Một số vấn đề về vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại dịch vụ Hà Nội - Pdf 24

MỤC LỤC
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu.
Khi đổi mới nền kinh tế, nhất là bắt đầu từ những năm 90, Việt Nam chuyển mạnh
sang nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì bộ
mặt của toàn nền kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến. Thị trường bán lẻ là một trong
những thị trường có nhiều thay đổi sâu sắc nhất trong toàn bộ nền kinh tế. Khi nền kinh tế
còn trong giai đoạn tập trung quan liêu bao cấp phương thức phân phối chủ yếu của thị
trường bán lẻ là tem phiếu. Số lượng, chủng loại, giá cả hàng hoá đều do sự chỉ đạo mang
tính chủ quan của Nhà nước. Sau những năm 90 thì hình thức phân phối này hoàn toàn bị
thay thế. Thay vào đó là hình thức phân phối mang tính chất thị trường. Giá cả, số lượng,
chủng loại hàng hoá sản xuất hay nhập khẩu đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Đồng
thời là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống chợ và các doanh nghiệp bán lẻ thuộc thành
phần kinh tế ngoài Nhà nước. Các doanh nghiệp bán lẻ Nhà nước mất dần vai trò phân
phối chủ đạo của mình trên thị trường bán lẻ. Lúc này, thị trường bán lẻ thực sự thể hiện
được vai trò của mình là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và góp phần thúc đẩy
sản xuất, tái sản xuất.
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO. Sự kiện này mở ra nhiều cơ hội song không ít thách thức đối với thị trường bán lẻ
còn yếu kém của Việt Nam. Nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam để
đưa ra được những chiến lược phát triển phù hợp là việc rất cần thiết. Bởi vậy, em đã chọn
đề tài nghiên cứu:
“ Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO.”
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt
Nam, từ đó rút ra những điểm yếu điểm mạnh của thị trường, để đề xuất một số giải pháp

đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
1.1.2. Các loại hình bán lẻ
Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng. Dựa trên các tiêu chí khác nhau
người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Ví dụ phân loại theo quy mô
thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ. Hay phân loại theo các chủ thể
tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá
thể hộ gia đình... Tuy nhiên, phổ biến và dễ hiểu nhất thì người ta thường phân loại thị
trường bán lẻ theo tiêu thức cách thức bán hàng và hàng hoá kinh doanh.
Theo đó, trong thị trường bán lẻ các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ
không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ:
- Bán lẻ tại cửa hàng: Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay. Theo loại bán lẻ này,
các tổ chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định. Tại đây, người ta tổ
chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán trực tiếp. Các
địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa hàng mà người ta phân
loại ra các loại cửa hàng khác nhau. Hiện nay có các loại cửa hàng bán lẻ như sau:
Chợ: Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống lâu đời và phổ biến khắp nơi trên thế
giới. Chợ có thể hiểu là một nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người tiêu dùng để tiêu thụ
các loại hàng hoá khác nhau. Hoạt động buôn bán của chợ có thể diễn ra hàng ngày hoặc
định kỳ theo một khoảng thời gian nhất định.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
4
Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại, mới xuất hiện tại Việt Nam. Siêu thị
được hiểu là một cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được trang bị
cơ sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu phong phú của
người dân. Giá cả tại siêu thị thường cố định theo sự ấn định của người kinh doanh không
linh hoạt như giá cả tại chợ là kết quả thương lượng giữa người bán và người mua. Siêu thị
thường phải đáp ứng được một số quy định nhất định về cơ sở vật chất: quy mô, địa điểm,
kho... Quy định này tuỳ thuộc vào cơ quan quản lý.
Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến. Các cửa hàng này

chuyên bán hàng cho trẻ em, người già...
Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hoá với giá thấp hơn với
giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản phẩm.
Cửa hàng kho: Cửa hàng này mang tính chất như một kho hàng. Các cửa hàng này
thường không trưng bày hàng hoá, không quảng cáo nhằm tận dụng diện tích và chi phí.
Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm: Cửa hàng thuộc sở hữu của người sản xuất. Đây
là kênh phân phối của trực tiếp của người sản xuất tới người tiêu dùng.
- Bán lẻ không qua cửa hàng: Theo đó các tổ chức và cá nhân bán lẻ không cần thiết phải
có một địa điểm bán hàng cố định. Người ta có thể bán hàng tận nhà, bán hàng qua bưu
điện, bán hàng qua mạng…
- Bán lẻ dịch vụ: Tức là, ở đây hàng hoá là dịch vụ chứ không phải là hàng hoá đơn thuần.
Các loại hình bán lẻ dịch vụ như: cho thuê phòng ở, giặt là, cho thuê phương tiện…
Cùng với sự phát triển của cuộc sống thì các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng và
bán lẻ dịch vụ ngày càng phổ biến. Do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, công nghệ
viễn thông đặc biệt là mạng internet thì hiện nay hoạt động thương mại điện tử (giới thiệu,
bán hàng và thanh toán qua mạng) đang rất phát triển. Đồng thời, thu nhập của người tiêu
dùng tăng lên dẫn tới nhu cầu đi lại, nghỉ ngơi, ăn uống ... tăng lên kéo theo các loại hình
dịch vụ tăng lên không ngừng.
1.1.3. Vai trò của hoạt động bán lẻ
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng, phục vụ được
nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hoá. Nó điều tiết hàng hoá từ nơi sản xuất tới
người tiêu dùng. Nó điều tiết hàng hoá ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn,
vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu. Hoạt động bán lẻ phát triển nó đảm bảo cung
cấp hàng hoá công bằng cho mọi người dân trên khắp các vùng trên cả nước. Do vậy, hoạt
động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu
vực.
Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ phát triển. Khi
đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.
________________________________________________________________________

phản hồi tới nhà sản xuất để nhà sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất để đưa ra những sản
phẩm tốt nhất, phù hợp nhất với nhu cầu của người tiêu dùng.
- Chức năng vận tải: dựa vào việc mua bán hàng hoá của nhà sản xuất để bán cho người
tiêu dùng thì nhà bán lẻ có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hoá trong hệ
thống phân phối của mình.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
7
- Chức năng phân loại và tiêu chuẩn hoá các loại hàng hoá: Người tiêu dùng có nhu cầu,
thu nhập rất đa dạng. Người tiêu dùng ở nông thôn có thu nhập khác với người tiêu dùng ở
thành thị. Người trẻ có yêu cầu về mẫu mã chất lượng hàng hoá khác với người già. Hoạt
động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp xếp, phân loại số lượng hàng hoá gần nhất với nhu
cầu của người tiêu dùng. Tiêu chuẩn hoá là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất
giữa các nhà sản xuất có thể thay thế cho nhau.
- Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm: Đối với mọi hàng hoá đều có thời hạn sử dụng
và điều kiện bảo quản nhất định. Chức năng này của hoạt động bán lẻ là đảm bảo hàng hoá
đảm bảo chất lượng nguyên gốc nhất có thể khi đến tay người tiêu dùng. Thước đo của
chức năng này là khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng.
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà bán
lẻ và nhà sản xuất. Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá của mình thì sự chia sẻ rủi
ro bằng không. Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự
chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hoá cho khách hàng. Khi đó rủi ro đối với
nhà sản xuất đã được chuyển tới nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó. Trong
trường hợp các nhà sản xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ
cho nhà sản xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán,
bảo hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện chức năng
chế biến nhất là đối với hàng thực phẩm. Ngoài ra, các nhà bán lẻ còn thực hiện các công
việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác...
Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng. Nó được coi là

Người
trung gian
Người tiêu
dùng
Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Môi giới
Cửa hàng nhượng
quyền thương mại
Cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm
Cửa hàng bán lẻ độc lập
Cửa hàng đại lý, cửa
hàng htx bán lẻ….
* Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hoá có thể đến tay của người tiêu dùng theo
nhiều con đường dài ngắn khác nhau:
- Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hoá của mình tới tận tay người tiêu dùng mà không
qua một khâu trung gian nào khác. Hàng hoá được bán tại các cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm của mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt hàng...
+ Ưu điểm: Ưu điểm của trường hợp này là hàng hoá tiêu thụ nhanh chóng. Vì hàng hoá
đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng thời, do không phải qua khâu
trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Đặc biệt, ưu điểm lớn
nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết nhu cầu của khách hàng.
+Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hoá theo con đường này và đảm bảo được nguyên
tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và ổn định.
Trên thực tế, rất khó doanh nghiệp có thể tìm kiếm được những người tiêu dùng đáp ứng

- Ngoài ra, hàng hoá có thể đến tay người tiêu dùng qua những con đường dài hơn. Hàng
hoá đi từ nhà môi giới đến những nhà bán buôn rồi đến những nhà bán lẻ cuối cùng mới là
người tiêu dùng.
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này người sản xuất có thể chuyên tâm vào sản xuất, khâu
phân phối được giao phối các người môi giới.
+ Nhược điểm: Chi phí tăng lên rất nhiều.
+ Ứng dụng: Trường hợp này áp dụng khi hàng hoá phải thâm nhập vào những thị trường
có những luật lệ quy tắc khó khăn hoặc là những thị trường đầu tiên mà người sản xuất bán
hàng hoá của mình. Tại những thị trường này, để có thể bán được hàng hoá thì cần những
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
11
người am hiểu sâu sắc thị trường, có mối quan hệ tốt với các người bán buôn. Người đó
chính là người môi giới.
Cụ thể phân tích trên thành sơ đồ như sau:
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
12
Sơ đồ 1.3: Các kênh phân phối sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Trên thực tế, người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường để đưa hàng
hoá của mình tới tay người tiêu dùng. Họ có thể bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng
thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bán buôn cho những người bán lẻ để
phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ có thể bán hàng thông qua môi giới khi đưa
hàng hoá của mình sang thị trường nước ngoài. Kết hợp nhiều con đường phân phối khác
nhau giúp người sản xuất vừa am hiểu nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất vừa
tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn. Khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hoá của mình
thì người sản xuất cần căn cứ vào:
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
13

Người
bán lẻ
Người
tiêu dùng
+ Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các góc độ sau: số
lượng của hàng hoá thị trường cần nhiều hay ít; quy mô, những khu vực có nhu cầu đối với
sản phẩm hàng hoá; chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Điều kiện của người sản xuất: Điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về mạng lưới phân phối
của người sản xuất. Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người sản xuất muốn tung ra sản
phẩm mới hay là mở rộng thị trường.
+ Chiến lược phân phối hàng hoá của người sản xuất.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tới thị trường bán lẻ.
+ Các chính sách của Nhà nước: Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và
phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Các phương thức hoạt động của thị trường
bán lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị trường
có quản lý... Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật sẽ quyết định
phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Hiện nay, chính sách của Nhà nước Việt
Nam là thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị trường có quản lý. Chính sách của
Nhà nước cũng thể hiện định hướng, chiến lược phát triển thị trường bán lẻ theo từng
nhóm hàng; nhóm đối tượng ... tham gia vào thị trường. Ví dụ như tại Việt Nam các chính
sách liên quan tới thị trường bán lẻ đều có những quy định hạn chế tiêu dùng những mặt
hàng cao cấp hay hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ trong nước.
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh giữa
các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ. Các thị trường bán lẻ càng phát triển
thị các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng và tạo ra môi trường kinh
doanh công bằng hơn. Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can
thiệp của vào các hoạt động kinh doanh thương mại.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
14

Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM.
2.1. Thị trường bán lẻ Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO.
Các cam kết trong WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường bán lẻ:
Trong cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ trong đó ngành dịch
vụ phân phối hàng hóa được thương lượng rất kỹ. Quá trình mở cửa thị trường phân phối
hàng hóa gồm 3 giai đoạn cơ bản
1
:
Giai đoạn 1: trước ngày 1/1/2008 các doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia cung
cấp dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ phải liên doanh với các doanh nghiệp của Việt Nam.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, phần vốn góp của nước ngoài sẽ bị giới hạn ở mức tối
đa là 49%.
Giai đoạn 2: 1/1/2008. Tỷ lệ góp vốn 49 % sẽ được dỡ bỏ. Các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài được phép làm đại lý, là nhà bán buôn và kinh doanh bán lẻ tất cả các mặt hàng
nhập khẩu hợp pháp và các sản phẩm trong nước theo quy định của pháp luật, ngoại trừ xi
măng và clinker, lốp (bào gồm cả lốp máy bay), sản phẩm giấy, các loại máy kéo, xe tải, xe
con và xe máy, sắt và thép, thiết bị nghe nhìn, rượu các sản phẩm có cồn, phân bón.
Giai đoạn 3: Tại thời điểm 1/1/2009, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được
phép tham gia làm đại lý, kinh doanh bán buôn và bán lẻ các loại sản phẩm: máy kéo, xe
tải, xe con và xe máy. Sau 3 năm tính từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, tất cả những
hạn chế trên sẽ được dỡ bỏ. Việc thành lập các đại lý cung cấp dịch vụ bán lẻ sẽ được cho
phép trên cơ sở “xem xét nhu cầu nền kinh tế”.
2.2. Khái quát chung về thị trường bán lẻ Việt Nam.
2.2.1. Thị trường bán lẻ từ năm 1968 - nay
1
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
16

tăng kỷ lục 31%, cao gấp 4,71 lần tốc độ tăng GDP (bình quân 3 năm 2006 - 2008 tăng
26,32%/năm, cao gấp 3,46 lần tốc độ tăng GDP).
2.2.2. Nhu cầu đa dạng về hàng hóa
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
17
Cùng với sự phát triển của kinh tế nhu cầu về hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú,
do thu nhập của người dân tăng lên cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ con
người có thể sản xuất được nhiều loại hàng hóa khác nhau để thỏa mãn nhu cầu ngày càng
cao của xã hội. Trong nền kinh tế thị trường quan hệ cung cầu sẽ định hình thị trường, “có
cầu ắt có cung” thế giới có hơn 6 tỷ người với những tầng lớp người sẽ có nhu cầu về hàng
hóa khác nhau. Tầng lớp thượng lưu có nhu cầu khác với tầng lớp trung lưu về 1 mặt hàng
nào đó. Mà để tồn tại và phát triển con người lại có vô số nhu cầu khác nhau từ ăn mặc, ở,
đi lại,học hành,....và có hàng triệu triệu công ty, mỗi công ty cung cấp các nhu cầu chưa
được thỏa mãn của con người. Chỉ từ nhu cầu đi lại có nhu cầu sử dụng xe máy, xe đạp, ô
tô, máy bay, tàu thủy,.... trong lĩnh vực sản xuất ô tô lại có rất nhiều công ty sản xuất nhằm
thỏa mãn từng đoạn thị trường. Trên thực tế nhu cầu của con người là vô tận như họ bị giới
hạn bởi khả năng tài chính vì vậy nghiên cứu xem nhu cầu nào chưa được đáp ứng để cung
cấp các sản phẩm phục vụ nhu cầu đó thì doanh nghiệp sẽ thành công trong lĩnh vực của
mình.
2.3. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam.
Từ năm 2005 cho tới nay thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển nhanh chóng với tốc độ
tăng trên 20% mỗi năm.Trong giai đoạn này có sự tham gia của các tập đoàn bán lẻ lớn
trên thế giới. Chính những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài này đã đem tới động lực mới,
phương thức kinh doanh mới… cho thị trường bán lẻ Việt Nam Cùng với chu kỳ suy thoái
kinh tế thế giới đã tạo ra 1 bức tranh muôn mầu về thị trường bán lẻ trong nước.
2.3.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ.
Theo số liệu của tổng cục thống kê thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả
nước luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%. Số liệu chi tiết thể hiện thông qua biểu đồ.
Biểu đồ 2.1. Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2005-2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status