LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam ngày nay đang trong xu thế hội nhập toàn cầu do đó có
rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay. Vì vậy bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp là làm sao có thể đứng vững trên
thị trường khốc liệt như vậy, một công cụ hữu hiệu có thể giúp các doanh nghiệp
thành công đó là Marketing có hiệu quả. Quản trị marketing là nghiên cứu các vấn
đề về nhu cầu của con người thông qua hoạt động trao đổi- buôn bán trong thị
trường nhất định, nhằm sử dụng có hiệu quả hoạt động marketing, tăng năng suất
lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá
nhân, tài năng chuyên môn được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc
và trung thành tận tâm với tổ chức, để đạt được mục đích của tổ chức.
Chính vì vậy, quản trị marketing có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy maketing không phải là nhân
tố đóng vai trò quan trọng nhất,nhưng nó là nguồn tài nguyên và là một trong các
yếu tố cơ bản quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tiễn như vậy, là một sinh viên khoa Kinh tế, kết hợp lý
luận đã nghiên cứu về công tác quản trị maketing cùng với quá trình thực tập tại
Công ty Cổ Phần Thương Mại Tổng Hợp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Em đã chọn đề tài:
“Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Marketing- Mix
tại công ty Cổ Phần Thương Mại Tổng Hợp tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu”.
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI TỔNG
HỢP TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
1.1 Giới thiệu khái quát về công ty:
Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (tên giao
dịch là GETRACO) là tiền thân của 03 công ty: Công Ty Thương Nghiệp Tổng
Hợp; Công Ty Thương Nghiệp Phục Vụ Dầu Khí; Công Ty Nông Sản Thực
Phẩm, được sát nhập theo Quyết định số: 05/QĐ-UBND ngày 15/10/1992 của
UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với tên gọi là Công ty Thương mại Tổng hợp
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty CP Thương Mại Tổng Hợp Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Getraco) là doanh
nghiệp nhà nước được chuyển thành Công ty Cổ phần Thương Mại Tổng Hợp
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo quyết định số 8843/QĐ-UB ngày 06/11/2003 của
UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong đó nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ.
Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
(GETRACO) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành thương mại
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Với thành quả của gần 20 năm qua, công ty chúng tôi
không ngừng phát triển. Doanh thu hàng năm của công ty năm sau luôn cao hơn
năm trước. Tất cả các hoạt động kinh doanh của công ty đều đạt hiệu quả cao và
được nhiều khách hàng tín nhiệm. Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của
Getraco:
Cung ứng các loại vật tư, hóa phẩm khoan, trang thiết bị, máy móc. Dịch vụ sửa
chữa, tàu biển giàn khoan, gia công cơ khí phục vụ cho ngành dầu khí.
Cung ứng vật tư, hàng hóa, trang thiết bị, máy móc phục vụ ngành hàng hải.
Cung ứng dịch vụ trọn gói đời sống lao vụ (Catering) cho tàu biển, giàn khoan.
Kinh doanh XNK, nhập khẩu ủy thác hàng hóa các loại, vật tư thiết bị.
Kinh doanh dịch vụ cảng, dịch vụ khai thác cảng thủy nội địa.
Xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, công nghiệp thi công san lấp
mặt bằng, cung ứng vật tư xây dựng.
Tổ chức đào tạo và cung ứng xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài và
kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, công ty có nhiều thế mạnh trong việc
thi công cầu đường, san lấp mặt bằng, cảng biển, xây dựng công nghiệp và
dân dụng với các dự án công trình lớn trọng điểm cấp quốc gia.
Trong những năm qua Getraco càng ngày càng phát triển đi lên và luôn
cải tiến năng cao trình độ cán bộ quản lý, trang thiết bị máy móc phương tiện
hiện đại phục vụ cho công tác và sản xuất kinh doanh. Doanh thu và lợi nhuận
hàng năm của công ty không ngừng tăng lên và được nhiều khách hàng tín
nhiệm.
Phòng Kế toán
Phòng
HC Quản trị
Ban DV đời
sống Dầu khí
Chi nhánh
Tp.HCM
Phòng
Kinh doanh
Phòng
Dự án-
TC CT
BP hậu cần trên bờ
BP kỹ thuật sửa chữa
BP dịch vụ trên giàn
VPĐD
NGHỆ AN
Cửa hàng & đại lý bán hàng cho công ty
Chức năng của từng bộ phận:
Hội dồng quản trị:
• Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh
doanh hằng năm của công ty;
• Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng
loại;
• Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền
chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
• Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
• Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này;
• Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn
theo quy định của Luật này hoặc Điều lệ công ty;
thống kê và lập báo cáo tài chính.
• Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu
tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.
• Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh
hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng
quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.
• Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý,
điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc
theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông
hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.
• Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều
79 của Luật này, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những
vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc nhóm
cổ đông có yêu cầu.
• Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản trở
hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều
hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Tổng Giám Đốc:
• Điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động hàng
ngày khác của công ty.
• Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên về việc thực
hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
• Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng tành viên, Hội dồng quản
trị. Thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty.
• Kiến nghị phương án bố trí, cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty
như bổ nhiệm, đề xuất cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ
các chức danh do Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên bổ nhiệm. Ngoài
ra còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác và tuân thủ một số nghĩa vụ của
1.2.1 Lĩnh vực hoạt động của công ty:
a. Cung cấp dịch vụ dầu khí: Hiện nay Getraco cung cấp nhân lực, thực phẩm
phục vụ đời sống giàn khoan trên biển, cung cấp vật tư thiết bị sửa chữa thay
thế tàu biển, giàn khoan cho các xí nghiệp của liên doanh Vietsovpetro. Hoạt
động này mang lại doanh thu hàng năm rất lớn.
b. Kinh doanh thương mại: Getraco là đại lý phân phối nhiều mặt hàng
VLXD phục vụ cho ngành xây dựng như xi măng, sắt thép, cát đá, … Ngoài ra,
công ty còn là nhà cung cấp các phụ tùng thiết bị cơ khí máy móc cho các đơn
vị thuộc liên doanh Vietsovpetro. Getraco luôn được các đối tác đánh giá cao
trong các dịch vụ và kinh doanh.
c. Thi công xây dựng: Getraco là nhà thầu chính trong nhiều các dự án, công
trình lớn, trọng điểm cấp quốc gia. Trực tiếp thi công xây dựng các công trình
công nghiệp và dân dụng như: Cầu đường, san lấp mặt bằng kho bãi, cảng biển.
Trong lĩnh vực san lấp mặt bằng, thi công cầu đường Getraco còn cung cấp
luôn các dịch vụ và vật tư phục vụ việc san lấp như: Giải phóng mặt bằng, nạo
vét hữu cơ, vải địa, cát, bắc thấm, máy móc, xe cơ giới, tư vấn thiết kế, …
Getraco luôn là nhà thầu có các dịch vụ đầy đủ nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu
của chủ đầu tư, đảm bảo về chất lượng thi công, tiến độ thời gian và giá cả cạnh
tranh. Cụ thể Getraco đã thi công phục vụ các công trình như:
• Công trình trụ móng đường dây 220kv từ hàm thuận đi Long Thành (trị giá vật
tư 25 tỷ đồng). Do công ty Xây Lắp Điện 1 – Tổng công ty Xây Dựng Công
nghiệp Việt Nam là chủ đầu tư, khởi công và hoàn thành 1997 – 1999.
• Công trình cầu Cỏ May 1 và 2 (trị giá vật tư 20 tỷ) Do công ty TNHH Hải Châu
là nhà thầu chính, khởi công và hoàn thành 1997 – 2000.
• Công trình san lấp mặt bằng dự án PM3 Cà Mau (trị giá vật tư san lấp 30 tỷ).
Do Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro là chủ đầu tư, khởi công và hoàn thành
2006- 2007.
• Công trình san lấp mặt bằng kho cảng xăng dầu Petec – Cái Mép (trị giá gần 30
tỷ). Do công ty Thương Mại Kỹ thuật và Đầu tư Petec là chủ đầu tư, khởi công
và hoàn thành 2007 – 2008.
niệm rằng sự thành công và sự hài lòng của khách hàng chính là tiền đề cho sự
phát triển của Doanh nghiệp hôm nay và tương lai.GETRACO trân trọng giá trị
nền tảng cho sự phát triển, đó là các cơ hội được hợp tác với Quý khách hàng
và không một khó khăn nào có thể ngăn cản quyết tâm của công ty mang đến
những giá trị tiện ích phù hợp với mong muốn cũng như lợi ích của Quý khách
hàng.
Ngoài ra Công ty còn nhận được một số giải thưởng , bằng khen của , nhà nước,
chính phủ ban tặng:
DANH HIỆU CAO QUÝ ĐÃ ĐƯỢC PHONG TẶNG
CHO CTY CP THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP TỈNH BR-VT (GETRACO)
Năm 2009:
Bằng khen Bộ Công Thương
Bằng khen của UBND tỉnh
Giải thưởng “Ngọn hải Đăng”
Danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc
Cờ xuất sắc Liên đoàn lao động tỉnh BR-VT
Ông Trần Ngọc Trinh – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ cty đạt danh hiệu chiến sỹ
thi đua cấp tỉnh
Năm 2010:
Bằng khen của Bộ công thương
Danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc
Cờ “đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua” của UBND tỉnh
2 Bằng khen UBND tỉnh BR-VT
Cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh
Cờ xuất sắc Liên đoàn lao động tỉnh BR-VT
Giấy chứng nhận đạt giải thưởng “Doanh nghiệp hội nhập và Phát triển” 2010
của Hội đồng giải thưởng.
Danh hiệu “chiến sỹ thi đua cơ sở” : Có 7 cá nhân đạt danh hiệu “chiến sỹ thi
đua cơ sở”
Năm 2011:
CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING- MIX
2.1 Khái niệm, quan điểm marketing trong kinh doanh:
Hiểu một cách đơn giản theo quan điểm của các nhà doanh nghiệp trong
cơ chế thị trường hiện nay thì Marketing là một dạng hoạt động của con người
nhằm thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của họ thông qua trao đổi về một
loại sản phẩm – dịch vụ nào đó trên thị trường. Trong khái niệm Marketing,
điều quan trọng đầu tiên mang tính quyết định thành hay bại trong kinh doanh
của các doanh nghiệp là phải nghiên cứu nhu cầu, mong muốn và yêu cầu cũng
như hành vi mua hàng của khách hàng, sau đó tiến hành sản xuất sản phẩm –
dịch vụ phù hợp trước khi đem ra tiêu thụ trên thị trường thông qua các hoạt
động trao đổi.
Marketing là nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nỗ lực cần thiết nhằm khám
phá, sáng tạo, thỏa mãn, gợi mở nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận và
giao dịch.
Quá trình tích tụ vốn cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học, công
nghệ, cơ khi hoá, tự động hoá trở thành phổ biến, năng suất lao động ngày càng
cao, tình trạng cung vượt cầu trở thành phổ biến ở hầu hết các ngành. Lúc này
người mua làm chủ thị trường, cạnh tranh quyết liệt giữa những nhà sản xuất để
giành khác hàng. Người sản xuất nhận ra rằng chỉ đơn thuần mở rộng hệ thống
phân phối, tăng cường hoạt động bán hàng, tăng mức độ khuyến mãn cũng
không thể tiêu thụ hết sản phẩm được sản xuất. Những người đi tiên phong với
quan điểm marketing đã thêm vào những khía cạnh mới của quan điểm. Họ cho
rằng người sản xuất chỉ bán được những gì thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người
mua, nhưng mỗi nhà sản xuất có những điều kiện khác nhau, lợi thế khác nhau
trong việc thoả mãn nhu cầu đa dạng của thị trường. Bởi vậy họ phải chia thị
trường thành các phân khúc có những đặc trưng khác nhau, từ đó lựa chọn cho
mình một phân khúc phù hợp nhất, phân khúc có tiềm năng tăng trưởng và ở đó
người sản xuất có lợi thế cạnh tranh hơn đối thủ. Để thoả mãn tốt hơn nhu cầu
của khác hàng và chiến thắng đối thủ cạnh tranh, người sản xuất phải sử dụng
đồng bộ các công cụ: thiết kế sản phẩm; định giá, đưa sản phẩm tiếp cận với
Chức năng của marketing xuất phát từ vị trí marketing trong hệ thống
quản trị của công ty. Do vậy, marketing có một số chức năng cơ bản sau:
Chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: một sản
phẩm muốn bán chạy thì phải có sức hấp dẫn đối với khách hàng, marketing
có chức năng thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường thông qua hoạt
động cụ thể như: marketing tiến hành nghiên cứu thị trường và khách hàng
để xác định những mong muốn của khách hàng về sản phẩm. Cần phải khẳng
định rằng marketing không làm công việc của nhà kỹ thuật mà nó chỉ chỉ ra
cho nhà sản xuất phải sản xuất cái gì, như thế nào, khối lượng bao nhiêu và
bao giờ đưa ra thị trường là thích hợp.
Chức năng phân phối sản phẩm: là toàn bộ các hoạt động gắn liền với
quá trình vận động của hàng hóa từ sau khi nó được sản xuất ra cho tới khi
nó đến được với trung gian thương mại bán buôn, bán lẻ hay người tiêu dùng
cuối cùng. Đó chính là các hoạt động nhằm tổ chức các vận động tối ưu sản
phẩm và quá trình này gồm nhiều bước liên quan đến nhau: lựa chọn người
tiêu thụ( phải tìm hiểu người tiêu thụ để lựa chọn người có khả năng) , hướng
dẫn khách hàng kí kết hợp đồng và thuê mướn phương tiện vận tải, tổ chức
hợp lý hệ thống kinh doanh kho hàng hóa, các hoạt động hỗ trợ cho người
tiêu thụ( như cung cấp cho họ những thông tin về khách hàng- sản phẩm, tạo
ra những ưu đãi thương mại như phương tiện vận chuyển giao hàng), tổ chức
bao bì bao gói tiêu thụ để vận dụng tối đa dung tích của hệ thống kho hàng
hóa, nhanh chóng phát hiện ra ách tắc, xung đột hệ thống phân phối và điều
chỉnh, giải quyết những ách tắc, xung đột đó.
Chức năng tiêu thụ: theo quan điểm của marketing tiêu thụ là hoạt
động có chủ đích qua đó công ty thực hiện việc cung ứng , bán hàng hóa-
dịch vụ cho khách hàng để tiêu dùng cá nhân( có thể trực tiếp hoặc gián tiếp
qua các trung gian). Nội dung của chức năng này bao gồm: nghiên cứu khách
hàng và người tiêu thụ, ấn định và kiểm soát giá bán, lựa chọn các phương
pháp và công nghệ bán thích hợp, tổ chức lực lượng bán để quyết định sức
bán, tổ chức quảng cáo và khuyến mại, tổ chức các yếu tố hậu cần kinh
các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với nhau) để biến đổi đầu
vào thành đầu ra.
Nhiều sản phẩm được cấu thành bởi các chủng loại sản phẩm khác nhau.
Ví dụ: một sản phẩm ô tô được chào bán bao gồm cả sản phẩm phần cứng (săm
lốp), vật liệu chế biến (nhiên liệu, chất lỏng làm mát máy), phần mềm (phần
mềm kiểm soát động cơ, sổ tay hướng dẫn lái xe) và dịch vụ (các giải thích
hướng dẫn vận hành do người bán hàng thực hiện). Trong những trường hợp
như vậy, tên gọi của sản phẩm phải căn cứ vào thành phần chủng loại sản phẩm
chiếm tỷ trọng lớn nhất.
2.2.2 Giá cả: là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết mà khách hàng bỏ ra để có
được một sản phẩm với một chất lượng nhấ định vào một thời điểm nhất định
và ở một nơi nhất định.
Nhằm đạt được mục tiêu đã xác định cho giá, doanh nghiệp cần đưa ra các
quyết định rõ ràng về chính sách định giá của mình. Các chính sách giá đúng
cho phép doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong kinh
doanh. Chính sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống cần
giải quyết khi đặt mức giá và ra quyết định mua sắm của khách hàng được dễ
dàng hơn. Các chính sách giá chính thường được áp dụng là:
• Chính sách về sự linh hoạt giá:
- Chính sách một giá: Đưa ra một mức giá đối với tất cả các khách hàng mua
hàng trong cùng các điều kiện cơ bản và cùng khối lượng.
- Chính sách giá linh hoạt: Đưa ra cho khách hàng khác nhau các mức giá khác
nhau trong cùng điều kiện cơ bản và cùng khối lượng.
• Chính sách giá theo chu kì sống của sản phẩm:
- Chính sách giá hớt váng: Đưa ra mức giá cao nhất – cố gắng bán ở mức giá
cao nhất của thị trường nhằm tăng tối đa việc hớt phần ngon của thị trường.
- chính sách giá xâm nhập: Đưa ra một mức giá thấp để có thể bán được hàng
hoá với khối lượng lớn trên thị trường.
- Chính sách giá giới thiệu: Đưa ra mức giá thấp bằng cách cắt giảm giá tạm
thời để lôi kéo sự chú ý và dùng thử của khách hàng.
Kênh trực tiếp
Kênh một cấp
Kênh một cấp
Kênh hai cấp
2.2.4 Xúc tiến: Là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp với khách hàng
mục tiêu để thuyết phục họ mua. Vì vậy, có thể gọi đây là các hoạt động truyền
thông maketing. Hoạt động xúc tiến trong marketing là sự kết hợp tổng hợp các
hoạt động sau:
Nhà bán lẻ
Nhà đại lý
Nhà bán lẻ
Nhà đại lý
Nhà bán sỉ
NHÀ SẢN
XUẤT
NHÀ SỬ
DỤNG
CÔNG
NGHIỆP
Nhà đại lý
Nhà phân phối
công nghiệp
Nhà phân phối
công nghiệp
Nhà đại lý
- Quảng cáo: Là việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để
truyền đạt tin tức về chất lượng hay ưu điểm của sản phẩm đến khách hàng.
- Khuyến mại: là những khích lệ ngắn hạn để khuyến khích mua một sản
phẩm hay dịch vụ.
- Chào hàng hay bán hàng cá nhân: là hình hức sử dụng nhân viên bán
lực thành sản phẩm. Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các
dụng cụ, máy móc, nguyrn6 liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn
đề của con người. Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước
khi có khoa học và kỹ nghệ. Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải
quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy
trình tiêu chuẩn. Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ.
Khái niệm về kỹ thuật Kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương
tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất.
2.3 Môi trường ảnh hưởng đến hoạt động Marketing
2.3.1 Môi trường vĩ mô:
Gồm 6 yếu tố:
2.3.1.1 Kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố tác động đến khả
năng chi tiêu của khách hàng và tạo ra những mẫu tiêu dùng khác biệt.Việc hiểu
thị trường không chỉ biết rõ về yếu tố mong muốn của con người mà còn phải
nắm được khả năng chi tiêu của họ.Khả năng chi tiêu này ngoài việc phụ thuộc
vào nhu cầu giá cả mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế.Do đó các
nhà marketing phải nhận biết được các xu hướng chính về thu nhập trong dân
chúng và những thay đổi về chi tiêu của các nhóm dân chúng khác biệt.
- Xu hướng tăng lên về thu nhập trung bình trong dân chúng ngoài việc sẽ tạo ra
một sức mua cao hơn trên thị trường còn dẫn đến những nhu cầu mong muốn
khác biệt hơn từ phía người tiêu dùng.
- Ngoài ra,một xu hướng khác là sự phân bổ về thu nhập cá nhiều phân hóa
trong dân chúng cũng là một vấn đề mà các nhà marketing cần quan tâm.Chính
sự phân hóa này làm đa dạng hơn về nhu cầu,mong muốn của người tiêu dùng
và tạo ra trên thị trường nhiều phân khúc khác biệt.
2.3.1.2 Chính trị: Các quyết định marketing của một doanh nghiệp
thường chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những diễn biến trong môi trường chính
trị-pháp luật.Môi trường này hình thành từ cơ quan nhà nước các cấp,các nhóm
áp lực và từ hệ thống pháp luật của quốc gia đó.Các lực lượng này điều chỉnh
hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng khuôn khổ pháp luật cho phép của
nguồn tài nguyên thiên nhiên trên mặt đất, trên mặt biển, sông ngòi và trong
lòng biển. Môi trường tự nhiên bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên được
xem là những nhân tố đầu vào cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp và còn
có những ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động marketing của doanh nghiệp
đó.
Những nhân tố này có ảnh hưởng đáng kể với các doanh nghiệp có đầu vào từ
tài nguyên thiên nhiên hoặc chịu tác động của thiên nhiên.
2.3.1.5 Kỹ thuật công nghệ: Tiến bộ KHCN tác động đến thị trường ở
nhiều mặt như:
+ Khởi đầu cho những ngành công nghiệp mới
+ Làm thay đổi căn bản hay xóa bỏ hoàn toàn các sản phẩm hiên hữu
+ Kích thích sự phát triển những sản phẩm liên quan hoặc không liên quan đến
kỹ thuật mới
+ Sự phát triển công nghệ làm chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn lại
- Việc áp dụng công nghệ mới giúp các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới và
làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường.giữa chi phí nghiên cứu và phát triển
khả năng sinh lời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Các doanh nghiệp đàu tư
cho việc nghiên cứu và phát triển cao thì khả năng kiếm lời cũng sẽ cao hơn.
2.3.1.6 Dân số: Môi trường dân số bao gồm các yếu tố như:quy mô dân
số,tuổi tác,giới tính,trình độ học vấn,nghề nghiệp,…Đó là những khía cạnh
được người làm marketing quan tâm nhiều nhất bởi nó có liên quan trực tiếp
đến con người và con người cũng chính là tác nhân tạo ra thị trường.
- Một số thay đổi về dân số tác động đến hoạt động của doanh nghiệp:
+ Những chuyển dịch về kinh tế