SKKN Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học Tiếng Việt - Pdf 24

PHỤ LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
1.1 Cơ sở lí luận.
1.2 Cơ sở thực tiễn.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phạm vi đề tài.
5. Phương pháp nghiên
II.NỘI DUNG
1. Một số giải pháp.
1.1. Phương pháp so sánh với thực
trạng dạy phần văn bản hiện nay.
1.2. So sánh là gì?
1.3. Một số hình thức so sánh
a.So sánh làm rõ chi tiết
a.1. So sánh để làm rõ hoàn cảnh
sáng tác văn bản
a.2. So sánh về thể loại
a.3. So sánh khi tiến hành phân
tích văn bản. Được áp dụng để làm rõ chi
tiết về nội dung hay nghệ thuật của văn
bản.
b. So sánh nhằm khái quát kiến
thức.
1.4 Một số chú ý khi sử dụng
phương pháp so sánh.
2. Kết quả khảo sát thực tế.
III. KẾT LUẬN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.

giáo viên dạy văn đều nhận thấy là: Dạy phần văn bản
rất khó. Dạy đúng, đủ, chính xác đã là vấn đề không phải
luôn dễ dàng: dạy để cho hay, học sinh học hào hứng
càng khó hơn.Tuy nhiên không phải vì thế mà việc dạy
phần văn bản trở nên bế tắc . Cùng một văn bản vẫn có
giáo viên dạy tốt và ngược lại. Ngay trong một giáo viên
bình thường vẫn có giờ dạy khá tốt. Rõ ràng vấn đề mấu
chốt chính là ở phương pháp. Trước mỗi văn bản cụ thể
giáo viên cần phải chọn và kết hợp một cách linh hoạt
các phương pháp khác nhau. Trong ý nghĩ đó “so sánh”
trở thành một phương pháp cần thiết, hữu ích khi dạy-
học phần văn bản môn Ngữ văn.
Định hướng trên đây đã được pháp chế hoá trong
luật giáo dục. Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy
tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, hứng thú học
tập ở các em.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Trong chương trình Ngữ Văn 7,8,9 phần so sánh
đặc biệt ở trường THCS Phan Chu Trinh có đến 90 % là
học sinh dân tộc thiểu số nên kĩ năng đọc viết, cũng như
kiến thức cơ bản về Tiếng Việt còn gặp nhiều hạn chế.
Vì vậy để học sinh nắm được kiến thức người giáo viên
phải tổ chức giờ học có hiệu quả.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
Nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh
trong giờ học Tiếng Việt để đêm lại hứng thú học tập
cũng như nâng cao chất lượng môn học.

tích cực sự đồng cảm của học sinh.Cũng từ thực trạng
trên cho thấy rằng: Ở những giờ dạy văn bản chưa được
tốt chủ yếu là do người dạy chưa sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học. Đặc biệt ít có sự liên hệ so sánh,
nếu có thì mới chỉ có ở mức độ sơ sài, vì chưa thấy
được tác dụng của việc sử dụng phương pháp so sánh
khi dạy học phần văn bản.Việc giáo viên ít sử dụng
phương pháp so sánh cùng với việc nhuần nhuyễn với
các phương pháp khác làm cho giờ học trở nên buồn tẻ,
khô khan, kém linh hoạt đặc biệt không phát huy được
tốt năng lực tư duy, sự hào hứng , tích cực của học sinh,
ảnh hưởng đến hiệu quả của giờ dạy-học phần văn bản.
1. 2. So sánh là gì?
* Vai trò của phương pháp so sánh khi dạy-học
phần văn bản.
- Có thể hiểu một cách đơn giản:
- So sánh là một phương pháp được hình thành
trên cơ sở đối chiếu những điểm giống và khác nhau
giữa đối tượng này với đối tượng khác để tìm ra bản
chất của chúng.
- So sánh là một trong những con đường dễ tiếp
cận, khai thác, cảm thụ tác phẩm văn học. Những hiện
tượng văn học( theo tên gọi cũ) bao giờ cũng chịu sự chi
phối bởi những quy luật đặc thù.Vì thế, giữa các văn bản
bao giờ cũng có những yếu tố tương đồng ở các cấp độ
khác nhau. Tuy nhiên chúng lại có điểm khác nhau căn
bản để quy về bản chất. So sánh chính là chỉ ra những
dấu hiệu đặc trưng giống nhau và khác nhau căn bản
giữa các hiện tượng văn học đó. Do vậy, so sánh có thể
được áp dụng thường xuyên ở mỗi tiết học văn bản.

phần hạn chế của nội dung chương trình sách giáo khoa
Ngữ văn, khi mà tính liên kết dọc ( theo văn học sử) bị
phá vỡ.
-Trong phương pháp so sánh, đối tượng được so
sánh hầu hết là đơn vị kiến thức mà học sinh được học
qua. Khi so sánh học sinh phải huy động lại kiến thức đó.
Do vậy, so sánh chính là một hình thức giúp học sinh
củng cố lại kiến thức, ghi nhớ và khắc sâu.
1.3. Một số hình thức so sánh
a. So sánh làm rõ chi tiết:
Mỗi một văn bản đều có những đơn vị, những “loại”
kiến thức khác nhau. Tuỳ theo từng bài, giáo viên có thể
chọn chi tiết nào đó để thực hiện việc so sánh. Hình thức
này chủ yếu được thực hiện cho việc khai thác kiến thức
văn bản. Chính vì thế nó được áp dụng thường xuyên
khi dạy - học phần văn bản và trong tất cả các giờ dạy
văn bản đó.

a.1.So sánh để làm rõ hoàn cảnh sáng tác
của văn bản.
Văn bản bao giờ cũng đi liền với hoàn cảnh sáng
tác. Việc nắm vững hoàn cảnh sáng tác sẽ giúp học sinh
cảm nhận đầy đủ hơn về văn bản. Văn bản có thể giống
nhau hoặc khác nhau về hoàn cảnh sáng tác. So sánh
sẽ làm cho học sinh dễ nhớ hơn là tách biệt từng văn
bản.
Ví dụ 1: Dạy văn bản “Cảnh khuya” và “Rằm tháng
giêng” của Hồ Chí Minh. Nếu giáo viên hỏi:
- Cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ? như thế
học sinh sẽ chỉ biết hoàn cảnh của bài một cách riêng lẻ,

Ví dụ 2: Dạy văn bản “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi
mới về quê” của Hạ Tri Chương.
Giáo viên: Đều viết về tình cảm quê hương nhưng
hoàn cảnh ra đời của văn bản “ Ngẫu nhiên viết nhân
buổi mới về quê” so sánh với hoàn cảnh ra đời của bài
“Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lí Bạch có gì đáng
chú ý?
Học sinh: Khác nhau là một bài được viết khi xa
quê, trong tâm trạng nhớ quê khắc khoải, còn bài kia viết
khi về thăm quê trong một hoàn cảnh ngậm ngùi, chua
xót. Học sinh chỉ ra được sự khác nhau ở câu hỏi trên là
đã định hướng đúng tình cảm, tâm trạng của nhân vật
trữ tình khi đi vào phân tích.
a.2. So sánh về thể loại:
Đối với học sinh lớp 6-7, thể loại là khái niệm mới
bắt đầu làm quen . Vì thế so sánh để cho học sinh nhận
rõ đặc trưng thể loại là rất quan trọng.
-So sánh cùng thể loại:
Ví dụ : Dạy văn bản “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới
về quê” của Hạ Tri Chương.Giáo viên hỏi : Về thể loại
em thấy giống văn bản nào đã học? Đó là thể loại gì?
Học sinh : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của
Lí Bạch, “ Buổi chiều đứng ở Phủ Thiên Trường trông ra”
của Trần Nhân Tông, “Phò giá về kinh” của Trần Quang
Khải , “Sông núi nước Nam” của Lí Thường Kiệt. Đều là
thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- So sánh khác thể loại :
Ví dụ : Dạy văn bản “ Qua đèo ngang” của Bà
Huyện Thanh Quan.
Giáo viên hỏi: So sánh thể thất ngôn bát cú Đường luật

Ví dụ 2: Dạy bài “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện
Thanh Quan
Giáo viên : Cụm từ “ Ta với ta” ở hai bài “Qua đèo
Ngang” và “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến có gì
khác nhau?
Học sinh: - Bài “Qua đèo Ngang” cụm từ “ta với ta”
là một người, thể hiện nỗi cô đơn giữa cảnh trời đất bao
la.
- Bài “Bạn đến chơi nhà” cụm từ “ta với ta” là hai
người , khẳng định một tình bạn gắn bó hoà hợp.
Ví dụ 3: Dạy văn bản “Mẹ tôi” của Ét-môn-đô đơ A-
mi-xi.
Giáo viên : Tại sao bố không nói trực tiếp với En-ri-
cô mà lại viết thư? Hai cách nói ấy có gì khác nhau?
Học sinh: Viết thư vừa thể hiện những tình cảm
sâu kín, vừa giữ được sự kín đáo, giảm bớt cảm giác
xấu hổ cho người mắc lỗi, đó là cách ứng xử tế nhị trong
giao tiếp.
b. So sánh nhằm khái quát kiến thức.
Khái quát hoá là thao tác tư duy nhằm rút ra bản
chất chung trên cơ sở phân tích những hiện tượng giống
nhau. Hình thức so sánh này thường áp dụng ở những
tiết học mang tính chất “ tổng kết ”về một tác giả, một
chùm bài
Ví dụ 1: So sánh hai văn bản “ Qua đèo ngang ” và
bài “ Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan để
rút ra những phong cách của tác giả.
Học sinh: Những đặc điểm chính về phong cách
thơ của bà Huyện Thanh Quan:
- Ngôn ngữ thơ trau chuốt, trang nhã, chuẩn mực.

1.4 . Một số chú ý khi sử dụng phương
pháp so sánh.
Sử dụng phương pháp so sánh khi dạy học phần
văn bản môn Ngữ văn cần chú ý một số điểm sau:
Trước hết giáo viên cần phải nắm chắc kiến thức để
có thể vận dụng phương pháp so sánh một cách chính
xác, linh hoạt thực sự hữu dụng tránh đưa ra tình huống
so sánh khập khiễng, không rút ra được bản chất của
hiện tượng, hoặc không nhằm vào những vấn đề cơ
bản trọng tâm.
Tình huống so sánh phải kích thích được tư duy của
học sinh. Nhưng cũng cần chú ý đến tính vừa sức, tránh
khó quá. Với những câu hỏi khó giáo viên có thẻ gợi dẫn
bằng những câu hỏi nhỏ, chi tiết hơn.
Ví dụ : So sánh những đặc trưng thi pháp của hai
bài thơ “Qua đèo Ngang” và “Chiều hôm nhớ nhà” của
Bà Huyện Thanh Quan để rút ra phong cách của tác giả?
Câu hỏi này thuộc dạng khó giáo viên có thể gợi ý cho
học sinh so sánh cụ thể về các yếu tố: Ngôn ngữ, ngoại
cảnh, tâm cảnh để rút ra kết luận.
- Giáo viên cũng cần phải phát huy vai trò của tài
liệu tham khảo để tự liên hệ so sánh được phong phú
hơn.
-Có những trường hợp đối tượng so sánh là kiến
thức mà học sinh chưa được tiếp xúc thì giáo viên phải
sử dụng bảng phụ cho học sinh trực quan đối tượng đó.
Ví dụ : Dạy bài “ Sau phút chia li” nếu giáo viên cho
học sinh so sánh với việc chia li của đôi vợ chồng trong
thơ “ Cuộc chia li màu đỏ” của Nguyễn Mĩ thì đương
nhiên giáo viên phải sử dụng bảng phụ ghi những câu

- Hình thức thứ hai là: Tiến hành điều tra bằng
phiếu trắc nghiệm lấy ý kiến của học sinh. Người viết tiến
hành điều tra hai lớp thường xuyên áp dụng phương
pháp so sánh. Tổng số điều tra như sau:
Số phiếu phát ra: 82, số phiếu thu vào: 82
- Số phiếu trả lời đầy đủ: 82
* Kết quả:
1) Phương pháp so sánh khiến em cảm thấy tích
cực làm việc:
a) Đúng 82,1 %
b) Sai 17,9 %
2) Phương pháp so sánh làm cho giờ học:
a) Sinh động: 82,1 %
b) Bình thường: 17,9%
3) Phương pháp so sánh là phương pháp:
a) Khó 8,1 %
b) Dễ: 13,2 %
c) Hiệu quả: 78,7 %

III. KẾT LUẬN

Rõ ràng phương pháp so sánh là một trong
những phương pháp cần thiết trong khi dạy phần văn
bản môn Ngữ văn. Mỗi giáo viên nên phát huy tác dụng
phương pháp này. Thực chất một số giáo viên, nhất là
những giáo viên có kinh nghiệm, có tay nghề cao, họ đã
sử dụng phương pháp này từ lâu. Chỉ có điều việc sử
dụng còn mang tính chất “ngẫu nhiên” chưa ý thức khai
thác, phát huy vai trò của nó. Điều này ảnh hưởng đến
hiệu quả giờ dạy-học văn bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status