đánh giá của người dân về chương trình nông thôn mới tại xã đa tốn, gia lâm, hà nội - Pdf 24

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BÁO CÁO ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG
NĂM 2014
Mã số:
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ ĐA TỐN, GIA LÂM, HÀ NỘI
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đỗ Thị Thanh Huyền
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
Đơn vị : Khoa Kinh tế và PTNT
Hà Nội, 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Chủ chương xây dựng nông thôn mới đã và đang được Đảng, Nhà nước và toàn dân
quan tâm hiện nay với mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới có kinh tế phát triển, thu
nhập của cư dân nông thôn ở mức cao và không ngừng được nâng cao, có đời sống văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có cơ sở hạ tầng cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe và
phục vụ sinh hoạt đồng bộ, hiện đại, môi trường cảnh quan được đảm bảo, tình hình chính trị,
an ninh trật tự an toàn xã hội được duy trì và đặc biệt là khoảng cách chênh lệch giữa nông
thôn và thành thị được rút ngắn.
Với những mục tiêu trên, chủchương xây dựng nông thôn mới đã được Chính phủ phê
duyệt và thực hiện thí điểm giai đoạn đầu từ năm 2008 – 2011 ở 5 tỉnh trên cả nước và sau đó
là chiến lược xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc từ năm 2010 – 2020 được phê
duyệt khiến phong trào xây dựng nông thôn mới diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước. Sau
một số năm thực hiện thí điểm, và triển khai trên diện rộng, tổng kết các thành quả đạt được
và hạn chế còn tồn tại để nhìn nhận lại tổng thể mô hình nông thôn mới của chúng ta xây
dựng như thế nào đặc biệt là những đánh giám nhìn nhận của người dân về mô hình này cần

5
Các thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ một số năm gần đây chủ yếu là trong
khoảng thời gian 3 năm từ năm 2012 đến năm 2014
Các thông tin, số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu trong năm 2013, 2014.
1.4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Cách tiếp cận
Cách tiếp cận xuyên suốt được sử dụng trong đề tài là cách tiếp cận có sự tham gia Theo
đó, cách tiếp cận này được sử dụng để thảo luận, trao đổi và thu thập những đánh giá, bình
luận của người dân về mô hình nông thôn mới tại địa phương trên các phương diện về kinh tế,
văn hóa – xã hội, cơ sở hạ tầng, hệ thống chính quyền… ở địa phương. Đồng thời cũng để tập
hợp các ý kiến, đề xuất từ phía cộng đồng về những giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện
mô hình nông thôn mới tại xã.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
a, Thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp là những số liệu thu thập từ các nguồn có sẵn đã được công bố của Tổng
cục thống kê, Ban thống kê xã Đa Tốn, sách báo, tạp chí, các bài viết trên báo điện tử có liên
quan. Những thông tin và số liệu này được thu thập, chọn lọc từ các nguồn khác nhau, góp
phần làm rõ tình hình chung của địa bàn, cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề cần được nghiên
cứu
Thông tin ,số liệu Nguồn thu nhập Cách làm
Cơ sở lý luận và thực
tiễn của đề tài
Các sách báo, luận văn,
luận án, tạp chí có liên quan
đã được xuất bản, các bài
viết trên các trang mạng
internet…
Tra cứu, thu thập và
chọn lọc thông tin hữu ích,

dựng nông thôn mới đến các hộ gia đình và những khó khăn, vướng mắc đang gặp phải.
Đối tượng điều tra Số lượng
1. Cán bộ địa phương (Ban chỉ đạo, Ban quản lý NTM)
+ Bí thư, Chủ tịch UBND xã, trưởng các ban (tài chính, địa chính)
+ Các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội
CCB, )
+ HTX dịch vụ nông nghiệp
9
3
5
1
2. Người dân (phân nhóm theo địa bàn / theo lĩnh vực nông nghiệp,
TTCN, thương mại, Công chức, viên chức làm việc ngoài địa bàn xã)
- Khu vực gần trung tâm chợ Bún (01 thôn)
- Khu vực gần chùa Khoan Tế (01 thôn)
- Khu vực xa trung tâm xã (02 thôn)
60
20
20
20
Tổng 69
Thông tin, số liệu mới được thu thập bằng các nhóm phương pháp sau:
• Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ xã, ban quản lý xây dựng nông thôn mới về tình hình triển
khai, những kết quả và những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện .Nông thôn mới
khác gì nông thôn cũ.
• Phương pháp điều tra nhanh nông thôn: Phương pháp giúp người dân có thể chia sẻ và bày tỏ
những nguyện vọng, mong muốn về nông thôn mới.
Ngoài ra để góp phần vào việc điều tra số liệu tôi còn sử dụng một số phương pháp sau :
• Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA): Mô tả các nhóm tiếp cận và các phương pháp
nhằm giúp cho người dân địa phương có thể chia sẻ và phát huy kinh nghiệm cũng như giúp

Biểu mẫu điều tra phỏng vấn trực tiếp được sử dụng để thu thập dữ liệu về điều kiện
sản xuất, kết quả và hiệu quả sản xuất, các vấn đề thuộc về chính sách xã hội, về quy hoạch,
hạ tầng kinh tế- xã hội, về hệ thống chính trị. Đối tượng phỏng vấn là các chủ hộ dân và các
cơ sở sản xuất.
Phiếu điều tra bán cấu trúc được sử dụng để phỏng vấn các hộ dân, cán bộ địa phương và cán
bộ Ban quản lý các dự án xây dựng thị xã, phòng quản lý đô thị….
b, Phương pháp thống kê so sánh:
So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu. Có thể dựa vào đồ
thị hay các bảng số liệu đã xử lý để so sánh về các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường ….của
xã trước và sau khi tiến hành xây dựng nông thôn mới, so sánh kết quả đạt được với kế hoạch
đặt ra, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu hướng tới, so sánh về tình hình kinh tế giữa các
hộ nhằm phát hiện những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới để
từ đó có cơ sở đề xuất những giải pháp định hướng nhằm tiếp tục phát huy các kết quả của mô
hình nông thôn mới.
1.4.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu phản ánh quá trình tổ xây dựng mô hình nông thôn mới
Các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài được thực hiện căn cứ theo các bước tổ chức thực
hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Chỉ tiêu đánh giá về bộ máy tổ chức, chỉ đạo thực hiện Chương trình
- Vai trò, nhiệm vụ của bộ máy tổ chức, chỉ đạo Chương trình
- Mức độ hiệu quả của BCĐ, BQL trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn
mới của xã
- Mức độ tham gia và năng lực của từng thành viên trong BCĐ, BQL
Chỉ tiêu đánh giá về công tác tuyên truyền, vận động người dân
- Mức độ tuyên truyền, vận động người dân
- Hiệu quả của công tác tuyên truyền vận động
8
Chỉ tiêu về khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn
- Việc thực hiện khảo sát đánh giá đã đạt được những gì? Đạt bao nhiêu %?
- Mức độ phù hợp của việc khảo sát đánh giá

giá trong quá trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác
định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu. Mặt khác đánh giá còn là quá trình thu thập, xử lí
thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định
và hành động có kết quả.
Đánh giá là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó. Đánh giá là
hoạt động nhằm nhận định , xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất
lượng hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển , những kinh nghiệm được hình thành ở thời
điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập.
9
Năm tiêu chí được sử dụng để đánh giá là : tính phù hợp( các biện pháp của dự án có
giải quyết được “vấn đề” ?), hiệu suất (nguồn lực có được sử dụng một cách hợp lý), hiệu quả
( chương trình ,dự án có đạt đến các mục tiêu), tác động( dự án có góp phần vào việc đạt mục
đích), tính bền vững ( kết quả và tác động sẽ được duy trì sau khi tài trợ đã kết thúc)
b, Người dân
Nhân dân hay còn gọi là người dân, quần chúng, dân là thuật ngữ chỉ về toàn thể
những con người sinh sống trong một quốc gia, và tương đương với khái niệm dân tộc. Nhân
dân còn có khái niệm rộng hơn và được sử dụng trong chính trị, pháp lý, tư tưởng chính trị.
Trong lĩnh vực chính trị pháp lý, nhân dân còn tương đồng với thuật ngữ công dân là những
con người mang quốc tịch và được bảo hộ của một nhà nước nơi họ đang sinh sống và thông
thường là không bao gồm những người trong bộ máy cai trị.(Wikipedia tiếng Việt)
Trong khái niệm trên rõ ràng là khái niệm người dân được hiểu theo nghĩa rất rộng bao
gồm toàn bộ cư dân sinh sống trong một phạm vi lãnh thổ nhất định từ phạm vi một quốc gia
cho đến vùng lãnh thổ, tỉnh, huyện, xã, thôn xóm… Tuy nhiên, theo quan điểm tiếp cận có sự
tham gia trong xây dựng nông thôn mới hiện nay thì thuật ngữ người dân được hiểu là nhóm
người được hưởng lợi chính từ chính sách và quá trình thực hiện xây dựng chương trình nông
thôn mới ở địa phương.
Như vậy, trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới thì thuật ngữ người dân được hiểu
làm toàn bộ nhóm người sinh sống trong một phạm vi lãnh thổ nhất định và là nhóm hưởng
lợi chính của chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn của địa phương ấy.
c, Nông thôn mới

và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi
trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí
thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Như vậy, hiểu một cách chung
nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động,
có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị.
Do đó, có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo
thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông
thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ
ở tính tiên tiến về mọi mặt”.
Như vậy đánh giá của người dân về mô hình nông thôn mới là xem xét, nhìn nhận,
bình luận về mô hình nông thôn mới trên các góc độ về chính sách, quá trình triển khai, thực
hiện, kết quả đạt được, những tác động và tính bền vững của mô hình dưới góc nhìn từ phía
người dân
2.1.1.2 Nội dung đánh giá của người dân về mô hình nông thôn mới
a, Đánh giá về nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính
phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục
tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn
hóa – xã hội – môi trường.
Chính sách phát triển nông thôn là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ
nhằm tạo cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào
(đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng), tác động tới giá đầu vào hay giá đầu ra trong nông
thôn, tác động về việc thay đổi tổ chức, trong đó thị trường đầu vào và cả đầu ra được thực
hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ. (Wikipedia tiếng Việt)
Chính sách, chủ trương xây dựng nông thôn mới là một tập hợp các chính sách tổng
hợp trên tất cả mọi mặt từ kinh tế - văn hóa, xã hội và môi trường nhằm đẩy nhanh sự phát
triển của khu vực nông thôn một cách toàn diện, cải thiện đời sống của cư dân khu vực nông

ý thức bảo vệ môi trường, cải thiện cảnh quan và môi trường nông thôn; sự hoạt động hiệu
quả, uy tín của hệ thống chính quyền cơ sở, đảm bảo an toàn xã hội. Đánh giá của người dân
về kết quả xây dựng nông thôn mới chính là đứng từ phía người dân, góc nhìn từ người dân
và đánh giá cụ thể, thực tế của người dân trên địa bàn về các nội dung trên từ đó có được nhận
xét khách quan nhất về mức độ và chất lượng đạt được của mô hình nông thôn mới.
d, Đánh giá tác động của mô hình đến đời sống của người dân
Thực tế cho thấy, bất kỳ một chương trình, dự án phát triển nào khi thành công đều
mang lại những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực cho người dân bản địa. Chương trình xây
dựng nông thôn mới cũng vậy, với tư cách là một chương trình phát triển tầm quốc gia và
được triển khai trên phạm vi rộng toàn quốc thì những tác động ấy là tất yếu. Bất kỳ địa
phương nào sau khi xây dựng thành công mô hình này đều phải đối mặt với những ảnh hưởng
to lớn cả tích cực và tiêu cực tới địa phương mình. Việc đánh giá những tác động này từ mô
hình nông thôn mới chính là đánh giá ở các khía cạnh tác động từ sự thay đổi về kinh tế, văn
hóa, xã hội… tới đời sống của người dân, từ người dân và do người dân nhận định so với
trước kia chỉ ra đâu là ảnh hưởng tích cực, đâu là ảnh hưởng tiêu cực và mức độ của những
ảnh hưởng ấy nhằm có phương án điều chỉnh lại cho phù hợp trong tương lai.
e, Đánh giá về tính bền vững
Mô hình nông thôn mới bản thân nó là một chương trình phát triển, ở mỗi địa phương
khác nhau có điều kiện và cách thực hiện khác nhau do đó ảnh hưởng đến tính bền vững đối
với những thành quả của mô hình. Sự bền vững của mô hình chính là ở sự đúng đắn hay
không đúng đắn từ nội dung đến cách làm cho tớ việc quản lý, sử dụng và duy trì lợi ích, tác
động tích cực từ những thành quả của mô hình và điều chỉnh, giảm thiểu những tác động tiêu
cực cũng như tiếp tục phát huy thành quả và cải tổ, điều chỉnh phương thức quản lý, đổi mới,
bồi bổ những thành quả ấy. Tính bền vững này cần phải được đánh giá đúng đắn từ cả góc
nhìn của nhà quản lý lẫn góc độ người dân nhằm đưa ra được những giải pháp phù hợp nhất,
hiệu quả nhất duy trì lợi ích lâu dài mà mô hình mang lại cho địa phương.
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn mới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc, từ một nước thuộc địa đến tận cuối thế kỷ XIX, đã đi lên từ vị trí giữa

hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác.
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước có chiến lược xây dựng và phân bố hợp lý
các công trình thủy lợi lớn phục vụ nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu
hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác
trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm
thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước….
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào
các nội dung sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời
cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong
lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập
khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp,
thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những
ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính
tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò
hết sức quan trọng đối với việc CNH - HĐH thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy
quá trình CNH - HĐH đất nước.
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Oita là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam Nhật Bản, cách Thủ đô Tokyo khoảng 500 km.
13
Cuối những năm 70, khi Nhật Bản đã cơ bản thực hiện xong công cuộc công nghiệp hóa đất
nước, các ngành công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở khu vực thành phố tạo nên sự
thu hút mạnh mẽ về lao động từ các vùng nông thôn, trong đó có Oita. Thế hệ trẻ sau khi tốt
nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đều không muốn trở về vùng nông thôn nơi họ
đã được sinh ra và lớn lên mà muốn ở lại các thành phố và trung tâm công nghiệp. Điều này
đã dẫn đến tình trạng hoang tàn và giảm dân số nghiêm trọng ở vùng nông thôn nói chung và
Oita nói riêng – hầu như chỉ còn người già và con trẻ ở những khu vực này.
Đứng trước tình hình đó, ngay sau khi được bổ nhiệm làm người đứng đầu tỉnh Oita,

Phong trào ở Oita, người ta có thể tìm ra những sản phẩm rất bình dị trong cuộc sống như
nấm Shitake và các sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn Yufuin, cam, cá khô ở
làng Yonouzu, chè và măng tre ở làng Natkatsu…Trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, Phong
trào "Mỗi làng một sản phẩm" đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ
yên/năm (trên 1.1 tỷ USD hay 19.000 tỷ đồng Việt Nam).
 Tổng kết bài học kinh nghiệm trong phát triển nông thôn của các quốc gia
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ
14
các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Kinh nghiệm
của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam. Một số kinh nghiệm
trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột
phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách
nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối
với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ kinh nghiệm trong PTNT ở các nước cho thấy: Dù đây là các quốc gia đi trước
trong vấn đề hiện đại hóa trong tiến trình hiện đại hóa, họ đều tương đối chú trọng vào công
cuộc xây dựng và phát triển nông thôn. Các cách làm này chủ yếu bao gồm: Kịp thời điều
chỉnh mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp;
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hiện đại; Cố gắng nâng cao thu nhập cho nông dân; Nâng
cao trình độ tổ chức cho người nông dân; Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, bồi dưỡng nông dân
theo mô hình mới.
Bất luận tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế nào, các nước có
đa phần dân số làm nghề nông cũng buộc phải chấp nhận một thực tế: Vài chục năm, thậm chí
hàng trăm năm nữa, số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để mưu sinh vẫn là số lớn. Bởi vậy,
PTNT không phải là một quy hoạch kinh tế ngắn hạn, mà là một quốc sách lâu dài.
2.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở nước ta
2.2.2.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước
Mô hình nông thôn mới không phải bây giờ chúng ta mới đặt ra. Có thể nói, phát triển
nông thôn Việt nam đã trải qua nhiều năm luôn gắn liền với giai đoạn phát triển của đất nước.

động: qua Đài truyền thanh xã, các panô, khẩu hiệu, các hội nghị… quy chế dân chủ ở cơ sở
được phát huy tối đa cùng với phương châm “công khai, dân biết, dân bàn, dân làm” nên tư
tưởng, nhận thức của người dân được nâng cao. Từ đó tạo ra sự đồng tình, hưởng ứng và tích
cực tham gia thực hiện các tiêu chí.
Bên cạnh chính sách, cơ chế hỗ trợ của trung ương và tỉnh, các xã triển khai xây dựng
nông thôn mới của Thái Bình đã dồn điền đổi thửa thành công, vận động nhân dân hiến đất
làm đường giao thông nông thôn, đóng góp tiền của, công sức, hiến kế xây dựng nông thôn
mới. Điều đó khẳng định sự đồng thuận cao của nhân dân khi thực hiện mục tiêu xây dựng
nông thôn mới là vì nông nghiệp- nông dân, nông thôn, làm cho kinh tế phát triển, nhân dân là
chủ thể, đời sống nông dân sung túc, bộ mặt nông thôn đổi mới, các giá trị văn hóa truyền
thống được bảo tồn và phát huy.
Với vai trò lãnh đạo, Đảng ủy các xã đã cụ thể hóa các mục tiêu trong tiến trình xây
dựng NTM bằng các nghị quyết chuyên đề, chọn ra các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ mang
tính đột phá, ảnh hưởng đến lợi ích của toàn dân để lãnh đạo thực hiện. Với mỗi tiêu chí, đặc
biệt là các tiêu chí cần huy động nguồn kinh phí lớn, xã luôn xây dựng một định mức cụ thể,
thống nhất và công khai trong toàn xã, trong đó ưu tiên xã hội hóa trong việc kiến thiết các
công trình. Bên cạnh đó, xác định vai trò chủ thể của người dân trong tiến trình xây dựng
NTM, tỉnh Thái Bình luôn chủ động, khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ cấp trên.
Hàng năm, xây dựng quỹ NTM do xã quản lý việc sử dụng, việc khai thác nguồn thu giao cho
các thôn phụ trách, vừa tạo tính chủ động, vừa huy động tối đa nguồn thu. Trong quá trình
triển khai xây dựng, các xã cũng luôn chú trọng việc tuyên truyền, nêu gương các điển hình
tiên tiến có đóng góp với phong trào chung nhờ đó khích lệ, cổ vũ nhân dân hăng hái chung
tay xây dựng. Phát huy tối đa nội lực, tạo sự đồng thuận, tập hợp và huy động được sức dân,
thể hiện được vai trò cộng đồng là chủ thể cùng sự gương mẫu đi đầu của mỗi cán bộ, đảng
viên chính là chìa khóa thành công trong xây dựng NTM mà Thái Bình đã làm được.
• Xây dựng nông thôn mới ở xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Trong sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân xã Gia Phố đã đoàn kết, phấn đấu, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, gắn với tăng
cường quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn ngày càng vững mạnh. Được sự lãnh đạo,
chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ Huyện đã ra Nghị quyết

2.3Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã Đa Tốn nằm ở phần đất phía Nam của huyện Gia Lâm, sau nhiều lần hợp nhất và
chia tách, tới năm 1966 thì được chính thức thành lập với tên là xã Đại Hưng sau này đổi tên
là xã Đa Tốn hiện nay. Xã Đa Tốn phía Bắc giáp Thị trấn Trâu Quỳ và Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội, phía Đông giáp Kiêu Kỵ, phía Tây giáp xã Đông Dư và Bát Tràng, phía Nam
giáp 2 xã Cửu Cao và Phụng Công (thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).(Báo cáo tóm
tắt quy hoạch nông thôn mới xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm giai đoạn 2006- 2010)
b. Đặc điểm địa hình
Đặc điểm nổi bật của địa hình ở Đa Tốn là tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so
với mặt nước biển khoảng 3.0 – 3.5 m. Độ dốc địa hình chính từ Đông Bắc xuống Tây Nam.
Khu vực Đông Bắc có độ cao lớn hơn (bình quân 3.5 – 3.8 m), khu vực Tây Nam cao trung
bình 3.0 – 3.5m; các khu dân cư cao trung bình 4.0 – 5.0 m.
Với đặc điểm địa hình của xã như trên cho phép xây dựng các khu sản xuất hàng hóa
tập trung quy mô thích hợp đối với nhiều loại cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản, trong địa bàn xã không có các sông, hồ tự nhiên lớn. Do đó, việc xây
dựng các công trình là rất thuận lợi.
c. Khí hậu, thủy văn
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khí hậu của xã Đa Tốn cũng chịu ảnh
hưởng bởi nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình của Việt Nam, đó là kiểu khí hậu có 2 mùa
rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 cho tới tháng 10, đặc trưng là nống ẩm, mưa nhiều và mùa đông
lạnh, đầu mùa khô hanh, cuối mùa ẩm ướt do mưa phùn kéo dài (từ tháng 11 tới tháng 4 năm
sau). Sự phân hóa theo mùa rõ rệt mang tính biến động mạnh mẽ và chịu ảnh hưởng của biển.
Sự phân hóa nhiệt độ liên quan đến phương vỹ tuyến và khoảng cách với biển, thể hiện rõ qua
sự ảnh hưởng của gió đất và gió biển. Trên phạm vi toàn toàn vùng đồng bằng sông Hồng,
hướng gió thổi từ đất liền và từ biển thường trùng với hướng gió mùa và hướng các thung
lũng rộng, nên gió biển thổi vào đất liền khá sâu, tạo nên sự đồng nhất tương đối về nhiệt độ
trên toàn vùng. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm vào khoảng 23,6
0

Với đặc điểm đất đai như trên cho phép trên địa bàn xã có thể phát triển nhiều loại cây
trồng (lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, cây ăn quả) và có tiềm năng năng
suất cao phù hợp với sản xuất thâm canh trong sản xuất nông nghiệp.
Xã Đa Tốn tính tới năm 2013 có diện tích đất tự nhiên là 716,05 ha, trong đó đất phi
nông nghiệp là 294,51ha, đất nông nghiệp là 420,12 ha.
Qua bảng 2.1 ta thấy diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2011- 2013 ngày càng thu
hẹp dần. So với năm 2011 thì diện tích đất nông nghiệp năm 2013 giảm 1.88%, nguyên nhân
là do một phần diện tích đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp của vài năm trở lại đây đã bị
thu hồi, giải phóng mặt bằng giao cho ban quản lý đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và
đường Hà Nội – Hưng Yên 35ha, thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang đất giãn dân, tái định
cư 3,77ha.
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Diện
tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện
tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện
tích
(ha)
Tổng diện tích tự nhiên 716,05 100,00 716,05 100,00 716,05
I. Đất nông nghiệp 436,36 60,94 427,03 59,64 420,12
1. Đất trồng lúa 268,10 245,07 223,86
2. Đất trồng hoa màu 31,19 27,90 20,19
3. Cây ăn quả 129,45 146,50 168,45

/học sinh. Diện tích xây dựng: 3.126 m
2
. Tổng
số 873 em.
• Trường trung học cơ sở có 2 dãy nhà tầng được kiên cố hóa. Diện tích khuôn viên: 22.039 m
2
bình quân 31,8 m
2
/học sinh. Diện tích xây dựng: 1.350 m
2
.
b) Hạ tầng ngành văn hóa – thể thao
Xã Đa Tốn hiện chưa có nhà văn hóa, các hoạt động vẫn diễn ra trong hội trường trung
tâm xã.
Sân thể thao của xã có diện tích 19.958,8 m
2
. Hiện trạng sân đất chưa được đầu tư cơ
sở vật chất để tổ chức các hoạt động thể thao phổ biến hiện nay.
Nhà văn hóa thôn: Hiện nay các thôn Đào Xuyên, Thuận Tốn, Khoan Tế, Ngọc Động đều
có nhà văn hóa thôn khuôn viên 500 m
2
, diện tích xây dựng 80 – 120 m
2
; riêng thôn Lê Xá nhà
văn hóa có khuôn viên 236 m
2
, diện tích xây dựng 70 m
2
.
Khu thể thao các thôn hiện trạng ngoài thôn Thuận Tốn có sân thể thao riêng còn các

. Tuyến đường trục thôn thiếu khoảng 730 m rãnh thoát nước, tuyến đường ngõ xóm hiện
tại có đến 38,24% số tuyến không có rãnh thoát nước.
f) Hệ thống thủy lợi
Diện tích cần tưới trên địa bàn xã hiện tại trên 403 ha.
Có 5 trạm bơm với tổng công suất 72.500 m
3
/h, trong đó 4 trạm bơm công suất 14.500
m3/h hiện đang hoạt động tốt. Riêng trạm bơm Lê Xá đã xuống cấp và ở vị trí không thuận
lợi.
Hệ thống kênh mương tổng số 48 tuyến, dài 25.780 m. Trong đó có 8.490 m kênh đã
được cứng hóa, chủ yếu là tuyến kênh chính đầu mối. Toàn bộ số kênh mương cấp 3 do xã quản
20
lý hiện hay chưa được cứng hóa có tổng chiều dài 17.290 m.
g) Hệ thống điện nông thôn
Toàn xã hiện tại có 10 trạm biến áp công suất 3.150 kVA.
Đường dây trung thế tổng chiều dài 5 km.
Đường dây hạ thế chính có tổng chiều dài 31.98 km, trong đó loại dây sử dụng chủ
yếu là AV35, AV50, AV70, AV95. Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100%.
h) Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Nguồn nước sử dụng vẫn là nước giếng đào và nước giếng khoan có bể lọc, toàn xã có
2.674 giếng có bể lọc. 90% số hộ gia đình dùng thêm nguồn nước mưa cho ăn uống và sinh
hoạt. Dung tích bề chứa nước mưa từ 2 – 3 m
3
. Số hộ dùng nước hợp vệ sinh chiếm 95%.
i) Chợ, trung tâm thương mại, dịch vụ
Hiện xã có 1 điểm chợ truyền thống là chợ Bún, diện tích 4.477,5 m
2
, hiện chợ có 48
ki-ốt. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu yếu trong chợ đã xuống cấp và còn thiếu một số
công trình phụ trợ như: Chưa có chỗ tập kết rác thải, công trình vệ sinh, bãi để xe…

1,31%, tỷ lệ lao đông phi nông nghiệp trên hộ tăng lên 0,95. Chứng tỏ cơ cầu lao động của xã
đang dần có xu hướng tăng về số lượng lao động phi nông nghiệp và giảm dần số lương lao
động nông nghiệp.
Tốc độ tăng bình quân tổng số hộ toàn xã là 110,42% tốc độ tăng các hộ sản xuất
nông nghiệp bình quân là 109,42%. Hộ sản xuất cây ăn quả năm 2012 chiếm 28,86% tổng số
hộ trong toàn xã và chiếm 36,90% số hộ sản xuất nông nghiệp. Như vậy hằng năm số hộ sản
xuất có nông nghiệp tăng nhưng mức tăng nhỏ hơn mức tăng số hộ trong xã.
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động xã Đa Tốn qua 3 năm (2011 - 2013)
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
21
Số
lượng
Cơ cấu
(%)
Số
lượng
Cơ cấu
(%)
Số
lượng
Cơ cấu
(%)
I. Tổng số hộ 2.763 100 3.014 100 3.368 100
1. Hộ nông nghiệp 2.192 79,33 2.387 79,20 2.634 78,21
1.1 Hộ trồng cây ăn quả 916 948 972
1.2 Hộ sản xuất loại hình khác 1.276 1.439 1.662
2. Hộ phi nông nghiệp 571 20,67 627 20,80 734 21,79
II. Tổng nhân khẩu 12.047 112.321 12.733
III. Tổng số lao động 6.846 100 7.169 100,00 7.587 100
1. Lao động nông nghiệp 4.281 62,53 4.313 60,16 4.398 57,96

triệu đồng/người so với năm 2005.
• Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế
- Về sản xuất nông nghiệp:
Với tổng diện tích gieo trồng năm 2013 (2 vụ) là 843 ha, trong đó các loại cây trồng
chính như: cây lúa với diện tích 623ha, gieo xạ 287 ha, năng suất bình quân 2 cụ như sau: lúa
xuân 62,57 tạ/ha giảm 3,63 tạ/ha so với vụ xuân năm 2012; lúa mùa 51,06 tạ/ha giảm 6.2 tạ/ha
so với vụ mùa năm 2012, diện tích trồng ngô thương phẩm là 15 ha, đậu tương 5 ha năng suất
20 tạ/ha, lạc xuân 1 ha năng suất 15 tạ/ha, rau màu và các loại cây trông khác 40 ha, vườn tập
trung, chuyển đổi trồng cây ăn quả tổng diện tích là 81 ha.
Năng suất lúa một vài năm gần đây khá thấp do diện tích lúa bị chuột phá hoại nặng và
ảnh hưởng của thời tiết, sâu bệnh nên nhiều hộ dân đã chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn
quả đặc sản như ổi Đông Dư, rau sạch…
- Về chăn nuôi:
Hiện nay trên địa bàn xã có 27.640 con gia súc gia cầm; đàn trâu bò có 69 con, đàn
lợn có 1555 con, lợn thịt có 1490 con, đàn gia cầm có 29.600 con, đàn chó có 1.450 con. Năm
2013 UBND xã đã chỉ đạo Ban Thú y thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác phòng chống
dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn nên hoạt động chăn nuôi của các hộ dân vẫn
được duy trì và phát triển, không có dịch bệnh xảy ra. Tổ chức tiêm phòng vac – xin cúm gia
cầm đạt 95%, lở mồm long móng 90%, tiêm phòng vac - xin dịch tả ở lợn đạt 98%, vac - xin
tụ huyết trùng trâu, bò đạt 85%, tiêm vac – xin phòng bệnh dại ở chó mèo đạt 95%.
- Dịch vụ thương mại và tiểu thủ công nghiệp:
Trong thời gian qua trên địa bàn xã có tốc độ phát triển thương mại và tiểu thủ công
nghiệp nhanh, hoạt động thương mại, dịch vụ đã được người dân chú trọng, hiện nay trên toàn
xã đã có trên 450 hộ buôn bán hàng tạp hóa, lương thực thực phẩm, may da, may khâu, làm
nghề xay sát, chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, một số hộ gia đình có phương tiện oto làm
dịch vụ du lịch, vận tải…
Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp tổ chức tốt nghiệm vụ cung cấp một số khâu dịch vụ đảm
23
bảo phục vụ xã viên sản xuất, kinh doanh.
Hội Nông dân, hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên tiếp vốn ngân hàng

sản xuất hàng sắt, sản xuất nhôm kính và nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác. Đây là tiền đề
quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kì đẩy mạnh
CNH – HĐH nhất là khi 2 tuyến giao thông huyết mạch chạy qua Đa Tốn được đưa vào sử
dụng và khai thác sẽ tạo nhiều thuận lợi hơn cho xã.
Đa Tốn là xã có tiềm năng lớn về phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch do có điều
kiện thuận lợi về giao thông. Mặt khác, trên địa bàn xã có nhiều di tích lịch sử văn hóa được
xếp hạng, có tiềm năng cho việc phát triển du lịch tâm linh. Ngoài ra, điều kiện tự nhiên của
xã rất có tiềm năng cho việc phát triển du lịch sinh thái như: ẩm thực, nghỉ dưỡng, giải trí…
Bên cạnh đó, Đa Tốn có hệ thống chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ địa phương
đoàn kết, nhiệt tình, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế và quản lý xã hội tốt. Đây là
yếu tố cơ bản nhưng rất cần thiết cho việc tổ chức, chỉ đạo và huy động nhân dân tham gia
vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là Chương trình mục tiêu Quốc gia về
xây dựng NTM của xã.
2.3.3.2 Khó khăn
Đa Tốn là xã có diện tích đất nhỏ nhưng dân số lại cao, bình quân diện tích ruộng đất
trên đầu người thấp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, bên cạnh đó, trong
24
thời gian gần đây, dịch chuột hoành hành phá hoại mùa màng khiến rất nhiều hộ dân phải bỏ
ruộng và chuyển sang các phương thức sản xuất khác. Vì thế, đất nông nghiệp của xã có xu
hướng giảm nhanh trong thời gian vừa qua và cả thời gian tới, điều đó tác động rất lớn đến
sinh kế của một bộ phận không nhỏ người dân trong xã.
Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp còn quá cao trong khi đất đai dành cho sản xuất
nông nghiệp lại đang biến động theo xu hướng giảm nhanh. Lao động trẻ có xu hướng thoát ly
nông nghiệp ngày càng nhiều gây nên tình trạng “già hóa và nữ hóa” lao động nông nghiệp của
xã. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động chưa cao đa số là chưa qua đào tạo là yếu tổ cản
trở đáng kể đến việc chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ mới
trong sản xuất nông nghiệp.
Tình hình kinh tế của xã Đa Tốn trong những năm qua đạt tốc độ tăng trưởng cao
nhưng vẫn còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch nên chưa thực sự bền vững.
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của xã đang được đầu tư xây dựng và hoàn thiện dần

Sau 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, xã Đa Tốn đã hoàn thành đạt
19/19 tiêu chí xây dựng NTM. Trong báo cáo “Kết quả thực hiện các chỉ tiêu xây dựng NTM
của xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2013”, BCĐ Chương trình xây dựng NTM
của xã đã báo cáo các kết quả triển khai, tổ chức và thực hiện Chương trình, trong đó đề cập
đến kết quả thực hiện cụ thể 19 tiêu chí xây dựng NTM. Qua đó, BCĐ nhận định: “Qua 3
năm thực hiện hoàn thành đề án xây dựng mô hình NTM, diện mạo nông thôn xã Đa Tốn đã
có nhiều thay đổi, nhân dân phấn khởi và tin tưởng vảo sự lãnh đạo của Đảng và Chính
quyền địa phương. Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, nâng cấp, sản xuất nông nghiệp đã có
25

Trích đoạn An ninh, trật tự xã hội được giữ Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ mô hình nông thôn mới tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nộ PHẦN III KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status