Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Lời nói đầu
Luật doanh nghiệp ra đời (Quốc hội thông qua Ngày 12/6/1999) đã mở đờng
cho kinh tế ngoài quốc doanh phát triển . Sau gần 4 năm kể từ khi Luật doanh
nghiệp có hiệu lực, cả nớc đã có thêm gần 72.000 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (DNNQD) mới đợc thành lập. Một con số gần gấp đôi số DNNQD đã có
trớc đó . Đó là một dấu hiệu tốt đẹp đối với kinh tế Việt Nam nói chung và đối
với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.
Tuy nhiên, hầu hết các DNNQD đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ
lệ khoảng 95%, số doanh nghiệp có số vốn dới 500 triệu chiếm đến 95%, số
doanh nghiệp có số vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm có khoảng 1,4%. Để các
DNNQD tồn tại và phát triển mạnh trong kinh tế thị trờng thì các doanh nghiệp
này cần một lợng vốn rất. Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn vốn trong đó có
nguồn vốn rất quan trọng vay từ ngân hàng của các DNNQD hiện nay là rất
khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Sau gần 4 năm học tập tại Khoa Ngân hàng Tài chính, Tr ờng Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội và một thời gian ngắn thực tập tại NHNo&PTNT Việt Nam
Chi nhánh Thăng Long, em viết đề tài này với mục đích làm sáng tỏ một số
những nguyên nhân làm các DNNQD gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng ở Chi nhánh Thăng Long .
Đề tài này gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Vài nét về các DNNQD và Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
- Thực trạng mở rộng cho vay của Chi nhánh Thăng Long đối với các
DNNQD.
- Nguyên nhân và đề nghị một số giải pháp thực hiện.
Sinh viên : Nguyễn Hữu Nam
Lớp Ngân Hàng K42B
1
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Nội dung
Chơng I: Mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài
lĩnh vực kinh tế, các thành phần kinh tế phi Nhà nớc đều bị coi là bất hợp pháp nên
không có một DNNQD chính thức đợc hoạt động. Cùng với sự phát triển đi lên
của kinh tế xã hội thì Đảng và Nhà nớc đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế
phát triển nhất là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Khi đó các DNNQD mới
có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Nh phần trên đã nói, chỉ trong vòng 4 năm
gần đây con số các DNNQD đợc thành lập mới là khoảng 72000 doanh nghiệp,
gần gấp đôi so với số doanh nghiệp thành lập trớc đó. Nh vậy, hầu hết các doanh
nghiệp này dới 4 tuổi, doanh nghiệp lớn tuổi nhất mới chỉ là 15 năm. Một con số
quả nhỏ bé nếu so với các doanh nghiệp ở nớc ngoài có những doanh nghiệp đợc
thành lập từ hàng trăm năm nay.
Thứ ba, các DNNQD tuy đông về số lợng nhng quy mô vốn và lao động nhỏ.
Mặc dù có số lợng lớn và có tốc độ tăng trởng cao nh đã nêu ở trên
nhng đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Chiếm khoảng 95% ), số doanh
nghiệp có số vốn dới 500 triệu chiếm đến hơn một nửa (51 %), còn số doanh
nghiệp có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 1,4%. Do các doanh nghiệp ít vốn
nh vậy nên các doanh nghiệp này hoạt động rất khó khăn nhất là khó khăn trong
chống đỡ với các biến động bất lợi trong sản xuất, kinh doanh. Do đó khả năng
phá sản của các này là rất lớn.
Quy mô lao động thì nhỏ bé, trung bình mỗi DNNQD sử dụng khoảng 20 lao
động, số doanh nghiệp sử dụng trên 100 lao động chỉ từ 600 đến 700 doanh nghiệp
mà đa số lao động này cha có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (Chiếm đến 83%).
Thứ t, trình độ công nghệ và quản lý lạc hậu.
Theo điều tra ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì chỉ có 17% thiết bị hiện
đại, 52% thiuết bị trung bình còn lại là các thiết bị lạc hậu. Riêng ngành công
nghiệp sản xuất, chế tạo thì có đến 62% máy móc, thiết bị lạc hậu từ những năm
50, 60. Công nghệ lạc hậu dẫn đến sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có giá thành cao,
chất lợng mẫu mã không đáp ứng yêu cầu của ngời tiêu dùng nên sản phẩm rất
khó cạnh tranh đợc với các sản phẩm cùng loại trên thị trờng.
Lớp Ngân Hàng K42B
3
Lớp Ngân Hàng K42B
4
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
1.1.3.1.Những u điểm.
Thứ nhất, các DNNQD có những đóng góp lớn vào phát triển kinh tế đất nớc.
Các DNNQD hoạt động trong hầu hết những nghành, những lĩnh vực kinh tế:
Nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp,... đặc biệt là trong lĩnh vực thơng
mại, dịch vụ. Các DNNQD hoạt động linh hoạt, thích ứng nhanh, đáp ứng nhanh
những nhu cầu của thị trờng góp phần làm cho các hoạt động kinh tế trở lên linh
động, làm thay đổi diện mạo nền kinh tế. Theo các nhà kinh tế ớc tính thì thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay đóng góp đến 42% vào tổng sản phẩm
quốc nội (GDP ) và đóng góp vào tăng trởng GDP cao hơn so với thành phần kinh
tế Nhà nớc. Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, chỉ số đóng góp vào GDP của các
DNNQD trung bình hàng năm tăng hơn 10%.
Tốc độ tăng trởng của các thành phần kinh tế.
(Năm trớc bằng 100%) Đơn vị tính : %
Thành phần kinh tế 1995 1999 2000 2001 2002
Tốc độ tăng trởng chung
Trong đó :
- DNNN
- DN t nhân
- DN hỗn hợp
109,5
109,4
109,3
112,7
104,8
102,6
103,2
106,2
là đối tác làm ăn, vừa là đối thủ cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác nên nó là nhân tố quan trọng thúc đẩy các thành phần kinh tế
phát triển.
Thứ ba, các DNNQD góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng CNH HĐH.
Một cơ cấu kinh tế hiện đại là cơ cấu kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
cao trong GDP. Các DNNQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong th-
ơng mại và dịch vụ do đó nó là trung gian, là chiếc cầu nối để chuyển dịch từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Bởi vì : Khi doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ thì nó sẽ trực tiếp đóng góp vào lĩnh vực
này, ngoài ra nó còn cung cấp cho nông nghiệp máy móc, phân bón, thuốc trừ
sâu...làm nâng cao năng suất trong lĩnh vực nông nghiệp . Khi đó lao động trong
nông nghiệp sẽ d thừa và chuyển sang lĩnh vực công nghệp và dịch vụ.
Thứ t, các DNNQD phát huy tốt các nguồn lực của nền kinh tế.
Kinh tế Nhà nớc không thể bao quát tất cả, không thể phát huy hết mọi nguồn
lực của nền kinh tế .
- Có thể nói tiềm lực đầu tiên mà các DNNQD huy động đó chính là nguồn vốn
rất lớn trong dân c. ở nớc ta lợng vốn trong dân c rất lớn mà thành phần kinh tế
Nhà nớc không thể huy động hết, trong những năm gần đây cùng với sự gia
tăng mạnh mẽ số DNNQD là số vốn đăng ký thêm rất lớn. Chỉ trong 4 năm gần
số vốn đăng ký thêm của các DNNQD là 144.000 tỷ đồng, cha kể số vốn vay
của các doanh nghiệp này.
- Tiềm lực thứ 2 mà các doanh nghiệp này khơi dậy đó chính là lực lợng lao
động. Trớc đây có đến 80% lực lợng lao động là trong lĩnh vực nông nghiệp,
làm việc chủ yếu là thủ công, năng suất thấp, con số thất nghiệp thực tế là rất
lớn. Trong khi đó khu vực kinh tế Nhà nớc lại chậm phát triển, khu vực công
Lớp Ngân Hàng K42B
6
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
nghiệp và dịch vụ không thúc đẩy đợc nông nghiệp phát triển. Ngày nay, các
1.2.Mở rộng cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
1.2.1.Quan niệm về mở rộng cho vay.
Cho vay, là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận theo
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Mở rộng cho vay của ngân hàng đối với các DNNQD chính là phản ánh sự gia
tăng khối lợng cho vay đối vớ các DNNQD cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Mở rộng theo chiều rộng tức là sự tăng lên về quy mô của đối tợng, của các
khoản vay nh: số d nợ tăng lên, số khách hàng tăng lên...
- Mở rộng theo chiều sâu là sự thay đổi về tính chất, cơ cấu theo hớng hợp lý của
các khoản vay nh: Cơ cấu của các khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn hợp lý;
Tỷ trọng d nợ của các DNNQD so với các thành phần kinh tế khác...
1.2.2.Nội dung của mở rộng cho vay các DNNQD .
Nội dung của mở rộng đợc phản ánh thông qua các chỉ tiêu về d nợ (số d nợ, tỷ
trọng d nợ, cơ cấu của d nợ, tốc độ tăng d nợ, sự thay đổi cơ cấu, tỷ trọng d nợ và
chỉ tiêu về nợ quá hạn); về số doanh nghiệp có quan hệ vay vốn với ngân hàng; về
sự đa dạng các hình thức cho vay, sự đa dạng các hình thức bảo đảm.
1.2.2.1.Các chỉ tiêu về d nợ.
- Số d nợ của các DNNQD phản ánh số tiền mà ngân hàng đã và vẫn đang còn cho
vay các DNNQD. Số d nợ mà càng lớn phản ánh mức độ mở rộng cho vay các đối
tợng là DNNQD càng cao. Tuy nhiên, nghiên cứu mở rộng cho vay ta phải đặt
trong mối quan hệ với các thành phần khác, đặt trong mối quan hệ về thời gian.
Chính vì vậy mà số d nợ không thể phản ánh hết thực chất của việc mở rộng cho
vay các DNNQD của ngân hàng mà phải xem xét đồng thời các chỉ tiêu, các khía
cạnh khác nhau của mở rộng cho vay.
- Tốc độ tăng d nợ là tỷ lệ số d nợ năm sau cao hơn năm trớc so với số d nợ năm
trớc. Tốc độ này phản ánh mức độ mở rộng cho vay nhanh hay chậm của ngân
hàng. Nếu tỷ lệ này dơng có thể kết luận rằng thời điểm sau đã có sự mở rộng cho
vay so với thời điểm trớc, và nếu qua thời gian tỷ lệ này tăng dần thì có thể kết
rộng sản xuất, kinh doanh, có nhu cầu lớn cho đầu t đổi mới công nghệ. Nhu cầu
vốn nào tăng cũng là dấu hiệu tốt đối với các DNNQD. Miễn là, các doanh nghiệp
sử dụng loại vốn nào có hiệu quả, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và ngân hàng
Lớp Ngân Hàng K42B
9
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
thì tỷ trọng d nợ ngắn hạn tăng hay tỷ lệ d nợ trung và dài hạn tăng cũng đều hợp
lý và là sự mở rộng cho vay các DNNQD. Chẳng hạn, do đầu t mở rộng sản xuất
nên các doanh nghiệp có hiệu quả cao nên nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của
các doanh nghiệp này tăng cao làm tỷ trọng d nợ trung và dài hạn tăng cao, mặc
dù có thể tổng d nợ không tăng nhng có sự chuyển dịch theo nhu cầu của các
DNNQD từ vay ngắn hạn sang vay dài hạn thì đó cũng là sự mở rộng cho vay.
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn. Nợ quá hạn của các DNNQD là toàn bộ số d nợ
(cả gốc và lãi) của các DNNQD đã đến hạn thanh toán nhng các doanh nghiệp này
không thanh toán mà cha đợc xử lý cho gia hạn nợ, xoá nợ Tỷ lệ nợ quá hạn của
các DNNQD là tỷ lệ giữa số d nợ quá hạn trên tổng d nợ của các doanh nghiệp
này. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn không trực tiếp phản ánh sự mở rộng cho vay các
DNNQD nhng nó rất quan trọng trong đánh giá sự an toàn và hiệu quả của mở
rộng cho vay. Mục tiêu của hoạt động ngân hàng là an toàn và hiệu quả do đó việc
mở rộng cho vay cũng cần phải đảm bảo hiệu quả nên ngời ta thờng khống chế
mức nợ quá hạn dới một mức nào đó chứ không phải là mở rộng bằng mọi giá.
1.2.2.2.Số DNNQD vay vốn ở ngân hàng.
Đó chính là số lợng các DNNQD có quan hệ vay vốn của ngân hàng trong một
thời gian nhất định thờng là một năm. Số lợng các doanh nghiệp là con số cụ thể
nhất phản ánh quá trình mở rộng cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng.
Nghiên cứu quá trình mở rộng thông qua số doanh nghiệp cũng cần phải xem xét
quá trình gia tăng của số doanh nghiệp vay vốn, đồng thời cũng phải xem sự biến
động về số tiền mỗi làn vay vốn. Qua đó có thể đánh giá một cách bao quát việc
mở rộng cho vay của ngân hàng.
1.2.2.3.Đa dạng các hình thức cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng .
Đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng một hạn
mức tín dụng. Hạn mức đó chính là số d tối đa tại một thời điểm.
Phơng thức này áp dụng đối với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn th-
ờng xuyên, sản xuất, kinh doanh ổn định.
- Xác định hạn mức tín dụng .
Ngân hàng sau khi nhận đủ các tài liệu của doanh nghiệp, nếu đồng ý thì ngân
hàng xác định hạn mức tín dụng:
Lớp Ngân Hàng K42B
11
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Nhu cầu vốn Doanh thu hoặc chi phí sản xuất kinh doanh (KH)
lu động kỳ =
kế hoạch Vòng quay vốn lu động trong kỳ (KH)
Hạn mức Nhu cầu vốn Vốn tự có vốn khác
tín dụng = lu động - của khách - (nếu có )
(KH) trong kỳ (KH) hàng tham gia
Tổng doanh thu thuần
Số
vòng quay của vốn lu động =
Vốn huy động bình quân
Vốn tự có tham gia đợc xác định là toàn bộ vốn chủ sở hữu bên nguồn vốn của
bảng cân đối kế toán hoặc vốn hoạt động thuần (Tài sản lu động trừ đi nợ ngắn
hạn)
- Phát tiền vay: Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời gian hiệu lực của hợp đồng
tín dụng, mỗi lần vay vốn doanh nghiệp và ngân hàng lập giấy nhận nợ kèm theo
các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng. Việc
theo dõi phát tiền vay trên giấy nhận nợ phải cùng đồng thời theo dõi trên phụ lục
hợp đồng tín dụng .
- Lãi suất cho vay: Căn cứ vào quy định lãi suất của Tổng giám đốc
tiền vay phải cộng với số gốc phải chia ra để trả nợ làm nhiều kỳ hạn trong thời
gian vay.
Hình thức này chủ yếu dùng trong cho vay đời sống của cá nhân, hộ gia đình, còn
đối với các doanh nghiệp việc cho vay trả góp thờng phát sinh khi có các nhu cầu
vay vốn nh: Xây dựng các công trình phúc lợi cho cán bộ, công nhân viên (Nhà
mẫu giáo, nhà văn hoá...)
Do hình thức này là vay trung và dài hạn nên ngân hàng cần phải chú ý cân đối
ngồn vốn trung và dài hạn.
Lớp Ngân Hàng K42B
13
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Cho vay theo hạn mức thấu chi .
Phơng thức này hiện cha đợc NHNo&PTNT Việt Nam quy định chi tiết nên Chi
nhánh Thăng Long có nhu cầu thì phải lập đề án trình tổng giám đốc thì mới đợc
thực hiện .
Phơng thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay theo hạn mức thấu
chi, có thu nhập ổn định và có tín nhiệm với ngân hàng .
- Tài khoản thấu chi: Muốn vay theo hình thức này khách hàng phải mở tài khoản
thấu chi tại ngân hàng .
-Số d trên tài khoản thấu chi có thể d nợ hoặc d có. D có có nghĩa là khách
hàng đang gửi tiền vào ngân hàng và đợc hởng lãi theo lãi suất tiền gửi không
kỳ hạn, d nợ tài khoản thấu chi có nghĩa là khách hàng đang vay tiền ngân
hàng và phải chịu lãi tiền vay theo thoả thuận.
-Khách hàng phải có cam kết chuyển thu nhập của mình vào tài khoản thấu
chi.
-Khách hàng hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung vầ tính hợp pháp của
các khoản chi của khách hàng trên tài khoản thấu chi .
- Hạn mức thấu chi.
Chi nhánh Thăng Long sau khi nhận đủ hồ sơ của khách hàng nếu đồng ý sẽ xác
định hạn mức thấu chi.
đầu t duy trì cho cả thời gian đầu t của dự án, phân định các kỳ hạn nợ, xác
định lãi suất ...
Lớp Ngân Hàng K42B
15
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Mức Tổng nhu cầu Vốn tự có vốn khác
cho = vốn của phơng - chủ dự án - (nếu có )
vay án , dự án tham gia
Thời hạn cho vay = Thời gian XDCB + Thời gian trả nợ
Mức cho vay
Thời hạn trả nợ =
KH để trả nợ khác + LN +Nguồn
- Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện của dự án .
- Mỗi lần rút vốn vay, doanh nghiệp lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm vi mức
cho vay đã thoả thuận, kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với mục đích sử
dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.
- Lãi suất cho vay: Căn cứ thao quy định của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt
Nam, Chi nhánh Thăng Long và khách hàng thoả thuận ghi vào hợp đồng tín dụng
hoặc giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng.
- Việc cho vay theo dự án đầu t, ngân hàng cần phải kết hợp với các hình thức cấp
tín dụng khác nh: Thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, có nh
vậy ngân hàng mới thu đợc doanh thu cao nhất.
- Cho vay theo phơng thức này thờng là các dự án lớn cần có nguồn vốn lớn, ngân
hàng cần có thời gian huy động và trả lãi huy động do vậy ngân hàng và khách
hàng thoả thuận mức phí trả trong trờng hợp khách hàng trả trớc hạn, phí cam kết
trả một phần chi phí huy động của ngân hàng, trong trờng hợp khách hàng đã ký
hợp đồng tín dụng nhng thực tế không vay.
Cho vay hợp vốn.
Cho vay hợp vốn là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay một dự án của
khách hàng. Cho vay hợp vốn thờng xảy ra trong các trờng hợp sau:
178/1999/NĐ-CP và các hớng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam về bảo đảm tiền
vay thì NHNo&PTNT Việt Nam có thể cho vay có bảo đảm hoặc không có tài sản
bảo đảm theo các hình thức sau:
Lớp Ngân Hàng K42B
17
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
Các hình thức bảo đảm bao gồm:
Thứ nhất, Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay: Tài sản cầm cố thế
chấp phải thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền quản lý của doanh nghiệp.
Đồng thời, tài sản phải là tài sản dễ phát mại.
Cầm cố: Cầm cố là hình thức theo đó doanh nghiệp phải chuyển quyền kiểm soát
tài sản sang cho ngân hàng trong thời hạn cam kết (thờng là thời hạn vay).
Cầm cố thờng áp dụng với những tài sản dễ kiểm soát, dễ bảo quản, đồng thời việc
ngân hàng nắm giữ không ánh hởng đến hoạt động bình thờng của doanh nghiệp.
Nh các loại chứng khoán, các hợp động, sổ tiết kiệm, kim loại quý, ngoại tệ
mạnh...Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản
bảo đảm là không an toàn cho ngân hàng, đó thờng là các tài sản thanh khoản cao.
Khi thực hiện cho vay theo hình thức bảo đảm cầm cố ngân hàng kiểm tra tính
tính hợp pháp, hợp lệ, tính an toàn của vật cầm cố nh quyền sở hữu của khách
hàng, khả năng chi trả của ngời cam kết (công ty phát hành chứng khoán, công ty
bảo hiểm...). Ngân hàng và khách hàng thoả thuận định giá vật cầm cố, thoả thuận
và ký hợp đồng cầm cố. Trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối với các bảo
đảm cầm cố nh chuyển giao vật cầm cố, nghĩa vụ quản lý vật cầm cố, quyền phát
mại vật cầm cố khi khách hàng vi phạm các cam kết trong hợp đồng tài trợ...
Thế chấp : Là hình thức theo đó doanh nghiệp vay vốn phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận quyền về tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian
cam kết.
Các tài sản bảo đảm theo hình thức này thờng là tài sản tham gia vào quá trính sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (máy móc, thiết bị, hàng hoá...). Những tài sản
này thờng cồng kềnh, phân tán, bán hoặc chuyển nhợng khó khăn.
thể sử dụng cho mục đích khác, trong nhiều trờng hợp không làm ứ đọng vốn của
doanh nghiệp.
Ngân hàng cũng áp dụng các biện pháp cho vay không cần tài sản bảo đảm.
Thứ nhất, Các doanh nghiệp có quan hệ truyền thống với ngân hàng; sản xuất,
kinh doanh có hiệu quả; tình hình tài chính đảm bảo yêu cầu trả nợ; có dự án, ph-
ơng án sản xuất, kinh doanh hợp lý; cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích thì
có thể đợc ngân hàng cho vay không cần bảo đảm bằng tài sản.
Thứ hai, tổ chức tín dụng cho vay không có bảo đảm do sự chỉ định của chính
phủ. Đây là hình thức u tiên, trợ cấp của Nhà nớc đối cới các thành phần kinh tế
Lớp Ngân Hàng K42B
19
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
kếm phát triển, cần khuyến khích phát triển nh : Hộ nông dân nghèo, các đối tợng
vùng sâu, vùng xa, các lĩnh vực công ích Do đó, các DNNQD th ờng không nằm
trong đối tợng u tiên trên.
1.2.3.ý nghĩa của mở rộng cho vay các DNNQD của ngân hàng.
1.2.3.1.Đối với các DNNQD .
Mở rộng cho vay có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với các DNNQD :
Thứ nhất, Mở rộng cho vay giúp các DNNQD có cơ hội huy động vốn, làm tăng
quy mô vốn của doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh .
Nh đã nói ở trên các DNNQD hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần rất
nhiều vốn cả vốn ngắn hạn lẫn vốn trung và dài hạn để duy trì sản xuất, kinh
doanh ; để đầu t mở rộng sản xuất; đầu t công nghệ, nâng cao chất lợng sản
phẩm...Trớc hết ta xem các nguồn mà các DNNQD có thể huy động hiện nay là:
- Nguồn vốn chủ sở hữu.
Vốn tự có ban đầu: Đây là số vốn mà chủ sở hữu hoặc các thành viên chủ sở hữu
góp lại với nhau khi thành lập doanh nghiệp hình thành nên vốn điều lệ ban đầu.
Nh đã nói, trên một nửa các DNNQD có số vốn này dới 500 triệu.
Vốn từ lợi nhuận để lại: Đây là nguồn vốn chủ sở hữu đợc bổ sung từ lợi nhuận
doanh nghiệp. Nguồn vốn này không đáng kể bởi vì: Thứ nhất, muốn có nguồn
một DNNQD nào phát hành đợc do các điều kiện của việc phát hành trái phiếu.
Hầu hết các nguồn có thể huy động đợc của các DNNQD đều rất khó khăn. Vậy
thì nguồn tín dụng của ngân hàng là một giải pháp thích hợp và hiệu quả để các
DNNQD có thể huy động để phục vụ cho hoạt động của mình.
Nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng giúp các doanh nghiệp giả quyết những vấn đề
sau:
- Nguồn huy động từ các tổ chức tài chính tín dụng có thể nói đây là nguồn
vốn cho sản xuất , kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp. Có những doanh
nghiệp có vốn hình thành từ ngân hàng chiếm đến 80% tổng vốn kinh doanh. Vốn
này sử dụng để mua, sắm NVL, CC-DC, trả tiền công, tiền lơng....thông qua các
khoản vốn vay ngắn hạn.
- Nguồn vốn từ ngân hàng đã góp phần giúp doanh nghiệp đầu t mở rộng sản
xuất, kinh doanh ; đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm để
giành lợi thế trớc đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp ở nớc ta hầu hết là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ sử dụng lạc hậu, hầu hết các máy móc, thiết
Lớp Ngân Hàng K42B
21
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
bị đã lỗi thời . Do đó sản phẩm làm ra khó cạnh tranh. Do vậy nhu cầu mở rộng
sản xuất, kinh doanh và nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp ngày
càng trở lên cấp thiết. Với việc mở rộng cho vay các doanh nghiệp DNNQD thì
ngân hàng có thể hỗ trợ vốn giúp các doanh nghiệp từng bớc nâng cao khả năng
công nghệ thông qua vốn vay trung và dài hạn.
Thứ hai, Mở rộng cho vay khuyến khích các DNNQD sử dụng vốn hiệu quả hơn.
Hầu nh doanh nghiệp cũng sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng vì nó không những
giúp doanh nghiệp đủ vốn để sản xuất, kinh doanh mà còn làm giảm chi phí vốn.
Lãi tiền vay đợc tính là chi phí hợp lý nên khi tính thuế thu nhập do đó doanh
nghiệp sẽ đợc hởng một phần lợi từ thuế. Mặt khác, vay ngân hàng thì doanh
nghiệp không những phải trả gốc mà còn phải trả lãi tiền vay trong thời gian nhất
định. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải tính toán phơng án sản xuất, kinh
1.2.3.3.Đối với nền kinh tế.
Khi mà các DNNQD và ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì đơng nhiên lợi ích
kinh tế chung sẽ đợc nâng cao.
Ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ làm sôi động thị trờng tài chính, tiền tệ; tăng c-
ờng huy động vốn trong nền kinh tế; phát huy tốt vai trò dẫn vốn từ những ngời có
vốn đến những ngời cần vốn;
Khi các DNNQD hoạt động tốt thì vai trò tích cức của nó đợc thể hiện: Nâng cao
tính cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển;
Các doanh nghiệp sẽ đóng góp vào tốc độ phát triển chung của nền kinh tế cao
hơn; góp phần giải quyết việc làm, nâng cao khả năng của ngời lao động; góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần làm tăng ngân sách Nhà nớc thông qua
thuế và lệ phí...
1.3.Các nhân tố ảnh hởng tới mở rộng cho vay của ngân hàng với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh .
Quan hệ cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng là một quan hệ kinh tế
chịu chi phối, tác động của nhiều nhân tố . Có thể chia làm 2 loại nhân tố tác động
đến quan hệ này là các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan .
1.3.1. Các yếu tố khách quan .
Đây là các nhân tố vĩ mô có tác động rãi đến cả ngân hàng, cả khách hàng đợc, có
ảnh hởng lớn đến các quan hệ này. Cụ thể nh sau :
Lớp Ngân Hàng K42B
23
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Hữu Nam
1.3.1.1.Môi trờng kinh tế, chính trị , xã hội kinh tế, luật pháp.
Môi trờng kinh tế.
Một môi trờng kinh tế phát triển ổn định thể hiện ở:
- Tốc độ tăng trởng kinh tế cao và đều đặn.
- Có sự ổn định của các chỉ số căn bản: Chỉ số giá, chỉ số về thu nhập, lãi
suất, tỷ giá ...
- Sự hội nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế
Việt Nam đã tham gia thị trờng tự do thơng mại Asian (AFTA); diễn đàn kinh tế
Châu á Thái Bình Dơng (APEC); kí hiệp định thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ...
Và mục tiêu đến năm 2005 sẽ chính thức ra nhập tổ chức thơng mại thế giới
(WTO). Đó là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và ngân hàng nhất là các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ngân hàng tăng thêm khả năng huy động vốn và
cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời có cơ hội phát triển nhiều dịch vụ trong kinh
doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.
Môi trờng an ninh, chính trị, xã hội.
Một môi trờng mà chính trị, an ninh, xã hội ổn định thể hiện ở:
- Không có sự tranh giành quyền lực trái hiến pháp và pháp luật.
- An ninh quốc phòng đợc giữ vững.
- Pháp luật đợc mọi ngời tôn trọng.
- Những tệ nạn xã hội phải đợc đấu tranh và dần bài trừ, xoá bỏ...
Yếu tố này không thể tác rời yếu tố ổn định và phát triển kinh tế, không một quốc
gia nào mất ổn định về an ninh chính trị lại có thể có kinh tế phát triển. Nớc ta
hiện nay có thể nói là có chính trị ổn định, an ninh quốc phòng đợc giữ vững, đợc
thế giới đánh giá là có độ an toàn cao. Đó là hai điều kiện hết sức căn bản để phát
triển kinh tế đất nớc. Tuy nhiên, ở nớc ta, tệ nạn xã hội thực tế còn nhiều nhất là
nạn tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, sự hiểu biết pháp luật của ngời dân rất hạn
chế. Điều đó là một trở lực đáng ngại của con đờng phát triển kinh tế đất nớc nói
chung và mối quan hệ giữa ngân hàng và các DNNQD.
Môi trờng luật pháp.
Luật pháp đợc coi là môi trờng cho mọi hoạt động, pháp luật chặt chẽ và sự tôn
trọng pháp luật của các thành viên trong xã hội là những điều kiện cơ bản cho mọi
mối quan hệ diễn ra tốt đẹp. Luật pháp điều chỉnh mọi hành động do đó tác động
Lớp Ngân Hàng K42B
25