6
39. Bùi Quang Trung 753 753 376 1. 1.0,5 - 3,5
41. Lê Văn Tâm 350 230 340 1. 0,6.0,86 10 3,3
48. Hồ Thị Tuyền 285 240 120 1. 0,26.0,78 - 3,0
52. Đinh Sỹ Phu 228 228 114 1. 1.0,5 - 2,9
56. Đào Thị Nhung 345 125 450 1. 0,36.1,30 - 2,8
59. Lê Thị Hồng 200 200 100 1. 1.0,5 - 2,8

kết hợp với phân hữu cơ từ 13 - 19 tấn /ha, để đạt được năng suất từ 3,2 - 4,6 tấn nhân/ha
các hộ đã bón kết hợp với phân hữu cơ từ 10 - 20 tấn. Đáng chú ý nhất là khả năng tiết kiệm
phân vô cơ khá lớn như h
ộ Nguyễn Văn Hòa để đạt được 6,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón
2400 kg phân NPK + 20 tấn phân hữu cơ, trong khi hộ Đặng Ngọc Nhân để đạt được năng
suất 5,0 tấn nhân/ha hộ này đã bón 2875 kg phân NPK + 18 tấn phân hữu cơ.
+ Ở huyện Êa Kar năng suất cà phê thấp nhưng chênh lệch nhau khá lớn, năng suất
thấp nhất chỉ có 1,1 tấn nhân/ha nhưng cao nhất lên tới 5,7 tấn nhân/ha. Sở dĩ có tình trạng
này là do lượ
ng phân vô cơ đầu tư chênh nhau quá lớn và chỉ có 2/30 hộ được điều tra là có
bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ. Hộ Bùi Quang Trung bón lượng phân hóa học cao
nhất đến 4705 kg phân NPK nhưng không có kết hợp với phân hữu cơ nên năng suất cũng
chỉ đạt 3,5 tấn nhân/ha. Trong khi để đạt được năng suất 3,3 tấn nhân/ha hộ Lê Văn Tâm chỉ
cần bón 2700 kg phân NPK kết hợp với 10 tấn phân hữu cơ
. Rõ ràng khi bón phân cho cà
phê có kết hợp với phân hữu cơ đã tiết kiệm khá lớn lượng phân hóa học và tăng hiệu quả
của phân hóa học khá cao. Vai trò của phân hữu cơ chưa được nông dân huyện Êa Kar coi
trọng đúng mức nên số hộ bón kết hợp phân vô cơ với phân hữu cơ rất ít.
+ Ở huyện Buôn Đôn lượng phân hóa học được bón cho cà phê tương đối thấp so với
2 huyện trên và tỷ lệ NPK c
ũng chưa thích hợp nên năng suất chỉ đạt được từ 1,3 - 4,1 tấn
nhân/ha. Phần lớn các hộ trồng cà phê huyện Buôn Đôn bón phân không có kết hợp phân
hóa học với phân hữu cơ, chỉ có 6 hộ bón kết hợp phân hữu cơ với số lượng thấp đều < 5,5
tấn phân hữu cơ/ha nhưng vẫn đạt được năng suất khá cao từ 2,9 - 4,1 tấn nhân/ha, các hộ
còn lại không bón kết hợp vớ
i phân hữu cơ chỉ đạt được năng suất từ 1,3 - 3,3 tấn nhân/ha.
Nếu bón cùng tỷ lệ NPK 1 : 1 : 0,5 nhưng năng suất chênh nhau khá lớn giữa có và không
có kết hợp bón phân hữu cơ như hộ Đinh Sĩ Phu bón theo tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 không kết hợp
phân hữu cơ thì đạt được năng suất 2,9 tấn nhân/ha nhưng hộ Đinh Viết Hải cũng bón theo
tỷ lệ 1 : 1 : 0,5 có kết hợp 4,4 tấn phân hữu c

6,67/ 3,8-4,6
26,67/3,0- 6,0
3,33/ 4,0
76,67/3,0-6,0
0
6,67/ 4,6-5, 7
16,66/4,1-5,0
33,33/3,8-6,0
13,33/3,8-6,0
0
36,67/3,6-5,0
3,33/5,0
0
Phân bón và năng suất cà phê huyện Êa Kar
Chỉ tiêu < 100 kg 100 - 300 301 - 500 501 - 700 701 - 900 >900kg/ha
Phân Đạm
Phân Lân
Phân Kali
0
10,00/2,0-5,7
3,33/4,0
6,66/2,2- 3,1
16,67/1,4-4,4
10,00/2,2-3,1
30,00/1,1-3,3
23,33/1,3-3,5
46,67/1,1-3,3
16,67/1,4-2,8
16,67/1,1-3,1
13,33/2,0-4,4

- Tử số là phần trăm các hộ bón phân vô cơ ở mức đó (%)
- Mẫu số là năng suất biến động của hộ bón phân vô cơ ở mức đó (tấn nhân/ha)
Kết quả của bảng 3.2 cho thấy để đạt được năng suất từ 3,8 đến 6,0 tấn nhân/ha các
hộ trồng cà phê huyện Krông Ana đã bón lượng phân đạm từ 701 đến 900 kg chiếm
33,33%, để đạt năng suất từ 3,6 đến 5,0 tấn nhân/ha các hộ đã bón lượng phân đạm > 900
kg/ha chiếm 36,67%. Như vậy, có thể thấy để đạt được năng suất cao các hộ trồng cà phê
huyện Krông Ana đã đầu t
ư tổng lượng phân đạm khá cao chiếm tới 70,00%, song cũng có
tới 26,67% chỉ bón từ 301 đến 500 kg nhưng vẫn đạt được năng suất từ 3,0 - 6,0 tấn

9
nhân/ha. Đối với phân lân, tính mất cân đối thể hiện khá rõ bởi vì có tới 56,67% số hộ bón
lượng phân lân từ 101 - 300 kg để đạt được năng suất từ 3,2 đến 6,0 tấn nhân/ha, số hộ còn
lại bón theo các mức nhưng mức bón cao chiếm tỷ lệ ít, lượng bón từ 301 đến > 900 kg chỉ
chiếm 26,66%. Đối với phân kali các hộ đã bón từ 301 - 500 kg chiếm 76,67% để đạt được
năng suất từ 3,0 đến 6,0 tấn nhân/ha. Th
ực tế trên toàn huyện xu hướng bón phân ở mức cao
chiếm ưu thế nhưng năng suất không tương quan đồng thuận với lượng phân bón vào, điều
này làm cho giá thành sản phẩm tăng cao, hiệu quả đầu tư thấp là điều hiển nhiên.
Ở huyện Êa Kar để đạt được năng suất từ 1,1 đến 3,3 tấn cà phê nhân/ha, lượng phân
đạm đã được bón từ 301 - 500 kg, chiếm 30,00%. Số hộ bón trên 700 kg chiếm 46,66% đạ
t
được năng suất từ 2,0 đến 5,7 tấn nhân/ha. Đối với phân lân, ở huyện Êa Kar không có mức
bón nào chiếm đại đa số mà rãi rác từ mức < 100 kg đến mức > 900 kg, trong đó đáng chú ý
nhất là mức bón từ 301 - 500 kg chiếm 23,33% để đạt được năng suất từ 1,3 - 3,5 tấn
nhân/ha. Đối với phân kali thì ngược lại có đến 46,67% các hộ bón từ 301 - 500 kg, mức
bón < 301 kg và mức > 900 kg rất ít chỉ chiếm 3,33% đến 10,00%.
Ở huyện Buôn Đôn,
để đạt được năng suất từ 1,3 - 4,1 tấn cà phê nhân/ha lượng phân
đạm đã được bón từ 100 - 500 kg, chiếm 76,66%, mức bón > 701 kg rất hiếm chỉ chiếm

Phân chuồng ( tấn/ha)
N (kg/ha)
P
2
O
5
(kg/ha)
K
2
O (kg/ha)
Tổng thu (1000đ)
Tiền thu thêm do bón phân (1000đ)
Tổng chi (1000đ)
Tiền chi thêm cho mua phân (1000đ)
Lợi nhuận (1000đ)
VCR
15
501
137
305
38.000
9.500
15.353
4.494
22.647
2,11
18
436
320
208

57.000
28.500
18.822
5.300
38.178
5,38
Huyện Êa Kar
Năng suất (tấn nhân/ha) 3,33 4,00 4,44 5,71 4,40
Phân chuồng ( tấn/ha)
N (kg/ha)
P
2
O
5
(kg/ha)
K
2
O (kg/ha)
Tổng thu (1000đ)
Tiền thu thêm do bón phân (1000đ)
Tổng chi (1000đ)
Tiền chi thêm cho mua phân (1000đ)
Lợi nhuận (1000đ)
VCR
10
350
240
340
31.635
3.135

35.937
20.265
18.308
1,27
0
360
32
840
41.800
13.680
17.947
3.749
23.853
3,65
Huyện Buôn Đôn
Năng suất (tấn nhân/ha) 3,1 3,6 3,4 3,2 4,1
Phân chuồng ( tấn/ha)
N (kg/ha)
P
2
O
5
(kg/ha)
K
2
O (kg/ha)
Tổng thu (1000đ)
Tiền thu thêm do bón phân (1000đ)
Tổng chi (1000đ)
Tiền chi thêm cho mua phân (1000đ)

16.099
2,13
3,3
203
80
203
30.400
2.850
13.464
711
16.936
4,01
4,4
266
133
266
38.950
10.450
15.765
1.858
23.185
5,62
Như vậy, có thể thấy nông dân sản xuất cà phê của Dak Lak bón phân rất tùy tiện,
thiếu hiểu biết, mang lại hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy, người dân Dak Lak rất cần phương
pháp bón mới, rà soát lại lượng đầu tư năm trước mà xây dựng lượng phân cho phù hợp với
nhu cầu của cây, có thể kiểm soát được lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây, sau khi bón
phải theo dõi động thái dinh dưỡng hấp thu lên lá bảo đảm thoả mãn nhu c
ầu của cây chưa
nhưng không được lãng phí, bón đúng và sát với yêu cầu thực tế của cây. Đó chính là nội
dung của bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá.

Cty Êa Pok 5,40 3,07 0,19 0,24 0,06 6,06 12,20 2,77 1,72
Cty Êa Tul 4,10 3,89 0,20 0,26 0,06 6,16 15,25 2,83 1,98
Cty Tháng 10 4,55 3,21 0,20 0,17 0,08 8,80 9,38 4,13 1,17
Cty Thắng Lợi 4,10 4,85 0,23 0,24 0,09 13,12 20,50 2,10 3,20
Cty Krông Ana 4,20 4,10 0,19 0,19 0,09 8,20 14,30 1,60 1,40
NT Chư Pul 4,65 4,68 0,16 0,16 0,08 11,03 22,60 1,88 1,05
Cty Êa H’nin 4,09 3,76 0,16 0,25 0,07 9,42 7,42 2,47 2,56
Nhìn chung đất trồng cà phê của các nông trường đều chua pH
KCl
< 5, nhưng lượng
mùn khá giàu biến động từ 3,07 đến 4,85%, những nông trường thường xuyên bổ sung hữu
cơ hoặc tận dụng tàn dư hữu cơ đều có lượng mùn khá giàu. Độ mùn của đất và nhất là các
tính chất lý học của đất góp phần lớn nhất vào độ phì nhiêu đó (Lê Văn Căn, 1985)[7]. Bất
kỳ loại hữu cơ nào vùi vào đất cũng đều làm tăng các tính chất vật lý và hoá học đất,
đặc
biệt là các chất dễ tiêu giải phóng nhiều hơn. Nhờ đó mà các chất N%, P
2
O
5
dt, K
2
Odt lần lượt
đều đạt khá cao từ 0,16 - 0,23%, 6,06 - 13,12 mg/100g đất, 7,42 - 22,60mg/100g đất nếu so với
bản chất đất nâu đỏ basalt thì các chỉ tiêu này đều cải thiện rõ nét, nhưng lượng P
2
O
5
% và
K
2

0,08
0,10
1,87
1,23
1,60
1,75
1,73
2,25
1,44
0,68
0,81
1,28
1,09
0,88
0,78
0,85
0,33
0,23
0,41
0,33
0,40
0,29
0,24
Dinh dưỡng khoáng tích luỹ trong lá giữa các nông trường không giống nhau (bảng
3.5). Hàm lượng N được tích luỹ cao ở nông trường có lượng mùn cao như Thắng Lợi, Chư
Pul (3,00 - 3,13% chất khô). Khi xét tương quan giữa đất và lá thì tương quan giữa mùn%

12
đất và N lá là tương đối chặt (r = 0,688). Hàm lượng P được hấp thu vào lá từ 0,06 đến
0,12% chất khô phụ thuộc vào lượng P

2
O dễ tiêu với năng suất cà phê (r = - 0,28; r = - 0,099).
Bảng 3.8 Tương quan giữa hàm lượng một số nguyên tố hóa học trong lá
với năng suất cà phê vối kinh doanh Dak Lak (n = 30)
N% P% K% Ca% Mg% NS
1*
N% 1
P% 0,363887 1
K% 0,616886 0,530753 1
Ca% 0,013149 -0,03304 -0,05846 1
Mg% 0,31474 -0,04542 0,285819 -0,13655 1
NS
1*
0,822833 0,581583 0,77232 -0,05859 0,371459 1
NS
1*
: Năng suất cà phê vối Dak Lak ( tấn nhân/ha)
Tương quan giữa các nguyên tố hóa học trong lá với năng suất cà phê vối kinh doanh
Dak Lak (bảng 3.8) chi phối mạnh nhất là N ở mức hoàn toàn chặt (r = 0,82), K là yếu tố
N% đất P
2
O
5
dt đất K
2
Odt đấtCa
++
đất Mg
++
đất NS

được quan hệ dinh dưỡng nếu chỉ dựa vào phân tích đất. Trong đó quan hệ dinh dưỡng giữa
lá với năng suất thể hiện rõ hơ
n so với giữa đất với năng suất như sau:
Hệ số tương quan giữa N lá với năng suất r = 0,82, N đất với năng suất r = 0,57
Hệ số tương quan giữa P lá với năng suất r = 0,58, P
2
O
5
dt đất với năng suất r = - 0,28
Hệ số tương quan giữa K lá với năng suất r = 0,77, K
2
Odt đất với năng suất r = - 0,10
cho phép ta lựa chọn phương pháp bón phân thông qua phân tích lá, đánh giá tình hình cung cấp
chất dinh dưỡng của đất cho cây cũng như việc bón phân cho cây trên cả một vùng rộng lớn.
3.2.4 Xây dựng thang dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê vối Dak Lak
Tổng hợp 525 mẫu lá cà phê được lấy trên 7 Nông Trường, số mẫu được lấy ở loại
hình vườn tốt có năng suất > 4,1- 6 tấn nhân/ha (5 x 7 = 35 mẫu), vườn trung bình có năng
suất 2,1 - 4 tấn nhân/ha (5 x 7 = 35 mẫ
u), vườn xấu có năng suất < 2 tấn nhân/ha (5 x 7 = 35
mẫu) được tiến hành trong 5 năm tính giá trị trung bình x và độ lệch chuẩn δ rồi thiết lập
thang dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê theo các mức: Rất thiếu: < x - 2δ, Thiếu: x -2δ →
x - δ, Trung bình: x - δ → x + δ, Tối ưu: x + δ → x + 2δ, Thừa > x + 2δ.
N P K
⎯x 2,82 0,10 1,65
δ 0,23 0,02 0,34
Từ đó thiết lập thang dinh dưỡng khoáng trên lá cà phê vối Dak Lak vào đầ
u mùa
mưa hướng tới dinh dưỡng tối ưu để đạt được năng suất từ 3 - 4 tấn nhân/ha (bảng 3.11)
Bảng 3.11 Thang dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê vối Dak Lak vào đầu mùa
mưa hướng tới dinh dưỡng tối ưu để đạt được năng suất từ 3 - 4 tấn nhân/ha

5 26,1 1,6 0,06 1,82 4,16 3,4
6 37,0 1,7 0,05 7,04 3,83 3,2
7 24,7 1,4 0,06 1,41 7,81 3,2
8 27,6 1,7 0,06 2,45 6,56 3,0
9 43,6 1,7 0,04 4,61 3,89 3,0
10 24,2 1,7 0,07 2,18 6,22 2,9
11 24,0 1,2 0,05 4,13 4,44 2,8
12 22,5 1,5 0,06 1,34 8,38 2,8
13 26,1 1,5 0,06 1,55 6,79 2,8
14 35,5 1,8 0,05 1,19 2,96 2,6
15 24,1 1,6 0,07 2,05 9,89 2,6
16 25,1 2,1 0,08 1,40 3,19 2,4
17 34,5 2,5 0,07 0,93 2,07 2,3
18 20,6 2,3 0,11 1,47 6,00 2,0
19 17,4 1,6 0,09 2,68 6,25 2,0
20 41,3 1,8 0,04 1,38 5,00 1,9
21 25,4 1,6 0,06 1,26 10,40 1,8
22 33,0 1,6 0,05 2,46 3,93 1,8
23 39,9 2,2 0,05 3,46 2,46 1,7
24 37,9 1,8 0,05 1,91 7,63 1,7
25 28,4 1,6 0,06 4,71 7,62 1,6
26 56,6 1,8 0,03 0,93 3,39 1,6
27 36,0 1,7 0,05 1,15 9,00 1,6
28 41,0 2,6 0,06 0,77 9,33 1,5
29 44,5 1,8 0,04 3,22 9,06 1,5
30 24,3 2,4 0.10 1,29 5,32 1,4
NS: Năng suất cà phê vối Dak Lak (tấn nhân/ha)

15
Trong quá trình vận dụng DRIS vào hầu hết các loại cây trồng từ cây cao su của
1.69
0.07 1.50 21.4 K
K

0.06 0.93 N/K

15.0 P/K

N N/P P
Hình 3.2 Sơ đồ DRIS chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê vối kinh doanh Dak Lak
qua phân tích lá
Sơ đồ DRIS được thiết lập dựa trên 3 trục: N/P, N/K, P/K mà điểm giao nhau trên
từng trục tương ứng là 21,4 (N/P); 1,31 (N/K); 0,06 (P/K); ứng với giá trị trung bình của tập
hợp phụ có năng suất cao nhất:
Đối với N/P là từ 18,2 - 24,6 cân đối N và P , từ 24,6 - 27,8 thì N P ,
> 27,8 thì thừa N , thiếu P , < 15,0 thì thiếu N , thừa P
Đối với N/K là từ 1,12 - 1,50 cân đối N và K , từ 1,50 - 1,69 thì N K

2+
Mg
2+

mg/100g đ lđl/100g đ
Cty Thắng Lợi 5,58 3,72 0,18 0,30 0,06 12,6 10,76 1,80 2,85
4,26 3,18 0,16 0,29 0,04 8,7 10,75 2,82 2,27
4,31 4,00 0,18 0,26 0,04 6,4 12,75 3,24 2,54
4,19 3,94 0,21 0,28 0,05 8,5 13,00 3,24 2,12
4,40 3,40 0,20 0,25 0,06 9,3 11,20 2,43 2,67
Trung bình 4,55 3,65 0,19 0,28 0,05 9,1 11,69 2,71 2,49
Số liệu của bảng 3.13 cho thấy đất trồng cà phê của công ty cà phê Thắng Lợi đều
không nằm ngoài quy luật chung của đất nâu đỏ basalt là luôn có phản ứng chua
pH
KCl
= 4,55. Hàm lượng P
2
O
5
% = 0,28% ở mức giàu, nhưng P
2
O
5
dễ tiêu biến động từ 6,4
đến 12,6 mg/100g đất, trung bình 9,1mg/100g đất không phải ở mức nghèo như nhận định
của các nhà nghiên cứu trước đây. Hàm lượng mùn và N tương đối khá so với yêu cầu của
đất trồng cà phê, mùn = 3,65%, N = 0,19%. Hàm lượng kali tổng số không thay đổi mấy
K
2
O% = 0,05%, nhưng kali dễ tiêu tích luỹ nhiều hơn so với bản chất của đất nâu đỏ trung bình

quả phân tích lá trước thử nghiệm cho thấy cả 2 nguyên tố này đều ở mức thiếu hụt nghiêm
trọng. Mg trong đất có ảnh hưởng rõ nét đến sự tích lũy Mg trong lá (r = 0,794).
Khi xem xét cân đối của các nguyên tố dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê trước thử
nghiệm tại công ty cà phê Thắng Lợi theo DRIS cho thấy N/P = 26,6 nghĩa là nguyên tố N
đang có khuynh hướng thừa, nguyên tố P đang có khuynh hướng thiếu, N/K = 1,69 nghĩa là
nguyên tố N đang ở mức thừa, nguyên tố K đang ở m
ức thiếu. Ta đọc được biểu thức N
P K . Đây là một trong những nhận định khá xác đáng theo DRIS làm cơ sở cho việc thử
nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng cho cà phê Thắng Lợi.
Bảng 3.14 Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong lá cà phê trước thử nghiệm
ở Công ty cà phê Thắng Lợi (% chất khô) (2003)
Chỉ tiêu N P K Ca Mg
2,80
2,65
3,04
3,04
3,10
0,11
0,11
0,10
0,10
0,11
1,54
1,85
1,98
1,38
1,89
0,44
0,25
0,26

2
O/ha
- Công thức 3: 276 kg N + 166 kg P
2
O
5
+ 270 kg K
2
O/ha
- Công thức 4: 300 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 300 kg K
2
O/ha
3.3.1.4 Động thái dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê sau bón phân
Kết quả động thái dinh dưỡng khoáng trên lá sau bón phân cho thấy nếu công thức
phân bón cân đối với tỷ lệ hợp lý thì dinh dưỡng khoáng trong lá tiến tới mức tốí ưu để tạo
năng suất cao như công thức 2, mức độ cân đối dinh dưỡng được thể hiện trong thử nghiệm
khá rõ N = 3,20%, P = 0,13%, K = 2,20%, Ca = 0,40% và Mg = 0,50%. Ở công thức 1 đối
chứng, do tập quán bón phân nên cân đối dinh dưỡng không được thiết lập gây cản trở
trong
việc hút dinh dưỡng của cây, nên sau bón phân đợt 3 kali trong lá vẫn ở mức thiếu hụt
K = 1,82%. Tuy nhiên, với năng suất các năm trước không quá 3 tấn nhân/ha nên ở công
thức 4 tăng gấp 3 lần lượng kali cũng không cho hiệu quả kinh tế bởi năng suất không cao
hơn công thức có lượng phân thấp hơn nhiều.

18
Sau bón phân đợt cuối chúng tôi đánh giá các nguyên tố dinh dưỡng khoáng trong lá

0,40
0,29
0,30
Sau bón phân đợt 2 CT1
CT2
CT3
CT4
3,10
3,20
3,09
3,20
0,12
0,12
0,13
0,14
2,02
2,12
2,10
2,14
0,42
0,43
0,36
0,40
0,54
0,47
0,33
0,30
Sau bón phân đợt 3 CT1
CT2
CT3

m ở Công ty cà phê Thắng Lợi
Bảng 3.17 Năng suất cà phê ở Công ty cà phê Thắng Lợi (tấn nhân/ha)
Nghiệm thức
Nông trường CT1 CT2 CT3 CT4
I 2,91 3,47 2,72 3,23
Thắng Lợi II 2,92 3,56 2,70 3,13
III 2,84 3,32 2,68 3,30
Trung bình 2,89 3,45 2,70 3,22
LSD
0,05
= 0,147
Số liệu của bảng 3.17 cho thấy công thức 1 bón với lượng phân đạm và lân cao
(300 kg N + 200 kg P
2
O
5
+ 100 kg K
2
O) nhưng không cân đối gây cản trở việc hút dinh
dưỡng lên lá nên năng suất chỉ đạt 2,89 tấn nhân/ha. Trong khi công thức 2 được xây dựng

19
theo chỉ số DRIS chẩn đoán dinh dưỡng hàm lượng kali trong đất và lá đang ở mức thiếu
cần bổ sung và giảm lượng phân lân (276 kg N + 83 kg P
2
O
5
+ 270 kg K
2
O) cho cân đối với

Ở công thức 2 chi phí cho phân bón ít nhất 3.558.000 đồng, nhưng lợi nhuận cao nhất
18.764.000 đồng và hiệu quả đầu tư phân bón cao nhất (5,27 lần) là nhờ chẩn đoán và xây
dựng công thức phân bón phù hợp đã tạo ra năng suất cao, hiệu quả đầu tư phân bón lớn.

công thức 3 tăng lượng phân lân gấp đôi so với công thức chẩn đoán nhưng năng
suất đạt thấp nhất, tổng giá trị 25.650.000 đồng, chi phí cho phân bón là 4.164.000 đồng, lợi
nhuận thu được 11.914.000 đồng và hiệu quả đầu tư phân bón thấp nhất (2,86 lần).
Ở công thức 4 chi phí cho phân bón 3.897.000 đồng, thu được lợi nhuận 16.510.000
đồng và hiệu quả đầu tư phân bón là 4,23 lần.
3.3.2 Hiệu quả của việc thử nghiệm bón phân theo ch
ẩn đoán dinh dưỡng kết hợp
phân hữu cơ sinh học cho cà phê ở Công ty cà phê Êa Pok
3.3.2.1 Tính chất hóa học đất trước thử nghiệm ở công ty cà phê Êa Pok
Đất trồng cà phê của Công ty cà phê Êa Pok có sự khác biệt về mức độ tồn tại dinh
dưỡng. Mặc dù, cùng là đất nâu đỏ basalt trồng cà phê nhưng mức độ tác động không giống
nhau nên đất ít chua hơn so với một số nông trường khác, pH
KCl
= 5,40 (bảng 3.19). Nhưng

20
khi xét về hàm lượng mùn cho thấy lượng mùn thấp nhất so với các nông trường khác trong
tỉnh. Đây là điều đáng lo ngại vì mùn chính là kho dự trữ dinh dưỡng và là nơi cung cấp chất
dinh dưỡng cần thiết cho cây cà phê. Đồng thời mùn còn điều tiết các quá trình cung cấp
nước, nhiệt độ cũng như các chất kháng thể cho cây cà phê rất lớn. Nguyên nhân là do
việc bổ sung phân hữu cơ cho đất không được chú trọng đúng mức ngay từ
đầu mà chỉ nặng
về bổ sung phân hóa học. Lượng P
2
O
5

2+

mg/100g đ lđl/100g đ
Êa pok 5,30 3,35 0,20 0,20 0,06 6,70 16,37 2,58 2,69
5,35 3,07 0,18 0,25 0,06 6,38 12,22 2,89 1,73
5,40 2,79 0,19 0,25 0,06 6,12 11,37 3,01 1,75
5,50 3,10 0,17 0,30 0,05 5,00 9,40 2.40 1,56
5,45 3,02 0,19 0,21 0,06 6,20 11,64 2,97 0,85
Trung bình 5,40 3,07 0,19 0,24 0,06 6,06 12,20 2,77 1,72
3.3.2.2 Thực trạng dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê trước thử nghiệm
Bảng 3.20 Hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê
trước thử nghiệm ở Công ty cà phê Êa Pok (% chất khô) (2003)
Công ty cà phê N P K Ca Mg
2,98 0,11 1,96 1,03 0,30
Êa Pok 2,38 0,10 1,86 0,67 0,46
2,89 0,10 1,82 0,65 0,37
2,33 0,08 1,77 0,28 0,23
3,77 0,11 1,94 0,77 0,28
Trung bình 2,87 0,10 1,87 0,68 0,33
Hàm lượng N trong đất tương đối khá nhưng hấp thu lên lá có sự khác biệt từ thấp
nhất là 2,33% đến cao nhất 3,77% (bảng 3.20). Giữa 2 mức này các tác giả nước ngoài cũng
như trong nước đều cho rằng khủng hoảng thiếu và thừa đang xảy ra khá rõ nét. Theo kết
quả thang dinh dưỡng khoáng cà phê vối Dak Lak mà chúng tôi thiết lập cho thấy nằm ở 2
giới hạn ấy được xem là giới hạn “khủng hoảng” vì nếu N > 3,28% và N < 2,59% đã
được
xem là giới hạn thừa và thiếu N trong lá vào đầu mùa mưa. Quan hệ giữa N đất và N lá
r = 0,577. Theo kết quả thang dinh dưỡng khoáng mà chúng tôi thiết lập thì lượng P trong lá
hầu hết đều ở mức trung bình, trong khi lượng P
2
O

O
5
+ 360 kg K
2
O/ha (ĐC)
- Công thức CT2: 300 kg N + 120 kg P
2
O
5
+ 300 kg K
2
O + 1200 kg phân hữu cơ sinh học
- Công thức CT3: 225 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 225 kg K
2
O + 1500 kg phân hữu cơ sinh học
- Công thức CT4: 150 kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 150 kg K
2
O + 1700 kg phân hữu cơ sinh học
3.3.2.4 Động thái dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê sau bón phân
Bảng 3.22 Dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê sau bón phân ở Công ty cà phê
Êa Pok (% chất khô)
Chỉ tiêu

CT4
3,01
3,34
3,20
3,12
0,12
0,15
0,14
0,15
2,29
2,49
2,36
2,46
0,23
0,44
0,52
0,42
0,30
0,31
0,34
0,42
Sau bón phân đợt 3 CT1
CT2
CT3
CT4
3,09
3,36
3,18
3,35
0,14

CT 1: N P K
CT 2: N P K
CT 3: N P K
CT 4: N P K
Công thức 1 bón phân như công ty đang áp dụng thì dinh dưỡng tích lũy trong lá sau
bón phân vẫn ở trạng thái khuynh hướng mất cân bằng. Các công thức còn lại được điều
chỉnh theo chỉ số DRIS thì dinh dưỡng sau bón phân tiến tới trạng thái cân bằng. Như vậy rõ
ràng sau khi điều chỉnh lượng phân theo chỉ số DRIS có thể kiểm soát dinh dưỡng tích lũy
trong lá cân đối đó là cơ s
ở của việc tạo ra năng suất khác biệt so với công thức đối chứng.
3.3.2.6 Năng suất cà phê của thử nghiệm ở Công ty cà phê Êa Pok
Bảng 3.23 Năng suất cà phê ở công ty cà phê Êa Pok (tấn nhân/ha)
Nghiệm thức
Công ty cà phê Êa Pok CT1 CT2 CT3 CT4
I 1,90 2,92 2,13 2,72
Êapok II 1,81 2,81 2,29 2,42
III 1,86 2,84 1,98 2,74
Trung bình 1,86 2,86 2,13 2,62
LSD
0,05
= 0,310
Công thức CT1 mặc dù đầu tư phân khoáng khá cao theo quy trình của Công ty cà
phê Êa Pok, song năng suất thu được chỉ đạt 1,86 tấn nhân/ha thấp nhất trong toàn thí
nghiệm (bảng 3.23). Điều đó cho thấy đầu tư phân khoáng cao không có nghĩa là cung cấp
nhiều dinh dưỡng cho cây. Ngược lại ở công thức CT2 giảm lượng phân khoáng nhưng có
bổ sung phân hữu cơ sinh học1200 kg/ha đã tạo nên sự kết hợp hữu cơ - khoáng nên dinh
dưỡng cung cấp cho cây khá thuận lợ
i, năng suất đạt được 2,86 tấn nhân/ha, nếu so với CT1
thì sự khác biệt này hoàn toàn có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức xác suất P < 0,05%. Ở
công thức CT3 có năng suất là 2,13 tấn nhân/ha cũng có bổ sung phân hữu cơ sinh học1500


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status