MỤC LỤC
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
I.GIỚI THIỆU CHUNG
Trong cuộc sống chúng ta nguồn tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò vô cùng
quan trọng, chúng là thành phần không thể thiếu cho cuộc sống con người cũng
như sinh vật,trong đó phải kể đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên vô
hạn(gió,mặt trời,thủy triều….) chúng là những nhân tố trường tồn và vĩnh cửu
chính vì điều đó mà con người xưa và ngày nay đang khai thác và ứng dụng
nhiều hơn về các lợi ích của nó mang lại.
1.Định nghĩa
Tài nguyên vô hạn là các loại tài nguyên có thể tự tái tạo liên tục, không phụ
thuộc vào sự tác động của con người, ví dụ như sự tuần hoàn tự nhiên của nước,
không khí. Hay khi tài nguyên này được khai thác, thì quá trình tự nhiên sẽ luôn
tự tái tạo lại một cách vô tận. Con người có thể lợi dụng sức đẩy của gió làm cối
xay, sức
nước làm thủy điện…
2.Ý nghĩa chung về các nguồn tài nguyên thiên nhiên vô hạn
Nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô
hạn nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự sống của con người và vi
sinh vật cũng như cho hoạt động sản xuất và phát triển lâu dài
3.Thực trạng khai thác chung nguồn tài nguyên thiên nhiên vô hạn hiện nay
Trên thế giới trong đó có việt nam đang sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên vô hạn việc khai thác được đẩy mạnh và tăng nhanh bên cạnh khai
thác đem lại lợi nhuận phục vụ cho cuộc sống thì mặt trái của việc lạm dụng và
khi thác không phù hợp đang vã sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống
của nhân loại cũng như môi trường và đặc biệt nghiêm trọng hơn là nguồn tài
nguyên ấy đang yếu đi.
Nhóm SVTH Trang 2
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
II. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÔ HẠN.
Bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt Trái đất không đồng đều làm cho bầu
khí quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của Trái
Đất, về ban đêm bị che khuất không nhận được bức xạ của Mặt Trời và thêm
vào đó là bức xạ Mặt Trời ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn là ở các cực, do
đó có sự khác nhau về nhiệt độ và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí
giữa xích đạo và 2 cực cũng như không khí giữa ban ngày và ban đêm của Trái
Đất chuyển động tạo thành gió. Trái Đất xoay tròn cũng góp phần vào việc làm
xoáy không khí và vì trục quay của Trái Đất nghiêng đi (so với mặt phẳng do
quỹ đạo Trái Đất tạo thành khi quay quanh Mặt Trời) nên cũng tạo thành các
dòng không khí theo mùa.
Do bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng Coriolis được tạo thành từ sự quay quanh trục
của Trái Đất nên không khí đi từ vùng áp cao đến vùng áp thấp không chuyển
động thắng mà tạo thành các cơn gió xoáy có chiều xoáy khác nhau giữa Bắc
bán cầu và Nam bán cầu. Nếu nhìn từ vũ trụ thì trên Bắc bán cầu không khí di
chuyển vào một vùng áp thấp ngược với chiều kim đồng hồ và ra khỏi một vùng
áp cao theo chiều kim đồng hồ. Trên Nam bán cầu thì chiều hướng ngược lại.
Ngoài các yếu tố có tính toàn cầu trên gió cũng bị ảnh hưởng bởi địa hình tại
từng địa phương. Do nước và đất có nhiệt dung khác nhau nên ban ngày đất
nóng lên nhanh hơn nước, tạo nên khác biệt về áp suất và vì thế có gió thổi từ
biển hay hồ vào đất liền. Vào ban đêm đất liền nguội đi nhanh hơn nước và hiệu
ứng này xảy ra theo chiều ngược lại.
1.3.Đặc trưng của năng lượng
a) Đặc điểm phân bố của năng lượng gió trên lãnh thổ.
Tốc độ gió phân bố theo quy luật càng lên cao gió thổi càng mạnh. Ở các
vùng núi thì tại sườn đón gió, gió có tốc độ mạnh; ngược lại phía sườn khuất
gió yếu. Trong các thung lũng hẹp và lòng chảo trũng gió rất yếu. Tuy nhiên
Nhóm SVTH Trang 4
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
các thung lũng sông có hướng song song với hướng gió thịnh hành lại là nơi
hút gió. Trên các đèo vắt qua các khối núi lớn thường là con đường thuận lợi
+ Duyên hải từ Hải Phòng đến Diễn Châu (Nghệ An) và đồng bằng kế tiếp.
Ngoài ra, tại các vùng khác trên lãnh thổ tiềm năng năng lượng của hai
mùa gió gần tương đương với nhau.
Tỷ lệ giữa tiềm năng hai mùa không thay đổi theo độ cao.
c) Ưu nhược điểm của năng lượng gió:
* Ưu điểm:
- Năng lượng gió không thải khí, hóa chất độc hại ra môi trường.
- Ổn định giá năng lượng: đóng góp và đa dạng hóa năng lượng.
- Giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu và hạn chế sự phụ thuộc vào
nguồn cung cấp nguyên liệu từ nước ngoài.
- Nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm, và tốc
độ tăng của mấy năm trở lại đây còn cao hơn mức trung bình.
- Không phát thải hiệu ứng gây nóng lên toàn cầu.
* Nhược điểm:
- Gây ra tiêng ồn, làm ảnh hường đến sinh hoạt của người dân xung quanh
- Làm nhiẽu sóng vô tuyến
- Mất cân bằng sinh thái
- Công suất điện gió trạm phong điện cung câp phụ thuộc theo mùa, thời tiết
và địa hình
1.4 Tiềm năng và trữ lượng năng lượng gió
1.4.1.Tiềm năng và trữ lượng năng lượng gió trên thế giới
Trên phạm vi toàn cầu, năng lượng gió là nguồn năng lượng phát triển nhanh
nhất với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm xấp xỉ 29% trong vòng mười
năm vừa qua. Đến năm 2008, công suất lắp đặt điện gió toàn cầu đã vượt quá
121 GW, tức là hơn 15 lần công suất điện gió mười năm trước đây, khi đó công
suất điện gió toàn cầu chỉ cỡ 7.6 GW. Với công suất này hàng năm sẽ sản xuất
được 260 tỷ kWh và cắt giảm được 158 triệu tấn CO2. Năng lượng gió đã phát
Nhóm SVTH Trang 6
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
triển nhanh chóng thành một ngành công nghiệp hoàn thiện và bùng nổ toàn cầu.
nguồn năng lượng từ sức gió. Theo ước tinh Đức sẽ khai thác được nguồn năng
lượng gió đạt 14.609 MW và sẽ chiếm 40% năng lượng gió trên thế giới.
Tiếp theo là Mỹ, dự tính là sẽ sản xuất thêm 1.687 MW nâng tổng số lên
6.374 MW, tiếp theo là Tây Ban Nha sẽ tăng thêm 1.377 MW để đạt được tổng
số là 6.202 MW, Đan Mạch tăng thêm 1.377 đạt tới tổng số là 3.110 MW. Ấn
Độ nằm ở vị trí thứ 5 với tổng số năng lượng từ gió là 2.110 MW.
1.4.2. Tiềm năng và trữ lượng năng lượng gió tại Việt Nam
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và bờ biển dài hơn 3200km, hơn nữa
còn có cả gió mùa tây nam thổi vào mùa hè, tốc độ gió trung bình ở biển Đông
Việt Nam khá mạnh. Vì vậy nhờ vào vị trí địa lý mà tiềm năng về NL gió ở
Việt Nam là rất triển vọng Theo đánh giá Việt Nam có tiềm năng lớn nhất khu
vưc Đông nam á về năng lượng gió.
Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn
200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo
của nghành điện năm 2020. Khu vực này chủ yếu dựa vào hướng gió tây nam
Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Việt Nam có tới
8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ “tốt” đến ’”rất tốt” để xây
dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là
2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%.Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn
có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng
giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9%.
Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên
toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau.
Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với mùa gió đông
Nhóm SVTH Trang 9
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và
Quảng Trị. Ở phần phía Nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió
Tây Nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh
ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là hai vùng giàu tiềm năng nhất
nguồn cung cấp nguyên liệu từ nước ngoài.
- Nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm, và tốc
độ tăng của mấy năm trở lại đây còn cao hơn mức trung bình.
- Không phát thải hiệu ứng gây nóng lên toàn cầu.
1.5.3. Công nghệ sản xuất điện gió
a) Về mặt công nghệ
Trong nhiều trường hợp, việc xây dựng trạm điện gió ở những nơi có tốc độ
gió trung bình lớn cho phép thay thế hoàn toàn điện lưới và thời gian hoàn vốn
chỉ khoảng 5-10 năm. Tuy nhiên, ở những nơi có tốc độ gió trung bình thấp chỉ
ở mức 14 ki lô mét/giờ (mức thấp nhất được khuyến nghị cho việc xây dựng các
trạm điện gió), thời gian hoàn vốn có thể kéo dài tới 20 năm.
Những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực điện gió trong những
năm gần đây là rất đáng kể, đã góp phần nâng cao tính cạnh tranh của các trạm
điện gió. Các loại vật liệu mới như sợi thủy tinh, sợi cacbon, composite, cao su
được áp dụng để chế tạo ra các tua bin gió có chiều dài cánh tới 60 mét, nhưng
chỉ nặng 20 tấn, có thể quay tới 500 triệu vòng trong thời gian được bảo hành 20
năm.
b) Về mặt kỹ thuật
Những tiến bộ về kỹ thuật hiện nay đã cho phép xây dựng các trạm điện gió
công suất lớn (tới 3MW). Xu thế chung về phát triển điện gió trên thế giới là xây
dựng nhiều trạm điện gió gần nhau thành một tổ hợp. Ở những vị trí thuận lợi
nhất, theo tính toán, trong phạm vi 1 ki lô mét vuông với sự bố trí tối ưu có thể
xây dựng nhiều trạm điện gió và có thể đạt được sản lượng điện 20 Mwh/ năm
(tương đương 55 kwh/ m
2
/năm)
Nhóm SVTH Trang 11
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
Theo công bố kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Đại học Tổng
hợp Stanford được công bố trong tạp chí Khí tượng và Khí hậu số ra tháng 11-
không Žien tục, nếu xây dựng các đường tải điện riêng phải tính cho công suất
tối đa đơn chiếc của từng trạm điện gió (ví dụ 1,5 MW). Trong trường hợp này
việc xây dựng một đường phân phối điện riêng sẽ không tối ưu vì phải tính cho
công suất 1,5 MW nhưng trên thực tế lượng điện truyền dẫn tối đa lại không
thường xuyên. Phương án tối ưu là đấu nối các trạm điện gió vào một hệ thống
dây dẫn điện chung. Như vậy, việc hợp nhất các trạm điện gió cho phép chúng ta
có được nguồn điện vừa ổn định, vừa đủ lớn và vừa rẻ tiền. Chính vì vậy,
chương trình phát triển năng lượng gió phải xây dựng được nhiều cụm điện với
nhiều trạm điện gần nhau.
1.5.4. Tuabin gió
Năng lượng gió từ lâu đã được biết đến và sử dụng, ban đầu sử dụng các cối
xay gió Žung để xay lúa và kéo guồng nước, Žung để di chuyển thuyền buồm
hay khinh khí cầu. Với sự ra đời của các Tuabin gió đã đánh dấu một bước phát
triển lớn về công nghệ sử dụng năng lượng gió trong việc tạo ra nguồn điện
năng.
Tuabin gió là thiết bị Žung để biến đổi điện năng động năng của gió thành
năng lượng gồm có Tuabin gió trục ngang và Tuabin gió trục đứng.
Tuabin gió biến đổi năng lượng động lực của gió thành lực cơ học để chạy
máy phát sản xuất ra điện sạch. Các Tuabin ngày nay là các nguồn tạo điện đa
năng theo dạng môđun. Cánh của Tuabin được thiết kế dạng khí động học để
nhận được năng lượng gió cực đại. Gió làm quay các cánh Tuabin, trục quay gắn
với máy phát tạo ra điện
Các Tuabin gió hoạt động dựa trên một nguyên lý rất đơn giản. Năng lượng
của gió làm cho 2 hoặc 3 cánh quạt quay quanh 1 roto. Mà roto được nối với
trục chính và trục chính sẽ truyền động làm quay trục quay máy phát để tạo ra
điện. Các Tuabin gió được đặt trên trụ cao để thu hầu hết năng lượng gió. Ở độ
cao 30m trên mặt đất thì các Tuabin gió thuận lợi: Tốc độ nhanh hơn và ít bị ảnh
hưởng của các luồng gió bất thường. Các Tuabin gió có thể sử dụng để cung cấp
Nhóm SVTH Trang 13
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
đến máy phát. Cũng vì lý do phụ thuộc trên năng lượng gió tuy ngày càng hữu
dụng nhưng không thể dạng năng lượng chủ lực.
Một số điểm cần lưu ý nữa là các trạm điện gió sẽ gây tiếng ồn trong khi vận
hành cũng như phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của
các sóng vô tuyến. Do đó khi xây dựng các trạm điện gió cần tính toán khoảng
cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu
cực.
1.6.Sử dụng và quy hoạch gió tại Việt Nam
1.6.1. Tình hình sử dụng và phát triển năng lượng gió tại Việt Nam hiện nay
Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một
thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. Trong chương trình đánh giá về
năng lượng cho châu Á, Ngân hàng thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng
lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Theo tính toán của
nghiên cứu này, trong 4 nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn
nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái lan, Lào, Campuchia. Trong khi
Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ “tốt” đến
“rất tốt” để xây dựng các trạm điện gió cở lớn thì diện tích này ở Campuchia là
0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái Lan cũng chỉ là 0,2%.
Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360MW tức là bằng hơn
200 lần công suất của thuỷ điện Sơn la và hơn 10 lần tổng công suất dự báo
ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành
tiềm năng có thể khai thác, để tiềm năng kỹ thuật và cuối cùng thành tiềm năng
kinh tế là cả một câu chuyện dài. Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện
gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt
Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so
sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và
Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triểnna8ng lượng gió. Đây là quả
thật là ưu đãi dành cho Việt nam mà chúng ta còn thờ ơ chưa nghĩa đến cách tận
dụng.
Nhóm SVTH Trang 15
Nhóm SVTH Trang 16
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
• Trong tháng 12/2006, Viện cơ học đã lắp một trạm phát điện năng lượng
gió và mặt trời tại Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam có công suất thiết
kế là 1,5 Kw lắp đặt ở độ cao 10 – 15m. Theo khảo sát của Viện cơ học
vận tốc gió ở Cù Lao Chàm trung bình là 9 – 10m/s rất thuận lợi cho hoạt
động của Tuabin gió. Theo ước tính ban đầu, người dân sẽ chỉ phải trả
2000 – 2500 đ/Kwh và có thể thấp hơn nếu có sự hỗ trợ của Nhà Nước.
• Dự án điện gió với công suất 50MW ở nhà máy điện Phương Mai (Bình
Định) phục vụ cho Khu kinh tế Nhơn Hội. Tổng vốn đầu tu giai đoạn 1 là
65 triệu USD và giá bán điện dự kiến là 45USD/Mwh.
• Dự án phong điện của công ty GRETA ENERGY (Canada) với vốn đầu
tư 1200 tỷ đồng đang chuẩn bị khởi công ở xã Công Hải – huyện Thuận
Bắc. Dọc quốc lộ 1A các trạm Tuabin sẽ bám theo dãy Ba Hồ, phía tây
ngọn núi Chúa và băng qua cánh đông Nhím để đón những luồng gió từ
Cam Ranh (Khánh Hòa) vào.
• Tập đoàn AEROGIE.PLUS của Thụy Sĩ vừa có giấy phép của tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu để xúc tiến triển khai dự án xây dựng nhà máy điện giótaij
mũi Chim Chim của Côn Đảo có công suất thiết kế 7,5 Mw với vốn đầu
tư khoảng 19 triệu USD giai đoạn đầu dự kiến đi vào hoạt động vào cuối
năm 2010 và tính sẽ tiếp tục xây thêm nhà máy 7MW tại mũi Cá Mập khi
có điều kiện. (Theo báo Sài Gòn Tiếp thị số 144 ngày 10/12/2008).
• Công ty KV VENTI của Czech cho biết, từ giữa năm 2009 họ tham gia
xây dựng 12 dự án nhà máy điện gió ở Việt Nam. Hiện tất cả 12 dự án nói
trên đã được cấp phép đầu tư, trong đó 60% là đầu tư trong nước, tổng sản
lượng điện của các dự án khoảng 1.000 MW. Qua khảo sát, Công ty nhận
thấy Việt Nam có tổng trữ lượng năng lượng gió rất lớn, gấp 15 lần so với
Czech. Theo khảo sát đánh giá của Ngân hàng thế giới về năng lượng gió
khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có tiềm năng lớn nhất khu vực với tổng
công suất điện gió ước đạt hơn 53.000 MW, gấp 200 lần so với một nhà
đảo; cung cấp 100 bộ đèn năng lượng mặt trời xách tay; tập huấn lắp đặt,
vận hành và khắc phục sự cố cho các chiến sĩ Vùng 4 hải quân.
Nhóm SVTH Trang 18
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
1.7. Những lợi ích về môi trường và xã hội của năng lượng gió
Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh
hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần phải
nghiên cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài ra, việc di dân
cũng như việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ đặt gánh nặng lên vai
những người dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và đây cũng là bài toán khó
đối với các nhà hoạch định chính sách. Hơn nữa, các khu vực để có thể quy
hoạch các đập nước tại Việt Nam cũng không còn nhiều.
Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây ảnh hưởng lâu dài
đến cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các bài học về rò rỉ hạt nhân
cộng thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ thuật quá lớn khiến càng ngày càng
có nhiều sự ngần ngại khi sử dụng loại năng lượng này.
Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn là những thủ phạm gây
ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe người dân. Hơn
thế nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có xu thế ngày một tăng cao. Khi
tính đầy đủ cả các chi phí ngoài là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi
phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở
nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt
điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử
dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu
hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức
khỏe do ô nhiễm. Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng
lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng
gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn
hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.
Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để
gió, chúng ta cần phải lưu ý một số đặc điểm riêng để có thể phát triển nó một
cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc
vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức
nghiêm túc chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối vốn
Nhóm SVTH Trang 20
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
ảnh hưởng không tốt đến máy phát. Cũng vì lý do phụ thuộc trên, năng lượng
gió tuy ngày càng hữu dụng nhưng không thể là loại năng lượng chủ lực. Tuy
nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội
cho chúng ta phát triển năng lượng ở các khu vực như Tây Nguyên vốn có lợi
thế ở cả hai loại hình này. Một điểm cần lưu ý nữa là các trạm điện gió sẽ gây ô
nhiễm tiếng ồn trong khi vận hành cũng như phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có
thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến. Do đó, khi xây dựng các khu
điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để
không gây những tác động tiêu cực.
Một điểm cần lưu ý nữa đó chính là tiềm năng năng lượng gió ngoài khơi
Việt Nam. Hiện nay ở các nơi trên thế giới, nhiều dự án được đề ra với mục đích
nâng cao sự đóng góp của năng lượng tái tạo. Ở Châu Âu, nhiều quốc gia nêu
mục tiêu 20% năng lượng tái tạo năm 2020. Phần lớn những trại điện gió đều ở
trên đất liền. Những năm gần đây, các trại điện ngoài biển được xây dựng. Để
thực sự khai thác tiềm năng điện gió, phải ra biển.
- Ngoài khơi, vận tốc gió lên gấp rưỡi trên đất liền. Thế có nghĩa với vận tốc
gió đó, năng lượng điện gió sẽ tăng gấp hơn 3 lần. Nếu tính theo giá trị kinh tế,
năng lượng gió biển trị giá hơn 2.000 tỉ dollar Mỹ.
- Mặt bằng ngoài biển nhiều hơn, và cho đến nay, giá trị kinh tế ít hơn.
- Trại điện gió ngoài biển sẽ gần khu tiêu thụ điện (các thành phố lớn, khu
công nghiệp, khu chế xuất…) như thế sẽ giảm chi phí và mất mát việc chuyển
điện.
1.9. Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng năng lượng gió
* Thuận lợi:
khi chim chóc bị chết do bị dính vào roto.
1.10. Những vấn đề cần quan tâm khi sử dụng năng lượng gió
• Tính toán chi phí cho năng lượng gió:
Nhóm SVTH Trang 22
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
Cần tính toán chi phí cho mỗi đơn vị điện năng phát ra, dựa vào vốn đầu tư
ban đầu, nhu cầu hàng năm, chi phí khấu hao, chi phí vận hành bảo trì của trạm
gió.
• Điều kiện gió: Tiêu chuẩn quan trọng nhất biểu thị điều kiện gió chính là
vận tốc gió trung bình.
• Khoảng cách tới các công trình dân cư: Tác động tới tầm nhìn, ảnh hưởng
về tiếng ồn, hiệu ứng “bóng râm chuyển động”.
• Độ nhấp nhô và dịch chuyển của gió: Độ nhấp nhô của bề mặt đất càng
lớn thì gió càng bị cản lại mạnh.
• Sự chuyển động không đều của không khí
• Chỗ khuất gió
• Phân bố năng lượng gió trên lãnh thổ Việt Nam:
Ở các độ cao khác nhau thì tốc độ gió cũng khác nhau, càng lên cao thì tốc
độ gió càng lớn phụ thuộc vào độ gồ ghề của mặt đệm. Độ gồ ghề của mặt đệm
càng lớn hay địa điểm càng bị che chắn nhiều thì độ tăng của năng lượng gió
theo độ cao càng lớn. Căn cứ trên số liệu tính toán cho 150 trạm trong mạng lưới
khí tượng toàn quốc có thể xác định các loại hình chủ yếu phụ thuộc vào tính
chất địa hình và vị trí địa lý như sau:
- Loại hình 1: Các nơi thấp trong vùng núi có độ chia cắt lớn
- Loại hình 2: Trung du và các vị trí tương đối thoáng trong các vùng núi
- Loại hình 3: Đồng bằng
- Loại hình 4: Cao nguyên và các vị trí cao ít bị che chắn trong các vùng núi
- Loại hình 5: Duyên hải
- Loại hình 6: Hải đảo
1.11.Kết luận
từ mặt trời.
Đây là một dạng năng lượng mà mặt trời cung cấp cho chúng ta từ ngàn
xưa. Nhờ ánh sáng của mặt trời mà chúng ta có thể nhìn thấy vạn vật cũng như
Nhóm SVTH Trang 24
Báo cáo thực tập cơ sở GVHD: ThS Lê Thị Bích Ngọc
nhờ sức nóng mà con người bao đời qua có thể phơi khô quần áo, phơi lúa, trồng
cây….Cho đến gần đây, sức nóng mặt trời được chú trọng trong việc ứng dụng
vào việc chuyển hóa sang nhiệt năng, điện năng phục vụ nhu cầu của cuộc sống.
Sức nóng của ánh nắng mặt trời được tập trung lại bằng những thiết bị đặc biệt
để đun nóng nước sử dụng trong gia đình hay tạo ra hơi nước để sản xuất điện
cho tiêu dùng
2.2.Tiềm năng và tình hình sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới và tại
Việt Nam
2.2.1.Tiềm năng và tình hình sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới
NLMT chiếu trên mặt đất ở những nơi khác nhau là không giống nhau, trung
bình khoảng 100 W/m
2
, cao nhất khoảng 1000 W/m
2
. Trong thực tế trữ lượng
NLMT có thể sử dụng là khoảng 170 TOE/năm, ở quy mô toàn cầu thì năng
lượng này không lớn lắm, nhưng nó lại có ý nghĩa đối với các quốc gia mạng
lưới phân phối điện năng vẫn còn thưa thớt như: Ấn Độ, Trung Quốc hoặc Châu
Phi.
Khả năng ứng dụng NLMT thay đổi theo từng vùng miền, điều kiện thời
tiết. Nếu tính trung bình cho toàn bộ diện tích trái đất, trong vòng 24 giờ, một
ngày, trung bình 1m
2
nhận được 4,2 kWh. Ở sa mạc, không khí rất khô và có ít
mây che phủ,nguồn NLMT là nhiều nhất, hơn 6,0 kWh/ngày/m