PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xác định được tầm quan trọng đặc điểm của giáo dục đối với sự phát triển của
đất nước, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm, chú trọng
đến giáo dục. Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Bên cạnh việc đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị xây dựng đội ngũ giáo viên cho các nhà trường,
vấn đề đổi mới nội dung chương trình và đổi mới phương pháp dạy học đã được xác
định là khâu then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Nghị quyết trung ương 4
khoá VII đã xác định phải "khuyến khích tự học"; phải "áp dụng những phương pháp
giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề".
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định "phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành
nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học".
Định hướng trên dây đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục, Điều 24.2
"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
Đặc biệt từ năm học 2001 - 2002 đến nay: 2004 - 2005, SGK mới được đưa
vào giảng dạy đồng loạt tại các trường THCS trong toàn quốc càng đặt ra cho giáo
viên yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học cấp thiết hơn. Trong số các môn học ở
lớp 6 thì môn Sinh học là môn có nội dung thay đổi khá rõ rệt đó là: Sách không đi
cung cấp thông tin mà cung cấp những tình huống đòi hỏi giáo viên và học sinh phải
tìm hiểu, nghiên cứu. Vậy đòi hỏi phải thay đổi phương pháp của người dạy, người
học. Trong khi đó phương pháp giảng dạy theo phương pháp thông tin tri thức dẫn tới
chất lượng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội. Chính vì thế rất
nhiều giáo viên gặp không ít khó khăn khi chuyển tư cách dạy một chiều sang cách
dạy theo quan điểm tích cực, tích hợp mà SGK mới yêu cầu.
- Đề xuất một số phương pháp để dạy môn Sinh học 6.
D. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Việc tổng kết đề tài dựa trên các cơ sở nghiên cứu quan trọng đó là:
- Sự chỉ đạo của ngành trong việc đổi mới phương pháp.
- Việc vận dụng đổi mới phương pháp của giáo viên dạy môn Sinh học 6
- Việc vận dụng phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh với
một số bài học cụ thể và khảo sát kết quả trong các giờ dạy đó.
E. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục, các
tài liệu, bài viết, báo cáo của Bộ giáo dục và Đào tạo, của Chính phủ, các bộ phận
liên quan về việc đổi mới chương trình và SGK phổ thông.
+ Nghiên cứu lý luận dạy học Sinh học.
+ Nghiên cứu các tài liệu, bài viết về phương pháp dạy học tích cực.
+ Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình SH6, SGK và SGV SH6
+ Nghiên cứu các tài liệu về thực vật học, vi sinh vật học, sinh thái học, trồng
trọt.
2 - Phương pháp điều tra cơ bản:
Điều tra tình hình dạy học SH6 ở trường THCS Long Sơn với SGK mới, về
phương pháp tổ chức dạy học bằng phương pháp phát huy trí lực của học sinh và
tham khảo ý kiến các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy SH6 tại trường THCS để tìm
hiểu những ưu điểm và hạn chế cua SGK, SH6, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
3 - Thực nghiệm sư phạm:
+ Thực nghiệm khảo sát tình hình dạy học SH6 ở một số giờ dạy trên lớp với
SGK SH6 mới:
- Thăm dò bằng phiếu
- Dự giờ, thăm lớp, kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 6
- Toạ đàm với GV giảng dạy SH6 tại một số trường THCS.
+ Thực nghiệm chính thức:
- Giảng dạy một số giờ SH6 có áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực
lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
- Học sinh tập trung chú ý vào vấn đề đang học
- Học sinh kiên trì làm xong các bài tập.
- Học sinh không nản trước các tình huống khó khăn.
- Tỏ thái độ phản ứng khi trống báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong,
hoặc vội vàng gấp vở, chờ được lệnh ra chơi.
- Có thể phân biệt 3 cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập, từ thấp lên cao.
a) Bắt chước
b) Tìm tòi
c) Sáng tạo
- Để biểu hiện được tính tích cực, có tác giả dùng"phương pháp tích cực" đòi
hỏi phát huy tính tích cực của cả người dạy và người học mà như đã nói ở trên thực
chất phương pháp tích cực đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động
của người học.
Có 4 dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực là:
a) Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh: "Học để hành, học
và hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì hành
không trôi chảy" (Hồ Chí Minh).
b) Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tích cực: Desterwerg đã viết:
"Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý".
c) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: phương pháp tích
cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực
1
cao của mỗi HS trong quá trình tự lực
giành lấy kiến thức mới.
Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò; trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp
tác giữa các cá nhân trong con đường đi tới những tri thức mới.
d) Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
1
và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ
định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng
phần của tiết học, các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc được giao những
nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu ra nhóm trưởng, nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các
thành viên trong nhóm, các thành viên trong nhóm giúp nhau tìm hiểu vấn đề trong
không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp
vào kết quả chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp,
nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc có thể phân công mỗi thành viên trình bày một
phần nếu nhiệm vụ được giao là khá phức tạp.
* Kết luận:
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS là một quá trình
lâu dài. Không thể ngày một ngày hai mà đông đảo GV tự bỏ được kiểu dạy truyền
thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc từ lâu. Việc phát triển các phương
pháp tích cực đòi hỏi một số điều hiện, trong đó quan trọng nhất là bồi dưỡng giáo
viên, đổi mới khâu đánh gía học sinh và giáo viên.
Yêu cầu đào tạo lớp người năng động sáng tạo, đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải quyết tâm
nhanh chóng đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, không thể chậm chạp như mấy
thập kỷ vừa qua. Hãy phấn đấu để trong mỗi tiết học bình thường ở trường THCS của
chúng ta được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và
quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh nội dung
học tập.
Chương II
BÁO CÁO KHẢO SÁT VÀ CƠ SỞ THỰC TẾ
Bắt đầu từ năm học 2002-2003, SGK SH 6 mới được đưa vào giảng dạy đại
trà tại tất cả các trường THCS trong cả nước.
Để đánh giá về hiệu quả của SGKSH6 mới và áp dụng đổi mới phương pháp
giảng dạy, nhất là phương pháp phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh với
môn SH6, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài, tôi đã tiến hành điều tra tình hình dạy học
a) Phương pháp dạy học của GV :
Qua dự giờ, thăm lớp và trao đổi với các GV, tôi nhận thấy trong việc đổi mới
phương pháp dạy học của GV diễn ra ở những mức độ khác nhau, song nhìn chung,
với cách thức biên soạn của SGKSH6 mới, các giờ giảng của GV đã hạn chế phương
pháp thuyết trình để HS nghe và thụ động ghi chép. SGK được sử dụng thường xuyên
trong tất cả các giờ học. Nhiều giáo viên có cách thức tổ chức cho học sinh làm việc
thông qua hệ thống các bài tập tình huống, các câu hỏi phát huy trí lực của học sinh
trong SGK rất hiệu quả.
b- Đồ dùng.
Song song với việc đổi mới phương pháp dạy học thì việc sử dụng đồ dùng
dạy học trong các giờ lên lớp của giáo viên là rất quan trọng.
SGK in phần lớn là kênh hình, học sinh quan sát sơ đồ, hình vẽ (SGK) đã
được phóng to để phát hiện kiến thức.
7
Phương tiện giảng dạy còn là mô hình, mẫu vật thật kích thích sự tìm tòi,
hứng thú học tập của các em, nhất là kiến thức Sinh học 6 hầu hết liên quan đến các
loài TV có trong thực tế.
c- Kết quả:
Kết quả kiểm tra khảo sát chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng lĩnh hội kiến thức của học
sinh tại trường THCS Nham Sơn ở một số bài học có áp dụng đổi mới phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực học tập của học sinh (Đề kiểm tra được in ở phần phụ lục).
Kết quả thu được từ 123 bài kiểm tra như sau:
Giỏi : 17,0% (21/123 HS).
Khá : 33,3% (41/123 HS)
Trung bình : 47,4% (58/123 HS).
Yếu kém : 2,4% (3/123 HS).
Các kết quả chúng tôi thu được đã khẳng định: Chương trình SGK SH 6 mới,
việc áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong các giờ
lên lớp đã có hiệu quả tốt tới chất lượng giảng dậy của giáo viên và học tập của học
soạn giáo án của cả bài học, và cũng không tuân thủ theo đầy đủ các bước của một
giáo án.
b- Hình thức thứ hai:
Áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh với một bài
cụ thể.
Phần kiểm tra, đánh giá sẽ được đề cấp tới trong phần phụ lục.
* Một số ví dụ minh hoạ:
Ví dụ 1: Bài 9: Các loại rễ, các miền của rễ (dạy lớp: 6C)
* Mục tiêu bài học:
+ Kiến thức:
- Học sinh nhận biết và phân biệt được 2 loại rễ chính: Rễ cọc và rễ chùm.
- Phân biệt được cấu tạo và chức năng các miền của rễ, sự phù hợp về cấu tạo
và chức năng ở mỗi miền.
+ Kỹ năng: Quan sát, so sánh, suy luận.
+ Thái độ: Có ý thức bảo vệ thực vật.
Mục 2: Các miền của rễ.
* Mục tiêu: - Học sinh phân biệt được cấu tạo và chức năng 4 miền của rễ.
- Rèn kỹ năng quan sát, suy luận.
* Lý do cần đổi mới phương pháp:
Để học sinh phân biệt được cấu tạo và chức năng các miền của rễ, SGK Sinh
học 6 sử dụng 2 nguồn thông tin:
- Hình 9.3: Các miền của rễ.
- Bảng hệ thống cấu tạo và chức năng mỗi miền.
Nhiệm vụ mà bài tập đặt ra cho học sinh là: đối chiếu hình 9.3 với thông tin
trong bảng để ghi nhớ vị trí, cấu tạo, chức năng của từng miền.
Theo tôi, thay cho việc yêu cầu học sinh ghi nhớ những thông tin có sẵn trong
bảng, có thể cải tiến bảng đã cho thành một bài tập đòi hỏi học sinh phải lựa chọn
những mục tương ứng giữa chức năng và cấu tạo mỗi miền của rễ dựa trên sự phân
tích về mối liên hệ của chúng, thì hiệu quả học tập sẽ được tăng cường vì nó yêu cầu
học sinh phải tích cực, chủ động hơn để thực hiện nhiệm vụ bài tập đề ra.
(6B), kết quả các bài kiểm tra của học sinh lớp 6C, 6A đã chứng tỏ sự vượt trội về
mức độ hiểu và khả năng ghi nhớ những kiến thức cơ bản của bài học ngay trên lớp
cũng như độ bền kiến thức của học sinh.
Kết quả thu được như sau:
Phần III
KẾT LUẬN
GS.TS Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: "Không có phương pháp nào được
coi là tối ưu trong việc giảng dạy, cũng không thể thiết kế những giáo án mẫu và
phương pháp mẫu cho tất cả các giáo viên lên lớp". Việc đổi mới phương pháp chỉ
thực sự đem lại kết quả khi mỗi giáo viên giảng dạy, luôn ý thức được yêu cầu đổi
mới là quy luật tất yếu của ngành giáo dục. Người giáo viên nắm chắc các phương
pháp và vận dụng khéo léo, linh hoạt, sáng tạo ở mỗi đơn vị kiến thức cho phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh của mình.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dậy, trong những năm học vừa qua tôi cũng
đã cố gắng thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy và chú trọng nhất là:
Phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở môn sinh học 6 và
rút ra vài kinh nghiệm như trên.
Dù đã cố gắng rất nhiều xong bài tập nghiên cứu mà chúng tôi đưa ra đây,
chắc không tránh khỏi những sơ xuất. Mong sự đóng góp ý kiến của cấp lãnh đạo để
tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài này ngày một tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Long Sơn 2, tháng 10 năm 2004
Người viết
Trần Trung Sơn