đề tài nghiên cứu khoa học chiết xuất dầu sinh học từ vi tảo - Pdf 24

GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn Văn Thông – GV.
Phạm Thị Hữu Hạnh người đã trực tiếp hướng dẫn em hết sức tận tình, chu đáo về
mặt chuyên môn, động viên về mặt tinh thần để em hoàn thành bản đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Bà
Rịa Vũng Tàu đã tận tình dạy bảo em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại
trường.
Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn
động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng
Tàu cũng như trong thời gian thực hiện đề tài này.
Vũng Tàu, Ngày tháng năm 2012
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 9
1.1. Nhiên liệu diesel 9
1.1.1. Khái quát về nhiên liệu diesel 11
1.1.2. Nhiên liệu diesel khoáng và vấn đề ô nhiễm 11
1.2. Nhiên liệu biodiesel 11
1.2.1. Khái niệm biodiesel 11
1.2.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng Biodiesel 12
1.2.3. Quá trình tổng hợp biodiesel 14
1.2.3.1. Phân loại các phương pháp tổng hợp biodiesel 14

b. Cách thực hiện 31
2.3.3. Dung môi Diethyl ester 31
a. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị 31
b. Cách thực hiện 31
2.4. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly 32
2.4.1. Độ ẩm ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly 32
2.4.1.1. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị 32
a. Dụng cụ và thiết bị 32
b. Hóa chất 32
2.4.1.2. Cách thực hiện 32
2.4.2. Thời gian ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly 33
2.4.2.1. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị 33
a. Dụng cụ và thiết bị 33
b. Hóa chất 33
2.4.2.2. Cách thực hiện 33
2.4.3. Khối lượng tảo khô, tỉ lệ dung môi/tảo ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly 34
2.4.3.1. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị 34
a. Dụng cụ và thiết bị 34
b. Hóa chất 35
2.4.3.2. Cách thực hiện 35
2.4.4. Tổng hợp Biodiesel 36
2.4.4.1. Xác định chỉ số acid (AV) 36
a. Thực hiện giai đoạn 1 36
b. Thực hiện gian đoạn 2 37
2.4.4.2. Tính khối lượng trung bình của tảo, % acid béo tự do 40
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
2.4.5. Thực hiện chuyển hóa Biodiesel 40
2.4.5.1. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị 40
a. Dụng cụ và thiết bị 40

GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
3.7.2. Cấu trúc sản phẩm 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Số hình
vẽ
Tên hình vẽ Trang
1 2.1 Thiết bị trích ly soxhlet. 28
2 2.2 Hỗn hợp của dầu tảo và dung môi hexane. 30
3 2.3 Hệ thống chưng cất tách dung môi. 31
4 2.4 Mẫu dầu sau khi chưng cất đuổi hexane. 32
5 2.5 Sơ đồ mô tả thiết bị phản ứng tổng hợp biodiesel. 43
6 2.6 Sơ đồ chiết sản phẩm. 46
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
7 3.1
Biểu đồ 3.1: Ảnh hưởng các loại dung môi đến hiệu suất
trích ly.
51
8 3.2
Biểu đồ 3.2: Ảnh hưởng độ ẩm đến hiệu suất trích ly.
52
9 3.3
Biểu đồ 3.3: Ảnh hưởng thời gian đến hiệu suất trích ly.
53
10 3.4
Biểu đồ 3.4: Sự phụ thuộc vào khối lượng tảo khô đến
hiệu suât trích ly.

Kết quả chỉ số acid của dầu tảo
49
6 3.2 Thể hiện sự ảnh hưởng của các loại dung môi khác nhau 50
7 3.3 Ảnh hưởng độ ẩm đến hiệu suất trích ly 51
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
8 3.4 Ảnh hưởng thời gian đến hiệu suất trích ly 52
9 3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến độ chuyển hóa 53
10 3.6 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến độ chuyển hóa 56
11 3.7
Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến độ chuyển
hóa
57
12 3.8 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước rửa đến số lần rửa biodiesel 58
13 3.9
Ảnh hưởng của tỷ lệ thể tích nước rửa/biodiesel đến số lần
rửa 59
14 3.10
Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến số lần rửa
60
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. ASTM (American Society for Testing and Material): Hiệp hội đo lường và thử
nghiệm vật liệu Hoa Kỳ.
2. GC – MS (Gas chromatography - mass spectrometry): Sắc ký khí - khối phổ.
3. IR (Infrared): Phổ hồng ngoại.

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nhiên liệu sinh học đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều
nhà khoa học trên cả thế giới, bởi nó đem lại nhiều lợi ích như: bảo đảm an ninh năng
lượng và đáp ứng được các yêu cầu về môi trường. Trong số các nhiên liệu sinh học,

GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. NHIÊN LIỆU DIESEL
1.1.1. Khái niệm về nhiên liệu diesel
Diesel là một sản phẩm thuộc phân đoạn gasoil nhẹ của quá trình lọc dầu.
Thường thì diesel là phân đoạn dầu mỏ có nhiệt độ sôi từ 250 đến 350
o
C, chứa các
hydrocacbon có số cacbon từ C
16
đến C
20
, C
21
, với thành phần chủ yếu là n-parafin, iso-
parafin và một lượng nhỏ hydrocacbon thơm, trong đó, có một số hợp chất phi
hydrocacbon (hợp chất chứa N, O, S) [1]. Phân đoạn này được dùng làm nhiên liệu cho
một loại động cơ đốt trong tự bắt cháy do nhà bác học Rudolf Diesel sáng chế, nên gọi
là nhiên liệu diesel. Đây là loại nhiên liệu mà hiện nay trên thế giới sử dụng rất phổ
biến và ngày càng nhiều hơn so với nhiên liệu xăng, vì sử dụng nhiên liệu diesel có
nhiều ưu điểm hơn [1, 2]:
 Động cơ diesel có tỷ số nén cao hơn động cơ xăng nên công suất lớn hơn
khi sử dụng cùng một lượng nhiên liệu.
 Nhiên liệu diesel có giá thành thấp hơn nhiên liệu xăng do ít trải qua các
quá trình chế biến phức tạp.
 Nguồn cung cấp và lượng nhiên liệu diedel nhiều và đa dạng hơn.
Mặc dù vậy, động cơ diesel cũng tồn tại những nhược điểm như: cấu tạo động
cơ phức tạp, cồng kềnh về hình dáng. Nhưng nhờ có những ưu điểm trên mà động cơ
diesel và nhiên liệu diesel vẫn được sử dụng rộng rãi trong đời sống.
Có thể tham khảo các chỉ tiêu chất lượng của nhiên liệu diesel theo tiêu chuẩn

D445 1,3 - 2,4 1,9 - 4,1 5,5 - 24,0
5
Cặn cacbon trong
10% còn lại, %KL
D524
Max
0,15
0,35 0,1
6
Hàm lượng tro, %KL,
max
D482 0,01 0,01 2,00
7
Hàm lượng lưu
huỳnh, %KL, max
D129 0,50 0,50 -
8
Độ ăn mòn lá đồng,
3h,
50C, max
D130 N3 N3 -
9 Trị số xetan, min D613 40 40 -
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 10 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
1.1.2. Nhiên liệu diesel khoáng và vấn đề ô nhiễm môi trường
Nhiên liệu diesel chủ yếu được lấy từ hai nguồn chính là quá trình chưng cất
trực tiếp dầu mỏ và quá trình cracking xúc tác. Các thành phần phi hydrocacbon trong
nhiên liệu diesel khoáng như: các hợp chất chứa lưu huỳnh, nitơ, nhựa, asphanten khá
cao. Các thành phần này không những không tốt cho động cơ, mà còn gây ô nhiễm môi
trường. Các loại khí thải chủ yếu là SO

phải được sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật hay mỡ động vật. Biodiesel, hay
nhiên liệu sinh học nói chung, là một loại năng lượng sạch. Mặt khác, chúng không độc
và dễ phân giải trong tự nhiên [4].
Biodiesel có thể trộn lẫn với diesel khoáng theo mọi tỷ lệ. Tuy nhiên, một điều
rất đáng chú ý là phải pha trộn với diesel khoáng, chứ không thể sử dụng 100%
biodiesel [5]. Vì nếu sử dụng nhiên liệu 100% biodiesel trên động cơ diesel sẽ nảy sinh
một số vấn đề liên quan đến kết cấu và tuổi thọ động cơ. Hiện nay, người ta thường sử
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 11 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
dụng hỗn hợp 5% và 20% biodiesel (ký hiệu B5, B20) để chạy động cơ. Nếu pha
biodiesel càng nhiều thì càng giảm lượng khí thải độc hại, nhưng không có lợi về kinh
tế, bởi hiện tại giá thành của biodiesel vẫn còn cao hơn diesel truyền thống, và cần phải
điều chỉnh kết cấu động cơ diesel cũ.
Biodiesel có thể được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như: các
loại dầu thực vật (dầu dừa, dầu cọ, dầu hướng dương, dầu lạc, dầu đậu nành ), các loại
mỡ động vật (mỡ bò, mỡ lợn, mỡ cá), và thậm chí là dầu phế thải. Như vậy, nguyên
liệu để sản xuất biodiesel khá phong phú, và chúng có nguồn gốc sinh học, có thể tái
tạo được. Đây cũng là một trong những điểm thuận lợi của nhiên liệu biodiesel.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng biodiesel
Trên thế giới:
Năm 1900, khi phát minh ra động cơ diesel, nhà bác học Rudolf Diesel đã dùng
dầu lạc để thử nghiệm. Mặc dù lúc đó, dầu thực vật chưa thật sự được quan tâm, nhưng
ông đã có một nhận xét như lời tiên tri về nguồn nhiên liệu sinh học này: “Ngày nay,
việc sử dụng dầu thực vật làm nhiên liệu cho động cơ có thể chưa được quan tâm đúng
mức. Nhưng trong tương lai, dầu thực vật sẽ trở nên quan trọng như vai trò của sản
phẩm dầu mỏ và than đá hiện nay”. Và thực tế sau gần 100 năm, khi mà các nguồn
nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, giá dầu mỏ ngày càng đắt đỏ và những yêu
cầu ngày càng khắt khe hơn về môi trường, thì người ta lại chú ý nhiều hơn đến nguồn
nhiên liệu từ dầu thực vật, mỡ động vật.
Việc sử dụng trực tiếp dầu mỡ động, thực vật làm nhiên liệu có nhiều nhược

đạt mức kỷ lục nhưng giá dầu cọ thô của nước này vẫn tăng cao, do nhu cầu sản xuất
biodiesel trên thế giới vẫn tăng cao. Ủy ban dầu cọ Malaysia cho biết, từ nay đến năm
2015, sẽ có 5 nhà máy sản xuất biodiesel từ dầu cọ với tổng công suất gần 1 triệu tấn
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, và xuất khẩu sang châu Âu, Indonesia.
Ngoài dầu cọ, còn đầu tư trồng 19 triệu ha cây J. Curcas lấy dầu làm nhiên liệu sinh
học và phấn đấu đến năm 2015 sẽ dùng nhiên liệu B5 cho cả nước. Trung Quốc, nước
nhập khẩu nhiên liệu lớn nhất thế giới, đã khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học.
Tại Thái Lan, Bộ năng lượng đã sẵn sàng hỗ trợ sử dụng dầu cọ trên phạm vi toàn
quốc. Hiện nay, Bộ này đang hoàn tất các thủ tục hỗ trợ phát triển biodiesel nhằm xây
dựng nguồn năng lượng cho đất nước. Thái Lan dự kiến sử dụng diesel pha 10%
biodiesel vào năm 2012. Ngay tại Lào cũng đang xây dựng nhà máy sản xuất biodiesel
ở ngoại ô thủ đô Viên Chăn. Một số nước ở châu Phi cũng đang tiếp cận đến nhiên liệu
sinh học.
Tình hình trong nước:
Trước sự phát triển mạnh mẽ nguồn nhiên liệu sinh học nói chung và biodiesel
nói riêng trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã bắt tay vào nghiên cứu và
sản xuất biodiesel ở phòng thí nghiệm và quy mô sản xuất nhỏ. Việc sản xuất biodiesel
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 13 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
ở nước ta có nhiều thuận lợi, vì nước ta là một nước nông nghiệp, thời tiết lại thuận lợi
để phát triển các loại cây cho nhiều dầu như: vừng, lạc, cải, đậu nành, Jatropha, Vi
Tảo Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất dầu thực vật ở nước ta vẫn còn rất non
trẻ, trữ lượng thấp, giá thành cao. Bên cạnh đó, nguồn mỡ động vật cũng là một nguồn
nguyên liệu tốt để sản xuất biodiesel, giá thành mỡ động vật lại rẻ hơn dầu thực vật rất
nhiều. Một vài doanh nghiệp ở Cần Thơ, An Giang đã thành công trong việc sản xuất
biodiesel từ mỡ cá basa. Theo tính toán của các công ty này thì biodiesel sản xuất từ
mỡ cá có giá thành khoảng 15000 đồng/lít (năm 2009). Ngoài ra, một số viện nghiên
cứu và trường đại học ở nước ta, cũng đã có những thành công trong việc nghiên cứu
sản xuất biodiesel từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như: dầu cọ, dầu dừa, dầu
bông, dầu đậu nành, dầu ăn thải, mỡ cá sử dụng xúc tác bazơ đồng thể và bước đầu

bằng một phần ba trọng lượng phân tử dầu thực vật và độ nhớt thấp hơn nhiều so với
các phân tử dầu thực vật ban đầu (xấp xỉ diesel khoáng). Ngoài ra, người ta kiểm tra
các đặc trưng hóa lý khác của biodiesel thì thấy chúng đều rất gần với nhiên liệu diesel
khoáng. Vì vậy, biodiesel thu được có tính chất phù hợp như một nhiên liệu sử dụng
cho động cơ diesel [11].
Cracking xúc tác dầu thực vật:
Quá trình cracking sẽ bẻ gãy các liên kết hóa học trong phân tử dầu để tạo các
phân tử có mạch ngắn hơn, phân tử lượng nhỏ hơn. Phương pháp này có thể tạo ra các
ankan, cycloankan, ankylbenzen… Tuy nhiên, việc đầu tư cho một dây chuyền
cracking xúc tác rất tốn kém nên ít sử dụng.
Nhiệt phân dầu thực vật:
Nhiệt phân là phương pháp phân hủy các phân tử dầu thực vật bằng nhiệt,
không có mặt của oxy, tạo ra các ankan, ankadien, các axit cacboxylic, hợp chất thơm
và lượng nhỏ các sản phẩm khí. Sản phẩm của quá trình này gồm có cả xăng sinh học
(biogasoil) và biodiesel. Tuy nhiên, thường thu được nhiều nhiên liệu xăng hơn là
diesel [12].
1.2.3.2. Tổng hợp biodiesel theo phương pháp trao đổi este
Cơ sở hóa học:
Về phương diện hóa học, quá trình trao đổi este còn gọi là quá trình rượu hóa,
có nghĩa là từ một phân tử triglyxerit trao đổi este với 3 phân tử rượu mạch thẳng, tách
ra glyxerol và tạo ra các ankyl este, theo phản ứng:
R COOCH CH -OH R COOR
│ │
R COOCH + 3ROH CH - OH + R COOR
│ │
R COOCH CH -OH R COOR
Triglyxerit Rượu mạch thẳng Glyxerol Biodiesel
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 15 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
Thực chất quá trình chuyển hóa này gồm một loạt các phản ứng thuận nghịch

ứng vì dễ tạo xà phòng gây đặc quánh khối phản ứng, giảm hiệu suất tạo biodiesel, gây
khó khăn cho quá trình sản xuất công nghiệp. Quá trình tinh chế sản phẩm khó khăn
[15]. Để khắc phục tất cả các nhược điểm của xúc tác đồng thể, các nhà khoa học hiện
nay đang có xu hướng dị thể hóa xúc tác. Các xúc tác dị thể thường được sử dụng là
các hợp chất của kim loại kiềm hay kiềm thổ mang trên chất mang rắn như:
NaOH/MgO, NaOH/γ-Al
2
O
3
, Na
2
SiO
3
/MgO, Na
2
SiO
3
/SiO
2
, Na
2
CO
3
/γ-Al
2
O
3
, KI/γ-
Al
2

lượng của biodiesel được quy định theo bảng sau [17].
Bảng 1.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng biodiesel theo ASTM D 6751
Chỉ tiêu đánh giá Giá trị
Tỷ trọng 0,8 - 0,9
Độ nhớt (40
o
C, mm
2
/s) 1,9 - 6,0
Nhiệt độ chớp cháy,
o
C min 130
Hàm lượng nước, % thể tích max 0,05
Glyxerol tự do, % khối lượng max 0,02
Hàm lượng lưu huỳnh, % khối lượng max 0,05
Hàm lượng photpho, % khối lượng max 0,001
Chỉ số axit, mg KOH/g nhiên liệu max 0,8
Độ ăn mòn tấm đồng (3h, 50
o
C) < N
o
3
Trị số xetan > 47
Cặn cacbon, % khối lượng < 0,05
Tổng lượng glyxerol, % khối lượng max 0,24
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 17 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
1.3. NGUỒN TINH DẦU VI TẢO ĐỂ TỔNG HỢP NHIÊN LIỆU BIODIESEL
1.3.1. Giới thiệu Vi Tảo
1.3.1.1. Giới thiệu chung

3. Kính hiển vi
4. Ống hút tảo
5. Cốc đốt 500ml
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 18 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
6. Formalin 3%
Buồng đếm hồng cầu gồm có 9 ô lớn, khi đếm ta sẽ tiến hành đếm ở 5 ô A, B,
C, D và E. Các ô lớn A, B, C, D gồm có 16 ô nhỏ, ô E gồm có 25 ô nhỏ, trong mỗi ô
nhỏ của ô E có 16 ô nhỏ hơn (trong ô E có 400 ô). Một ô lớn có diện tích là 1mm
2
, độ
sâu buồng đếm là 0,1mm.
Phương pháp lấy mẫu tảo: mẫu được lấy vào 2 giờ chiều. Dùng ống hút tảo vào
ly đựng, mẫu lấy khoãng 25ml.
Cách chuẩn bị mẫu: mẫu tảo được thu vào cốc đốt lắc đều mẫu tảo sau đó dùng
ống hút nhỏ giọt dung dịch tảo vào buồng đếm, để vài phút cho tảo ổn định, sau đó
dùng lamen đậy nhị nhàng, để lắng một lúc rồi đưa vào kính hiển vi đếm.
Cách đếm: khi đếm cần chú ý các nguyên tắc sau. Thứ tự các ô được đếm theo
đường ziczác, tiến hành đếm những tế bào nằm trong khi có các tế bào nằm trên một
cạnh của ô thì đếm những tế bào nằm ở cạnh trên và những tế bào nằm ở cạnh bên
phải. Ta tiến hành đếm 3 lần và lấy giá trị trung bình. Mật độ tảo:[52].
4
400 10
5 16
A
MD x x
x
=
MD: mật độ tế bào
A: tổng tế bào đếm được ở 5 ô đường chéo của ô E

mọi người đều dùng được các sản phẩm từ rong này để điều trị các căn bệnh như: mệt
mỏi kinh niên (fatigue), áp huyết cao, tim mạch, mất trí nhớ, cholesterol cao, lão hóa
da, ngộ độc máu, tuần hoàn máu kém, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, sưng và đau khớp,
béo phì và các bệnh nhiễm trùng, dị ứng, chấn thương.
Về kinh tế, xã hội:
Được sản xuất từ phương pháp quang hợp, vi tảo có thể chứa đến 60% khối
lượng lipid. Với 100gr dầu trích từ 1 lít vi tảo, năng suất của loại tế bào này cao gấp 30
lần so với năng suất của các loài cây cho dầu như cải hạt dầu hay hoa hướng dương.
Do đó vi tảo có thể trở thành một nhiên liệu sinh học giá rẻ, không gây ô
nhiễm, tiết kiệm năng lượng và không chiếm diện tích đất trồng.
Chương trình Nghiên cứu công nghệ sinh học quốc gia (PNRB) đã quyết định tài trợ
trong 3 năm cho dự án mang tên Shamash trị giá 2,8 triệu euro này. Nhiệm vụ của các
nhà nghiên cứu thuộc 7 trường đại học Pháp là tìm ra loại vi tảo có khả năng sản xuất
nhiên liệu sinh học với tỉ lệ cao nhất và sinh lợi nhất.
Các nhà nghiên cứu đã lập ra một quy trình sản xuất không gây ô nhiễm. Việc
nuôi tảo trong bồn cho phép thu hồi và sử dụng lại các khoáng chất gây hại môi trường.
Họ hy vọng từ nay đến năm 2010, những lít xăng đầu tiên làm từ vi tảo làm cho xe lăn
bánh. .
Vi tảo (Chlorella) - do Joule nghiên cứu và tạo ra - chỉ cần có nước, CO2 và
tiếp xúc ánh sáng mặt trời là có thể tiết ra dầu diesel và xăng sinh học ethanol. Loại vi
tảo này có khả năng sản xuất 30.000 galông dầu diesel trên diện tích 1 hecta/năm, gấp
4 lần sản lượng sản xuất dầu diesel từ các loại dầu thực vật khác ví dụ như ngô, khoai,
Jatropha
Sử dụng vi tảo (Chlorella), Joule cho biết có thể sản xuất một thùng dầu diesel
42 galông (159 lít) với tổng chi phí dưới 30 USD, và một thùng ethanol là 50 USD. Vi
tảo có thể được tìm thấy ở khắp nơi và không cần phải có hàng tấn ngô, tảo để sản
xuất năng lượng sinh học từ rác thải nông nghiệp như trước đây, theo nhà sinh học
hàng đầu của Joule là Dan Robertson.
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 20 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH

trọng đối với ngành chăn nuôi nước nhà trong tương lai gần.
Để làm thuốc:
Nói chung, nguyên tắc sử dụng tảo xoay quanh cách ứng dụng một cách chọn
lọc toàn bộ acid amin chủ yếu cho nhu cầu kiến tạo sinh tố và khoáng tố để bổ sung
nguồn dự trữ các chất kháng oxy-hóa để ngăn chặn tiến trình lão hóa biểu lộ qua triệu
chứng xơ vữa và dấu hiệu thoái hóa.
Trên thực tế, liều lượng của tảo tất nhiên thay đổi trong phác đồ và trong tiến
trình điều trị tùy theo nhu cầu cá biệt của mỗi đối tượng, ngay cả cho mục tiêu phòng
bệnh, nhưng không đến độ quá cao như liều lượng được đề nghị một cách thái quá
trong nhiều tờ bướm. Thông thường có thể phân chia liều áp dụng của tảo vào 3 nhóm:
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 21 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
liều cao cho trường hợp suy nhược trầm trọng: từ 4 đến 6g tảo nguyên chất/ngày; liều
trung bình cho bệnh nhân có nhu cầu hồi phục nhưng không quá khẩn cấp: từ 2 đến 4g
tảo nguyên chất/ngày; liều thấp cho đối tượng đã ổn định về mặt sức khỏe nhưng cân
duy trì tác dụng: từ 1 đến 2g tảo nguyên chất /ngày.
Người bệnh tim mạch: Để chia sẻ gánh nặng cho trục tiêu hóa không nên dùng
tảo ngay sau bữa ăn chính, ngoại trừ trường hợp dùng tảo ở liều thấp. Tốt hơn nên
uống tảo khoảng 1 giờ sau bữa điểm tâm để tận dụng công năng trợ tim của khoáng tố
magnesium và calcium trong tảo, sau khi đã kiểm soát huyết áp. Để tránh tác dụng lợi
tiểu ban đêm khiến bệnh nhân có thể mất ngủ do thành phần kalium trong tảo.
Người bệnh tiểu đường: Để vừa cung cấp dưỡng chất, vừa chống cảm giác đói
bụng vốn là nỗi khổ của nhiều người bệnh tiểu đường, nên dùng tảo trước mỗi bữa ăn
và nhất là vào buổi tối để người bệnh không bị dằn vặt vì cảm giác đói trong đêm rồi
sinh mất ngủ. Bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc chống viêm đa thần kinh ngoại
biên có thể yên tâm dùng chung với tảo vì thành phần sinh tố B và nhiều loại acid amin
trong tảo có tác dụng cộng hưởng với thuốc đặc hiệu.
Người bệnh dạ dày: Nhằm tối ưu hóa công năng chống tác dụng xoi mòn của
chất chua trong dạ dày, vừa cung cấp chất đạm để làm lành ổ loét, nạn nhân của bệnh
viêm loét dạ dày tá tràng nên dùng tảo theo kiểu hai mặt giáp công, uống trước mỗi

giữ giống và nuôi trồng.
Hiện có 2 nơi nuôi trồng tảo ở nước ta, đó là:
+ Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận).
+ Và một cơ sở ở Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Có thể nói, Vĩnh Hảo là đơn vị tiên phong trong việc nuôi trồng và sản xuất tảo lớn
nhất nước ta.
Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu và nuôi trồng tảo ở nước ta đã thu được nhiều
kết quả ban đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên cho đến nay việc nuôi trồng cho đến nay đa
số vẫn mang tính nhỏ lẻ, lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng tảo ngày càng
tăng cao. Vì vậy, trước những giá trị về mọi mặt mà tảo mang lại, cần phải tiến hành
cải thiện, thúc đẩy ngành công nghiệp nuôi trồng tảo nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Ngoài ra còn có trung tâm nuôi trồng phát triển Giống Thủy Sản Nam Bộ cũng
đã nuôi ở mô hình thí nghiệm rất thành công và đang phát triển mô hình lớn hơn với
quy mô công nghiệp và nuôi ở ngoài trời với hệ thống ống liên hoàn sử dụng ánh sáng
mặt trời để quang hợp với hệ thống sục khí CO
2
liên tục nhằm góp phần làm tăng sinh
khối tảo một cách tối ưu.
Trong việc nghiên cứu về tảo thì có PGS-TS. Trương Vĩnh thuộc trường Đại học Nông
Lâm đã nghiên cứu thành công việc nuôi và chiết dầu từ vi tảo nhưng với quy mô trong
phòng thí nghiệm.
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 23 Lớp: DH08H2
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Văn Thông – GV. Phạm Thị Hữu Hạnh Đề tài NCKH
Bảng 1.3. Thành phần các gốc axít béo trong vi tảo(PGS-TS. Trương
Vĩnh).
Tên acid Công thức phân tử Khối lượng phân tử % khối lượng
Acid Myristic (C14:0) C14 H28 O2 228 0.7
Acid Palmitic (C16:0) C16 H32 O2 256 46.08
Acid Palmitoleic (C16:1) C16 H30 O2 254 2.62

máy. Máy ly tâm quay ở tốc độ 600 vòng/phút và được hiểu chỉnh là 5 phút lấy mẫu ra
một lần với tốc độ này nhằm để tách nước ra khỏi tảo. Thiết bị bao gồm roto quay,
thùng chứa, thùng nạp liệu. Dịch được cung cấp vào giữa roto quay, dưới tác dụng lực
ly tâm dịch được ép vào thành roto. Do tảo nặng hơn nước nên tảo được ép vào vách
thành roto, còn nước ở bên ngoài và tách khỏi lớp tảo.
Máy màng lọc hoạt động theo nguyên tắc áp lực. Dịch được bơm ly tâm đẩy dọc
trong ống màng có kích thước lổ nhỏ hơn đường kính tảo. Áp lực đẩy nước qua ống
màng tách ra khỏi lớp tảo.
Với nguyên tắc như trên sau 5 phút ta lấy mẫu ra lúc này sinh khối tảo nằm ở
phần dưới và nước nằm ở phần trên ta dễ dàng tách nước ra bỏ đi và lấy sinh khối tảo
bỏ vào cốc sứ.
Quá trình này cứ lập đi lập lại nhiều lần đến khi nào ta ly tâm xong phần sinh
khối tảo đã mua để thực hiện thí nghiệm (15 lít tảo).
Sinh viên: Lê Hoàng Lăm 25 Lớp: DH08H2

Trích đoạn Dụng cụ, hóa chất và thiết bị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status